Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Tìm kiếm – cứu nạn trong khu vực tác chiến”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Trang mới: “nhỏ|Một trực thăng HH-60G Pave Hawk hạ cánh trong một cuộc huấn luyện cứu nạn chiến đấu – ngày 13 tháng 7 năm 2005 '''Combat search and rescue''' ('''CSAR''') hay tìm kiếm và cứu nạn trong khu vực tác chiến là các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ được tiến hành trong thời chiến, bên trong hoặc gần các khu vực giao tranh.<ref name="ArmyTec…”
Thẻ: Người dùng thiếu kinh nghiệm thêm nội dung lớn Soạn thảo trực quan
(Không có sự khác biệt)

Phiên bản lúc 18:20, ngày 6 tháng 4 năm 2026

Một trực thăng HH-60G Pave Hawk hạ cánh trong một cuộc huấn luyện cứu nạn chiến đấu – ngày 13 tháng 7 năm 2005

Combat search and rescue (CSAR) hay tìm kiếm và cứu nạn trong khu vực tác chiến là các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ được tiến hành trong thời chiến, bên trong hoặc gần các khu vực giao tranh.[1]

Một nhiệm vụ CSAR có thể được thực hiện bởi một lực lượng hỗn hợp gồm trực thăng, máy bay cường kích, máy bay tiếp dầu trên không và sở chỉ huy trên không.[2] Máy bay HC-130 của Không quân Hoa Kỳ (USAF), được đưa vào sử dụng từ năm 1965, đã đảm nhiệm hai vai trò sau trong số đó.[3]

Lịch sử

Richard Bell-Davies đã tiến hành nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn tác chiến đầu tiên bằng máy bay của mình trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Chiến tranh thế giới thứ nhất là bối cảnh hình thành các học thuyết ban đầu về tìm kiếm và cứu nạn tác chiến, đặc biệt là tại các chiến trường có tính cơ động cao ở Balkan và Trung Đông.

Trong giai đoạn đầu còn mang tính cơ động của cuộc chiến, Bộ phận xe bọc thép thuộc Không quân Hải quân Hoàng gia Anh (Royal Naval Air Service Armoured Car Section) đã được thành lập, sử dụng các xe du lịch được vũ trang và bọc giáp để tìm kiếm và giải cứu các phi công buộc phải hạ cánh khẩn cấp. Khi chiến tranh chiến hào khiến hoạt động này không còn khả thi, các phương tiện này được điều chuyển sang các chiến trường khác, đáng chú ý nhất là Trung Đông.

Năm 1915, trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chỉ huy phi đội Richard Bell-Davies thuộc Không quân Hải quân Hoàng gia Anh đã thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn tác chiến bằng máy bay đầu tiên trong lịch sử. Ông sử dụng chiếc máy bay một chỗ ngồi của mình để giải cứu người bay cùng biên đội (wingman) đã bị bắn rơi tại Bulgaria. Trích dẫn trong huân chương Victoria Cross của ông nêu rõ:

“Chỉ huy phi đội Davies đã hạ xuống ở một khoảng cách an toàn so với chiếc máy bay đang bốc cháy, đón Trung úy Smylie lên, bất chấp sự tiếp cận gần của một toán quân địch, rồi quay trở lại sân bay — một kỳ tích hàng không hiếm khi có thể sánh kịp về kỹ năng và lòng dũng cảm.”[4]

Cũng như các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn về sau, hành động của Davies xuất phát từ quyết tâm mạnh mẽ nhằm ngăn một đồng đội rơi vào tay đối phương hoặc thiệt mạng. [cần dẫn nguồn]

Trong chiến dịch Mesopotamia, lực lượng Anh và các nước Khối Thịnh vượng chung bắt đầu áp dụng các chiến thuật tương tự trên quy mô lớn hơn. Các phi công bị bắn rơi trong khu vực lãnh thổ thù địch của người Bedouin thường được các toán tìm kiếm trên không phát hiện và giải cứu.[5]

Các quốc gia khác cũng góp phần vào sự phát triển của CSAR hiện đại. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Không quân Đức (Luftwaffe), thông qua tổ chức Seenotdienst, đã vận hành các máy bay cứu hộ trên không – trên biển được vũ trang và ngụy trang.[6]

Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nữ bác sĩ, phi công và lính dù người Pháp Valérie André đã đi tiên phong trong việc phát triển các chiến thuật MEDEVAC (tản thương đường không), tiền thân của CSAR ngày nay, bằng cách điều khiển trực thăng bay vào các khu vực giao tranh để đưa – và đôi khi trực tiếp điều trị – các binh sĩ bị thương.

Vào tháng 8 năm 1943, tại khu vực Naga (Miến Điện), một bác sĩ phẫu thuật không quân thuộc một liên đoàn bay của Hoa Kỳ, Trung tá Don Flickinger, cùng hai kỹ thuật viên phẫu thuật chiến trường là Trung sĩ Richard S. Passey và Hạ sĩ William G. MacKenzie, đã nhảy dù từ các máy bay tìm kiếm xuống để hỗ trợ và chăm sóc những người bị thương.[7] Đồng thời, một đội mặt đất cũng được cử đến vị trí của họ, và cả hai nhóm gồm tổng cộng hai mươi người đã cùng nhau hành quân đến nơi an toàn.

Mặc dù các nhiệm vụ giải cứu bằng nhảy dù chưa được chính thức cho phép vào thời điểm đó, sự kiện này được lực lượng Pararescue (PJs) coi là sự ra đời của lực lượng cứu hộ đường không thuộc Không quân Hoa Kỳ. Nhà báo Eric Sevareid đã nói về những người cứu mình rằng: “Dũng cảm là một từ quý giá — và họ xứng đáng với điều đó.” Chỉ vài tháng sau, Đại úy Porter đã thiệt mạng trong một nhiệm vụ cứu hộ khi chiếc B-25 của ông bị bắn hạ.

Sikorsky HH-53B được tiếp nhiên liệu trong Chiến tranh Việt Nam.

Trong Chiến tranh Việt Nam, chiến dịch giải cứu tốn kém mang mật danh Bat 21 đã khiến quân đội Hoa Kỳ phải tìm kiếm một cách tiếp cận mới đối với hoạt động tìm kiếm và cứu nạn trong môi trường đe dọa cao. Họ nhận ra rằng nếu một nhiệm vụ SAR gần như chắc chắn thất bại thì không nên tiến hành, thay vào đó cần cân nhắc các phương án khác như tác chiến đặc biệt, nghi binh, và những cách tiếp cận sáng tạo khác phù hợp với từng tình huống cụ thể.

Nhận thức được nhu cầu về một loại máy bay có khả năng yểm trợ hỏa lực tầm gần hiệu quả hơn, Không quân Hoa Kỳ đã đưa vào sử dụng A-7 Corsair II — vốn là máy bay cường kích hạng nhẹ triển khai trên tàu sân bay của Hải quân — nhằm thay thế A-1 Skyraider, một loại máy bay ném bom – cường kích trên hạm trước đó cũng có nguồn gốc từ Hải quân.

Từ kinh nghiệm CSAR tại Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ cũng đã cải thiện đáng kể khả năng tác chiến ban đêm của trực thăng và phát triển các loại đạn dược phong tỏa khu vực (area denial munitions).[8]:36

Trong Chiến tranh Việt Nam, lực lượng SAR của Hoa Kỳ đã cứu sống 3.883 người, với tổn thất là 71 nhân viên cứu hộ45 máy bay.[8]:46

Các nhiệm vụ tiêu biểu

Chiến tranh thế giới thứ nhất

Ngày 21 tháng 4 năm 1917, Đại úy Richard Williams thuộc Quân đoàn Không quân Úc đã hạ cánh phía sau phòng tuyến đối phương để giải cứu một đồng đội bị bắn rơi trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.[9][10]

Chiến tranh Việt Nam

Năm 1972, Trung tá Iceal Hambleton, hoa tiêu/ sĩ quan tác chiến điện tử của Không quân Hoa Kỳ, với nền tảng chuyên môn về công nghệ tên lửa đạn đạo và biện pháp đối phó tên lửa, là người sống sót duy nhất khi chiếc EB-66 của ông bị bắn rơi trong Chiến dịch Xuân – Hè (Easter Offensive). Ông đã tránh bị lực lượng Bắc Việt bắt giữ cho đến khi được giải cứu sau 11 ngày rưỡi.

Trong quá trình giải cứu, 5 máy bay quân sự Hoa Kỳ tham gia yểm trợ CSAR đã bị bắn rơi, 11 quân nhân thiệt mạng2 người bị bắt. Chiến dịch này được coi là hoạt động tìm kiếm và cứu nạn lớn nhất, kéo dài nhất và phức tạp nhất trong toàn bộ Chiến tranh Việt Nam.[11] Sự kiện này đã trở thành đề tài của hai cuốn sách và bộ phim Bat*21 (được hư cấu hóa ở mức độ đáng kể). [12]

Ngày 3 tháng 4 năm 2026, một chiếc F-15E của Không quân Hoa Kỳ bị lực lượng Iran bắn hạ. Cả hai phi công đã phóng ghế thoát hiểm trong lãnh thổ Iran, dẫn đến việc triển khai một chiến dịch tìm kiếm quy mô lớn, với sự tham gia của C-130, UH-60 Black HawkAH-64 Apache.

Một phi công được tìm thấy chỉ sau vài giờ, trong khi phải mất khoảng hai ngày mới xác định được vị trí của sĩ quan điều khiển hệ thống vũ khí (WSO). Hàng trăm binh sĩ thuộc lực lượng tác chiến đặc biệt Hoa Kỳ đã tham gia chiến dịch. Một đường băng dã chiến tạm thời cũng được xây dựng bên trong lãnh thổ Iran để hỗ trợ hoạt động CSAR.

Tại đường băng này, hai máy bay C-130hai trực thăng MH-6 đã bị chính lực lượng Hoa Kỳ phá hủy nhằm ngăn chặn việc chúng rơi vào tay quân đội Iran. Không có thương vong nào đối với lực lượng Hoa Kỳ trong quá trình giải cứu.[13][14][15][16]

Khác

Các nhân viên cứu hộ đường không (Pararescue – PJs) trở về cùng phi công bị bắn rơi sau khi hoàn thành thành công một nhiệm vụ CSAR tại miền nam Iraq, năm 2003.

Phi đội Chiến thuật Đặc biệt số 24 (24th Special Tactics Squadron) của Không quân Hoa Kỳ (USAF) đã tham gia Trận Mogadishu năm 1993.[17] Nhân viên cứu hộ đường không (Pararescueman – PJ) Timothy Wilkinson đã được trao tặng Huân chương Không quân (Air Force Cross) vì những hành động anh dũng trong trận chiến này.[18]

Các nhân viên cứu hộ đường không (Pararescue (PJs)) của Không quân Hoa Kỳ đã được trao 1 Huân chương Danh dự (Medal of Honor)12 Huân chương Không quân (Air Force Cross) kể từ thời kỳ xung đột tại Đông Nam Á.

Trong những giờ đầu của Chiến dịch Bão táp Sa mạc (Operation Desert Storm), một tổ bay MH-53 Pave Low thuộc Phi đội Tác chiến Đặc biệt số 20 đã giải cứu một phi công F-14 Tomcat bị bắn rơi trên lãnh thổ Iraq.[19]

Ngày 2 tháng 6 năm 1995, một chiếc F-16C của Không quân Hoa Kỳ bị tên lửa phòng không SA-6 của lực lượng Quân đội Cộng hòa Srpska (Bosnia Serb) bắn hạ gần Mrkonjić Grad, Bosnia và Herzegovina. Phi công Mỹ Scott O'Grady đã thoát ly an toàn bằng ghế phóng và được giải cứu sau 6 ngày.[20]

Năm 1999, lực lượng Pararescue của Không quân Hoa Kỳ, phối hợp với các máy bay thu hồi thuộc lực lượng tác chiến đặc biệt không quân, đã giải cứu thành công phi công của máy bay cường kích tàng hình F-117 (xem sự kiện F-117A bị bắn hạ năm 1999) và phi công (David L. Goldfein) của một chiếc F-16. Cả hai máy bay đều bị bắn hạ trên bầu trời Nam Tư trong một chiến dịch do NATO chỉ huy.[21]

Tham khảo

  1. ^ SPG Media Limited/Army-Technology.com (2009). "Term: Combat Search and Rescue". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009.
  2. ^ Combat Aircraft (European Edition) (magazine), Ian Allan Publishing, September 2003, page 28
  3. ^ Combat Aircraft (European Edition) (magazine), Ian Allan Publishing, September 2003, page 29
  4. ^ "No. 29423". The London Gazette (Supplement). ngày 1 tháng 1 năm 1916. tr. 86.
  5. ^ Leave No Man Behind: The Saga of Combat Search and Rescue. tr. 5–6.
  6. ^ Feltus, Pamela. History and the Headlines. "Air-Sea Rescue." ABC-CLIO, 2008. Retrieved: 23 April 2011.
  7. ^ Sevareid, Eric (ngày 28 tháng 8 năm 1943). "Burmese Headhunters Saved Lives of Stranded Fliers". St. Petersburg Times. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  8. ^ a b Busboom, Lt. Col. Stanley (ngày 2 tháng 4 năm 1990). Bat 21: A Case Study (PDF). Carlisle Barracks, Pennsylvania: U.S. Army War College. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  9. ^ Cutlack, The Australian Flying Corps, p.63
  10. ^ "No. 30234". The London Gazette (Supplement). ngày 14 tháng 8 năm 1917. tr. 8353.
  11. ^ Zimmerman, Dwight Jon; Gresham, John (ngày 14 tháng 10 năm 2008). Beyond Hell and Back: How America's Special Operations Forces Became the World's Greatest Fighting Unit. St. Martin's Griffin. tr. 320. ISBN 978-0-312-38467-8.
  12. ^ Darrel D. Whitcomb, The Rescue of Bat 21 (Naval Institute Press, 1998)
  13. ^ Jaffe, Eric SchmittHelene CooperGreg; Schmitt, Julian E. BarnesEric; Cooper, Helene; Washington, Greg Jaffe cover the Pentagon Julian E. Barnes covers national security They all reported from (ngày 5 tháng 4 năm 2026). "U.S. Rescues Downed Air Force Officer Deep Inside Iran, Trump Says". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
  14. ^ "US pilot rescued after fighter jet downed over Iran, US media report". www.bbc.com (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
  15. ^ "Second airman in F-15E that was shot down over Iran rescued safely, U.S. officials say". NBC News (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
  16. ^ Rogoway, Tyler (ngày 5 tháng 4 năm 2026). "Night Stalker AH-6 Little Bird Helicopters Destroyed At Forward Landing Site In Iran". The War Zone (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2026.
  17. ^ Pike, John (ngày 10 tháng 4 năm 2026). "24th Special Tactics Squadron 24th STS". Global Security. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011.
  18. ^ "The Air Force Cross For Actions in Somalia in 1993". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012.
  19. ^ "Hawg Driver Coordinates Desert Storm Rescue Mission! - Fighter Sweep". ngày 1 tháng 2 năm 2016.
  20. ^ "One Amazing Kid - Capt. Scott O' Grady escapes from Bosnia-Herzegovina". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2011.
  21. ^ Valdet (ngày 17 tháng 2 năm 2020). "U.S. F-117 Stealth Fighter Is Downed in Yugoslavia".
  • Leave No Man Behind: The Saga of Combat Search and Rescue. George Galdorisi, Thomas Phillips. MBI Publishing Company, 2009. ISBN 978-0-7603-2392-2.

Liên kết ngoài