Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc”
Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5 | Không có tóm lược sửa đổi Thẻ: Đã bị lùi lại Thêm liên kết dưới Liên kết ngoài hoặc Tham khảo Sửa ngày tháng năm | ||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
{{pp-vandalism|small=yes}} | |||
{{Chú thích trong bài|date=tháng 5/2021}} | |||
'''Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc''' là một nền kinh tế thuộc địa phát triển rất nhanh dưới sự bảo hộ của [[Pháp]]. [[Việt Nam]] có [[tài nguyên thiên nhiên]] phong phú, nguồn [[lương thực]] dồi dào nên [[Pháp]] coi [[Việt Nam]] là mảnh đất thuộc địa màu mỡ ở [[châu Á]]. Thời [[Pháp thuộc]] đã thúc đẩy mọi ngành kinh tế ở Việt Nam phát triển. Người Pháp khai hoang khiến nông nghiệp phát triển vượt bậc đồng thời họ cũng đem đến trình độ và phương thức sản xuất mới trong công nghiệp và dịch vụ. Các ngành tiểu thủ công nghiệp bản địa đang trên đà suy thoái cũng được Pháp hỗ trợ phát triển. Người Pháp xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam gồm đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay, các đô thị lớn mà đến ngày nay nền kinh tế Việt Nam vẫn đang vận hành dựa vào hệ thống này. | '''Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc''' là một nền kinh tế thuộc địa phát triển rất nhanh dưới sự bảo hộ của [[Pháp]]. [[Việt Nam]] có [[tài nguyên thiên nhiên]] phong phú, nguồn [[lương thực]] dồi dào nên [[Pháp]] coi [[Việt Nam]] là mảnh đất thuộc địa màu mỡ ở [[châu Á]]. Thời [[Pháp thuộc]] đã thúc đẩy mọi ngành kinh tế ở Việt Nam phát triển. Người Pháp khai hoang khiến nông nghiệp phát triển vượt bậc đồng thời họ cũng đem đến trình độ và phương thức sản xuất mới trong công nghiệp và dịch vụ. Các ngành tiểu thủ công nghiệp bản địa đang trên đà suy thoái cũng được Pháp hỗ trợ phát triển. Người Pháp xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam gồm đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay, các đô thị lớn mà đến ngày nay nền kinh tế Việt Nam vẫn đang vận hành dựa vào hệ thống này. | ||
== | ==Tổng quan== | ||
=== Thời kì 1858–1885 === | |||
Đây là thời kỳ Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, trước khi Pháp chiếm được Nam Kỳ tăng trưởng ở Việt Nam chỉ ở mức 2,5% đến 3%, sau khi [[Pháp]] chiếm được [[Nam Kỳ Lục tỉnh|Lục tỉnh Nam Kỳ]], tăng trưởng của Nam Kỳ lúc này đã lên tới 6%. Tiếp đến việc chiếm nốt [[Bắc Kỳ]] và [[Trung Kỳ]], tăng trưởng của Việt Nam đã lên khoảng 6% đều đặn cho đến khi Lào và Chân Lạp bị Pháp thôn tính, lúc này kinh tế Việt Nam lên mức trên 8%. | |||
=== Thời kì 1885–1900 === | |||
Trong thời kỳ [[1885]]–[[1900]], kinh tế Việt Nam phát triển ở mức 7%/năm, khá cao so với các nước thuộc địa khác ở [[Đông Nam Á]]. Người Pháp bắt đầu khai hoang ở quy mô lớn tại Nam Kỳ bằng cách đào kênh nhằm tiêu úng, rửa phèn, cung cấp nước cho nông nghiệp. Việc đào kinh gia tăng từ năm 1880<ref>Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam - Phần II - Chương 2, Sơn Nam, Nxb Trẻ, 2014</ref>: | Trong thời kỳ [[1885]]–[[1900]], kinh tế Việt Nam phát triển ở mức 7%/năm, khá cao so với các nước thuộc địa khác ở [[Đông Nam Á]]. Người Pháp bắt đầu khai hoang ở quy mô lớn tại Nam Kỳ bằng cách đào kênh nhằm tiêu úng, rửa phèn, cung cấp nước cho nông nghiệp. Việc đào kinh gia tăng từ năm 1880<ref>Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam - Phần II - Chương 2, Sơn Nam, Nxb Trẻ, 2014</ref>: | ||
| Dòng 13: | Dòng 7: | ||
* Năm 1890—1900 đào 8.106.000 mét khối. Năm 1900, diện tích ruộng là 1.212.000 mẫu, tăng 280.000 mẫu so với năm 1890. | * Năm 1890—1900 đào 8.106.000 mét khối. Năm 1900, diện tích ruộng là 1.212.000 mẫu, tăng 280.000 mẫu so với năm 1890. | ||
Trong giai đoạn 1900 - 1920, Pháp đầu tư mạnh vào xây dựng cơ sở hạ tầng cùng các ngành công nghiệp như khai thác khoáng sản, cơ khí, chế biến nông sản... Các khu công nghiệp tập trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Hòn Gai xuất hiện làm cho số công nhân tăng nhanh... Tổng số công nhân Việt Nam tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ I có khoảng 100.000 người.<ref>http://congdoanquangnam.org.vn/Default.aspx?tabid=656&Group=11&NID=55&tom-tat-qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-giai-cap-cong-nhan-va-to-chuc-cong-doan-viet-nam-phan-1&language=en-US</ref> | |||
=== Thời kì 1900–1920 === | |||
Trong thời kỳ này Pháp đầu tư mạnh vào xây dựng cơ sở hạ tầng cùng các ngành công nghiệp như khai thác khoáng sản, cơ khí, chế biến nông sản... | |||
Trong giai đoạn 1920–1940, trước áp lực khủng hoảng kinh tế thế giới vào [[thập niên 1930]], kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, trong đó người bị tác động lớn nhất là người Việt. Tăng trưởng kinh tế lúc này giảm xuống từ 7,3% vào năm 1930 xuống còn 3,9% vào năm 1935. Sau đó Thế chiến thứ hai bùng nổ, Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng còn ở Đông Dương kinh tế suy thoái mạnh cho tới khi Nhật Bản tham chiến xâm lược và thành lập các chính quyền thân Nhật ở Đông Nam Á gây ra những biến động lớn về kinh tế tại các thuộc địa thời bấy giờ. | |||
=== Thời kì 1920–1945 === | |||
Giai đoạn 1940–1945, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam. Đầu tiên là những biện pháp [[quân sự hóa kinh tế]] nhằm phục vụ nhu cầu [[chiến tranh]] của chế độ [[chủ nghĩa thực dân|thực dân]] [[Pháp]] tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó [[Nhật Bản]] dùng vũ lực loại bỏ [[Pháp]] chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác còn khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt [[nông dân]] nhổ [[lúa]] trồng [[đay]], buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật). | |||
===== Giai đoạn 1920–1940 ===== | |||
Trước áp lực khủng hoảng kinh tế thế giới vào [[thập niên 1930]], kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, trong đó người bị tác động lớn nhất là người Việt. Tăng trưởng kinh tế lúc này giảm xuống từ 7,3% vào năm 1930 xuống còn 3,9% vào năm 1935. Sau đó Thế chiến thứ hai bùng nổ, Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng còn ở Đông Dương kinh tế suy thoái mạnh cho tới khi Nhật Bản tham chiến xâm lược và thành lập các chính quyền thân Nhật ở Đông Nam Á gây ra những biến động lớn về kinh tế tại các thuộc địa thời bấy giờ. | |||
Sự kiện nổi bật nhất trong giai đoạn này là [[Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945]]. Các [[cường quốc]] đang chiếm đóng Việt Nam như [[Pháp]], [[Nhật Bản]] vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào [[nông nghiệp]] vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt [[kinh tế]] của [[người Việt]]. Trong khi Nhật thu gom [[gạo]] để chở về nước thì Pháp dự trữ [[lương thực]] phòng khi quân [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng minh]] chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái [[xâm lược]] Việt Nam.<ref name="nandoi">[http://laodong.com.vn/xa-hoi/70-nam-nan-doi-lich-su-nam-at-dau-hon-2-trieu-nguoi-chet-chi-trong-nua-nam-287596.bld 70 năm nạn đói lịch sử năm Ất Dậu: Hơn 2 triệu người chết chỉ trong nửa năm], Báo Lao động, 12/01/2015</ref> [[Thời tiết]] là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại [[miền Bắc Việt Nam|miền Bắc]]. [[Thiên tai]], [[Lụt|lũ lụt]], [[sâu bệnh]] gây mất mùa tại miền Bắc. | |||
===== Giai đoạn 1940–1945 ===== | |||
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam. Đầu tiên là những biện pháp [[quân sự hóa kinh tế]] nhằm phục vụ nhu cầu [[chiến tranh]] của chế độ [[chủ nghĩa thực dân|thực dân]] [[Pháp]] tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó [[Nhật Bản]] dùng vũ lực loại bỏ [[Pháp]] chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác còn khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt [[nông dân]] nhổ [[lúa]] trồng [[đay]], buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật). | |||
Sau năm 1945, kinh tế không còn phát triển mạnh như trước, bởi lẽ chiến tranh Đông Dương nổ ra khắp Việt Nam. Tăng trưởng giảm mạnh từ 4% trung bình mỗi năm còn 1,7% và kéo dài cho đến khi Pháp rút khỏi Đông Dương sau khi đã bàn giao toàn bộ bộ máy hành chính và quân đội lại cho [[Quốc gia Việt Nam]]. Kinh tế Việt Nam dần ổn định trở lại và đạt tới mức 6% trong năm 1954–1955. | |||
Sự kiện nổi bật nhất trong giai đoạn này là [[Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945]]. Các [[cường quốc]] đang chiếm đóng Việt Nam như [[Pháp]], [[Nhật Bản]] vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào [[nông nghiệp]] vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt [[kinh tế]] của [[người Việt]]. Trong khi Nhật thu gom [[gạo]] để chở về nước thì Pháp dự trữ [[lương thực]] phòng khi quân [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng minh]] chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái [[xâm lược]] Việt Nam.<ref name="nandoi">[http://laodong.com.vn/xa-hoi/70-nam-nan-doi-lich-su-nam-at-dau-hon-2-trieu-nguoi-chet-chi-trong-nua-nam-287596.bld 70 năm nạn đói lịch sử năm Ất Dậu: Hơn 2 triệu người chết chỉ trong nửa năm] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20150112200431/http://laodong.com.vn/xa-hoi/70-nam-nan-doi-lich-su-nam-at-dau-hon-2-trieu-nguoi-chet-chi-trong-nua-nam-287596.bld |date=2015-01-12 }}, Báo Lao động, 12/01/2015</ref> | |||
[[Thời tiết]] là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại [[miền Bắc Việt Nam|miền Bắc]]. [[Thiên tai]], [[Lụt|lũ lụt]], [[sâu bệnh]] gây mất mùa tại miền Bắc. Bệnh [[dịch tả]] lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ cũng góp phần làm tăng thêm số người chết trong nạn đói.{{fact}} | |||
=== Thời kì 1945–1954 === | |||
Đây là thời kỳ kinh tế không còn phát triển mạnh như trước, bởi lẽ chiến tranh Đông Dương nổ ra khắp Việt Nam. Tăng trưởng giảm mạnh từ 4% trung bình mỗi năm còn 1,7% và kéo dài cho đến khi Pháp rút khỏi Đông Dương sau khi đã bàn giao toàn bộ bộ máy hành chính và quân đội lại cho [[Quốc gia Việt Nam]]. Kinh tế Việt Nam dần ổn định trở lại và đạt tới mức 6% trong năm 1954–1955. | |||
==Cơ cấu kinh tế== | ==Cơ cấu kinh tế== | ||
====Nông nghiệp==== | ====Nông nghiệp==== | ||
Dưới thời Pháp thuộc, phương thức canh tác nông nghiệp không thay đổi trong hàng ngàn năm, quan hệ sản xuất tại nông thôn vẫn là quan hệ địa chủ - tá điền. Ngoài ra còn có thêm việc chiếm hữu diện tích lớn đất đai của [[thực dân Pháp]] và giáo hội [[Thiên Chúa giáo]]. Ở Bắc Kì, tính đến năm 1902, người Pháp đã chiếm hữu 182.000 héc ta đất trong đó có 50.000 héc ta ở các vùng trù phú nhất.<ref name="sgkdxl">[https://drive.google.com/file/d/0B1GYm-C3pkHWVnhrQm0wQ2dCS0k/view?pli=1 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM, TẬP 2], trang 121, Đinh Xuân Lâm chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2000.</ref> Sau khi chiếm đất, thực dân Pháp chủ yếu vẫn áp dụng phương pháp phát canh thu tô. Một số tư bản thực dân có kinh doanh trong những sở đồn điền mới theo lối tư bản chủ nghĩa, nhưng số này ít, chủ yếu là nhằm tận dụng nhân công rẻ mạt. Ngoài địa chủ Pháp, giáo hội Thiên Chúa chỉ riêng ở [[Nam Kỳ]] đã sở hữu 1/4 diện tích đất canh tác.<ref name="sgkdxl"/> Theo thống kê phân bố ruộng đất ở miền Bắc trước năm 1945, chỉ có 4% dân số đã chiếm hữu tới 24,5% tổng số ruộng đất.<ref name="sgkdxl"/> Còn lại phần lớn nông dân nghèo thì không có hoặc chỉ có rất ít đất canh tác. Những quan chức người Việt cộng tác với thực dân Pháp chiếm hữu được nhiều ruộng đất nhất. [[Tứ đại phú hộ]] ở Nam Kỳ thời đó đều là quan chức người Việt cộng tác với thực dân Pháp, họ được thực dân Pháp ưu tiên cấp cho những khu đất rộng và tốt nhất, lại được biết những thông tin về việc đào kênh mương nên biết rõ mua đất ở đâu là thuận lợi nhất. Thực dân Pháp thu được 235 triệu Franc (trong lúc tiền đầu tư chỉ 54 triệu Franc) tiền bán đất cho các điền chủ người Pháp và người Việt, trong đó giới điền chủ lớn đã chiếm 1.035.000 ha (riêng quan hội đồng Trần Trinh Trạch - cha [[công tử Bạc Liêu]] chiếm 145.000 ha), trong đó điền chủ người Pháp chiếm 308.000 ha ruộng tốt, gần sông rạch, điền chủ nhỏ từ 10-50 ha chiếm 620.000 ha, quan xã, thôn ấp chiếm 230.000 ha. Còn lại hơn 4 triệu nhân khẩu nông dân chỉ chia nhau hơn 500.000 ha<ref name="nong" />. Đầu năm 1945, nông dân chiếm 95% dân số Việt Nam nhưng làm chủ không quá 30% diện tích ruộng đất. Riêng tầng lớp nông dân nghèo (không có hoặc chỉ có rất ít ruộng đất) chiếm 60% dân số nông thôn, nhưng chỉ có khoảng 10% ruộng đất. Còn giai cấp địa chủ chiếm không tới 5% dân số nhưng chiếm hữu 70% ruộng đất.<ref>[http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/20211/1/5.pdf NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ QUAN HỆ ĐỊA CHỦ - TÁ ĐIỀN Ở NAM BỘ THỜI KỲ CẬN ĐẠI], Lâm Quang Huyên, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần thứ 3.</ref> | |||
Ở Nam Kỳ, người Pháp sớm nhận thấy tiềm năng thu lợi nhuận từ nông nghiệp của vùng này<ref name=nong>Hào hùng thủy lợi Việt Nam: Thời Pháp thuộc, báo Nông nghiệp Việt Nam, 11/11/2014</ref>. Tại đây, tính đến năm 1936, Pháp đã đào được 1360 km kênh chính, 2500 km kênh phụ với kinh phí lên đến 58 triệu Franc. Hệ thống kênh đào được thực hiện trong khoảng 80 năm ở Nam Kỳ đã làm thay đổi hẳn diện mạo nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long khiến diện tích đất canh tác được mở rộng, sản lượng lúa mỗi ngày một tăng, hình thành nên thị trường hàng hóa nông nghiệp. Giao thông vận tải cũng phát huy hiệu quả qua hệ thống đường thủy.<ref>Nguyễn Thanh Lợi. Tạp chí Xưa &Nay, số 286, số 6, 2007</ref> Trong nửa thế kỷ (1880-1937), diện tích trồng lúa tăng lên 420% (1880: 522.000 mẫu; 1937: 2,2 triệu mẫu), số lúa xuất cảng tăng lên 545% (1880: 284.000 tấn; 1937: 1,5 triệu tấn), số dân tăng 260% (1880: 1,7 triệu, 1937: 4,5 triệu)<ref>Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 181, Saigon: Lửa Thiêng, 1970</ref> | |||
[[Tập tin:Peasant in Vietnam.jpg|thumb|Nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc]] | |||
Đầu năm 1945, nông dân chiếm 95% dân số Việt Nam nhưng làm chủ không quá 30% diện tích ruộng đất. Riêng tầng lớp nông dân nghèo (không có hoặc chỉ có rất ít ruộng đất) chiếm 60% dân số nông thôn, nhưng chỉ có khoảng 10% ruộng đất. Còn giai cấp địa chủ chiếm không tới 5% dân số nhưng chiếm hữu 70% ruộng đất.<ref>[http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/20211/1/5.pdf NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ QUAN HỆ ĐỊA CHỦ - TÁ ĐIỀN Ở NAM BỘ THỜI KỲ CẬN ĐẠI], Lâm Quang Huyên, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần thứ 3.</ref> | |||
Ngay từ cuối những năm 1920, [[Nguyễn Ái Quốc]] đã mô tả nông dân Việt Nam như sau: '' | Cơ cấu giai cấp nông dân vận động theo hướng bần nông, cố nông ngày càng khốn khó; trung nông ổn định tương đối; địa chủ thì mở rộng sự chiếm hữu. Cuộc sống của nông dân Việt Nam phụ thuộc vào ruộng vườn, nhưng do việc địa chủ chiếm hữu ngày càng nhiều ruộng đất, diện tích đất canh tác bình quân ngày càng giảm, đến năm 1945 chỉ còn mức 0,18 ha (Thanh Hoá), 0,17 ha (Hà Tĩnh), 0,12 ha (Nghệ An); sản lượng lúa tính theo đầu người cũng giảm theo, trung bình chỉ còn 1,2 tạ/người/năm. Nông dân bị bần cùng hoá nhanh hơn bởi vì sự chuyển biến của nông nghiệp không theo kịp đà tăng dân số, phân chia ruộng đất bất bình đẳng. Diện tích gieo trồng tính theo đầu người ở bắc trung kỳ đã giảm 5 lần tính từ thời vua [[Tự Đức]] đến năm 1945 (ở mức 1 mẫu/người xuống mức 2 sào/người). Sản lượng lúa theo đầu người giảm một nửa tính từ những năm đầu thế kỷ 20 đến năm 1945 (ở mức 3,2 tạ/người/năm xuống 1,7 tạ/người/năm ở Thanh Hoá; 1,6 tạ/người/năm xuống 0,8 tạ/người/năm ở Nghệ An).<ref>[http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=27b08268-8cda-4da6-85f8-201ddf8651d3&groupId=13025 CHUYỂN BIẾN CỦA NÔNG NGHIỆP VÀ XÃ HỘI NÔNG THÔN BẮC TRUNG KỲ THỜI THUỘC PHÁP], Trần Vũ Tài, Khoa Lịch sử - Đại học Vinh</ref> Tại Nam Kỳ, đất đai phì nhiêu nhưng nông dân chỉ vừa đủ ăn. Trung bình điền chủ thâu 80% số lúa thu hoạch được. Trung bình đất tốt được 1600kg lúa mỗi mẫu, đất xấu khoảng 1000kg. Mỗi người tiêu thụ khoảng 200kg, không kể để làm rượu, chăn nuôi, thì tá điền chỉ còn đủ lúa để mua sắm ăn chơi trong mấy ngày Tết rồi ra giêng thì bắt đầu vay nợ mới. Ngay từ cuối những năm 1920, [[Nguyễn Ái Quốc]] đã mô tả nông dân Việt Nam như sau: ''“Ruộng bị Tây chiếm hết, không đủ mà cày. Gạo bị nó chở hết, không đủ mà ăn. Làm nhiều, được ít, thuế nặng... Đến nỗi chết đói, hoặc bán vợ đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ như những người nó chở đi Tân thế giới...”'' <ref>Phạm Xuân Nam, Chính sách xã hội trong Cách mạng tháng 8 năm 1945 và trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 11(96) - 2015 [http://www.vjol.info/index.php/khxhvn/article/viewFile/22706/19410 download]</ref>. Miền Bắc Việt Nam thường rơi vào tình trạng đói kém khi mất mùa hoặc gặp thiên tai, lũ lụt. Trong [[nạn đói năm Ất Dậu]] làm 2 triệu người chết, tỷ lệ chết đói cao nhất là những nông dân không có đất canh tác. | ||
Ở Nam Kỳ, người Pháp sớm nhận thấy tiềm năng thu lợi nhuận từ nông nghiệp của vùng này<ref name=nong1>Hào hùng thủy lợi Việt Nam: Thời Pháp thuộc, báo Nông nghiệp Việt Nam, 11/11/2014</ref>. Tại đây, tính đến năm 1936, Pháp đã đào được 1360 km kênh chính, 2500 km kênh phụ với kinh phí lên đến 58 triệu Franc. Hệ thống kênh đào được thực hiện trong khoảng 80 năm ở Nam Kỳ đã làm thay đổi hẳn diện mạo nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long khiến diện tích đất canh tác được mở rộng, sản lượng lúa mỗi ngày một tăng, hình thành nên thị trường hàng hóa nông nghiệp. Giao thông vận tải cũng phát huy hiệu quả qua hệ thống đường thủy.<ref>Nguyễn Thanh Lợi. Tạp chí Xưa &Nay, số 286, số 6, 2007</ref> Trong nửa thế kỷ (1880-1937), diện tích trồng lúa tăng lên 420% (1880: 522.000 mẫu; 1937: 2,2 triệu mẫu), số lúa xuất cảng tăng lên 545% (1880: 284.000 tấn; 1937: 1,5 triệu tấn), số dân tăng 260% (1880: 1,7 triệu, 1937: 4,5 triệu)<ref>Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 181, Saigon: Lửa Thiêng, 1970</ref>[[Tập tin:Peasant in Vietnam.jpg|thumb|Nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc]] | |||
Pháp giành độc quyền buôn bán 3 mặt hàng quan trọng nhất là [[gạo]], [[muối]] và [[rượu]]. [[Hồ Chí Minh]] đã nhận xét: ''"Nói đến các món độc quyền, người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo mập bị trói chặt và đương hấp hối dưới những cái mỏ quặp của một bầy [[diều hâu]] rỉa rói mãi không thấy no"''. | |||
Ở Bắc bộ thì tình hình lại xấu hơn nhiều. Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc (1884-1945), người Pháp vẫn không thể trị thủy sông Hồng. Do các lần vỡ đê vào các năm 1893, 1899, 1904, 1905, 1911, 1913 và khủng khiếp nhất là năm 1915, khiến cho Bắc bộ điêu tàn. Năm 1915, 4 tỉnh hữu ngạn sông Hồng (Hà Nội, Hà Đông, Ninh Bình, Nam Định) bị lụt suốt 3 tháng, diện tích lúa mất trắng lên tới 221.000 ha, 200 người bị chết đuối. Năm 1926 vỡ đê sông Hồng, sông Luộc, sông Tiên Lãng, trong lúc mực nước mới đạt 11,92 m. Giai đoạn 1927-1944 đê sông Hồng không vỡ, nhưng năm 1936 vỡ đê sông Đuống do nguyên nhân chủ quan. Năm 1941, 1942 đập Đáy tiếp tục được thử với lũ nhỏ nhưng lần nào cũng xảy ra sự cố. Việc phân lũ qua sông Đáy bị quên lãng cho đến cách mạng tháng Tám<ref name=nong>[https://nongnghiep.vn/hao-hung-thuy-loi-viet-nam-thoi-phap-thuoc-post134373.html Hào hùng thủy lợi Việt Nam: Thời Pháp thuộc], báo Nông nghiệp Việt Nam, 11/11/2014</ref>. Sau Cách mạng tháng 8, ngày 11/10/1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam họp phiên toàn thể về tu bổ đê, quyết dốc ngân khố kêu gọi nhân dân góp tiền của và công sức sửa sang đê. Nhưng quân Pháp quay lại tấn công, Mật lệnh 48/ZN ngày 11/1/1952 của Vullemey, chỉ huy quân viễn chinh Pháp lệnh ''“Phải phá một cách có hệ thống các đập nước và tất cả các phương tiện tưới ruộng”''. Cho đến năm 1954, hệ thống thủy nông toàn miền Bắc hầu như bị phá hủy, làm cho nạn lụt lội, hạn hán các năm 1952, 1953, 1954 rất trầm trọng, diện tích tưới từ 227.500 ha tụt xuống chỉ còn 26.200 ha<ref>[https://nongnghiep.vn/hao-hung-thuy-loi-viet-nam-ky-tich-trong-gian-kho-post134446.html Hào hùng Thủy lợi Việt Nam: Kỳ tích trong gian khó], Báo Nông nghiệp Việt Nam, 11/11/2014,</ref>. | |||
[[Tập tin:Caosu plantation before 1945.jpg|thumb|phải|Đồn điền cao su thời Pháp thuộc]] | [[Tập tin:Caosu plantation before 1945.jpg|thumb|phải|Đồn điền cao su thời Pháp thuộc]] | ||
Năm 1904, Pháp bắt đầu trồng cao su ở Nam Kỳ với quy mô lớn. Năm 1918, Pháp sở hữu một diện tích đất 184.700 ha ở Nam Kỳ trong đó có 7000 ha dùng trồng cao su. Trong 25 năm, số diện tích canh tác tăng gấp đôi và sản lượng tăng lên gấp 20 lần: năm 1920 : 70000 mẫu đồn điền, 3000 tấn cao su; 1930 : 80000 mẫu, 8000 tấn; 1940 : 97300 mẫu, 58000 tấn; 1945 : 138400 mẫu, 77400 tấn. Đồn điền cao su ở miền Đông Nam Kỳ tập trung trong tay 5 đại công ty của Pháp. Ngoài các công ty lớn do Pháp làm chủ còn có độ 60 đồn điền cao su nhỏ, diện tích trên dưới 100 mẫu của người Việt. Từ khi khai thác cao su ở Nam Kỳ, số xuất cảng cao su ở Nam Kỳ đã chiếm một tỷ lệ quan trọng trong tổng giá trị xuất cảng ở Đông Dương: năm 1936 chiếm 14,3%, năm 1937 : 18%, năm 1939 : 27,4%. Trong vòng 10 năm (1928-1939) trị giá cao su xuất cảng đã tăng lên gấp 7 lần, từ 11 triệu quan năm 1928 lên đến 96 triệu năm 1939.<ref>[http://www.sugia.vn/portfolio/detail/569/qua-trinh-dau-tu-va-khai-thac-thuoc-dia-ve-cao-su-cua-tu-ban-phap-o-viet-nam-1858-1945.html QUÁ TRÌNH ĐẦU TƯ VÀ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA VỀ CAO SU CỦA TƯ BẢN PHÁP Ở VIỆT NAM (1858-1945)], Hội khoa học lịch sử Bình Dương, 25/07/2012</ref> | |||
Mỗi công nhân được tuyển dụng, người mộ phu sẽ được trả từ 10 đến 20 đồng khiến người ta thực hiện cưỡng ép tại một số vùng nông thôn tạo ra sự bất bình mà điển hình là vụ ám sát người chuyên mộ phu cao su René Bazin năm 1929. Des Rousseaux trong một báo cáo mật gởi cho Toàn Quyền Đông Dương viết "''Người nông dân chỉ chấp nhận rời khỏi làng đi làm việc nơi khác là khi nào họ bị đói. Do đó phải đi đến kết luận lạ lùng cho phương thuốc thiếu nhân công [ở đồn điền] là phải bần cùng hóa nông thôn, rút bỏ các khoản trợ cấp, hạ giá nông sản…<ref>Huỳnh Lứa, Lịch sử phong trào công nhân cao su VN, trang 23, TPHCM: Nxb Trẻ, 2003</ref>''". | |||
Chính sách bóc lột nhân công biểu hiện rõ trong việc khai thác đồn điền cao su. Năm 1939, 19 công ty cao su Đông Dương lời được 309 triệu quan, trong khi số lương trả cho nhân công chỉ 40 triệu.<ref>Huỳnh Lứa, Lịch sử phong trào công nhân cao su VN, trang 81, TPHCM : Nxb Trẻ, 2003</ref> Bị bóc lột và đói khổ, công nhân cao su bỏ trốn quay trở về quê do đó nhu cầu mộ phu là vấn đế cấp thiết. Mỗi công nhân được tuyển dụng, người mộ phu sẽ được trả từ 10 đến 20 đồng khiến người ta thực hiện cưỡng ép tại một số vùng nông thôn tạo ra sự bất bình mà điển hình là vụ ám sát người chuyên mộ phu cao su René Bazin năm 1929 đã khiến hơn 200 đảng viên Quốc Dân Đảng bị bắt giam và 76 người bị cầm tù. Des Rousseaux trong một báo cáo mật gởi cho Toàn Quyền Đông Dương viết "''Người nông dân chỉ chấp nhận rời khỏi làng đi làm việc nơi khác là khi nào họ bị đói. Do đó phải đi đến kết luận lạ lùng cho phương thuốc thiếu nhân công [ở đồn điền] là phải bần cùng hóa nông thôn, rút bỏ các khoản trợ cấp, hạ giá nông sản...<ref>Huỳnh Lứa, Lịch sử phong trào công nhân cao su VN, trang 23, TPHCM : Nxb Trẻ, 2003</ref>''". | |||
====Công nghiệp==== | ====Công nghiệp==== | ||
Sau khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị tại Việt Nam, đầu thế kỷ XX, các công ty Pháp bắt đầu xây dựng một số cơ sở công nghiệp trong các ngành khai khoáng, cơ khí, rồi đến hệ thống công nghiệp dịch vụ và công nghiệp chế biến. Công nghiệp phát triển trên bốn lĩnh vực chủ yếu: khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí vận tải, và cuối cùng là các ngành công nghiệp chế biến.<ref name="congthuong">[https://moit.gov.vn/web/guest/lanh-dao-bo?p_p_id=ECOITQLNhanSu_WAR_ECOITQLNhanSuportlet_INSTANCE_u2M8rXahFhD6&p_p_lifecycle=0&p_p_state=normal&p_p_mode=view&p_p_col_id=column-1&p_p_col_count=1&_ECOITQLNhanSu_WAR_ECOITQLNhanSuportlet_INSTANCE_u2M8rXahFhD6_lichSuId=1&_ECOITQLNhanSu_WAR_ECOITQLNhanSuportlet_INSTANCE_u2M8rXahFhD6_mvcPath=%2Fhtml%2Fshow%2FviewDetailLichSuPhatTrien.jsp TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945], Bộ Công thương Việt Nam, 22/07/2019</ref> | Sau khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị tại Việt Nam, đầu thế kỷ XX, các công ty Pháp bắt đầu xây dựng một số cơ sở công nghiệp trong các ngành khai khoáng, cơ khí, rồi đến hệ thống công nghiệp dịch vụ và công nghiệp chế biến. Công nghiệp phát triển trên bốn lĩnh vực chủ yếu: khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí vận tải, và cuối cùng là các ngành công nghiệp chế biến.<ref name="congthuong">[https://moit.gov.vn/web/guest/lanh-dao-bo?p_p_id=ECOITQLNhanSu_WAR_ECOITQLNhanSuportlet_INSTANCE_u2M8rXahFhD6&p_p_lifecycle=0&p_p_state=normal&p_p_mode=view&p_p_col_id=column-1&p_p_col_count=1&_ECOITQLNhanSu_WAR_ECOITQLNhanSuportlet_INSTANCE_u2M8rXahFhD6_lichSuId=1&_ECOITQLNhanSu_WAR_ECOITQLNhanSuportlet_INSTANCE_u2M8rXahFhD6_mvcPath=%2Fhtml%2Fshow%2FviewDetailLichSuPhatTrien.jsp TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945], Bộ Công thương Việt Nam, 22/07/2019</ref> | ||
Quá trình [[công nghiệp hoá]] tiến triển chậm. Nền công nghiệp Việt Nam nhỏ bé và không hoàn chỉnh với các cơ sở sản xuất lớn là của tư bản Pháp còn công nghiệp bản địa chỉ gồm những doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Ngành công nghiệp không phát triển là chủ đích của thực dân Pháp không muốn để cho dân bản xứ lập công ty để cạnh tranh với các công ty của Pháp. Nước Pháp muốn duy trì nền công nghiệp bản xứ tại Đông Dương là nền sản xuất thủ công không đòi hỏi chất lượng nhân công cao mặc dù có những chỉ trích của những nhà công nghiệp và nhà kinh tế học ngay tại thời điểm đó.<ref>[http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Huyen-thoai-do%C2%A0va-huyen-thoai-den-ve-giao-duc-thuoc-dia-Dong-Duong-Ky-2-Huyen-thoai-den--20820 Huyền thoại đỏ và huyền thoại đen về giáo dục thuộc địa Đông Dương (Kỳ 2 "Huyền thoại đen")] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20211203102028/https://tiasang.com.vn/-giao-duc/Huyen-thoai-do%C2%A0va-huyen-thoai-den-ve-giao-duc-thuoc-dia-Dong-Duong-Ky-2-Huyen-thoai-den--20820|date=2021-12-03}}, Nguyễn Thụy Phương, 21/12/2019, Tạp chí Tia Sáng</ref> [[Người Pháp]] xây dựng một số cơ sở công nghiệp khai khoáng, cơ khí, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp nhẹ nhưng vẫn chưa hình thành nền tảng [[công nghiệp]] hoàn chỉnh tại [[Việt Nam]], trong khi [[Nhật Bản]] đã xây dựng khá nhiều cơ sở công nghiệp tại các [[thuộc địa]] của họ như [[Triều Tiên]], [[Mãn Châu]]<ref name="congthuong" />. Các dịch vụ như điện, nước... thời kỳ này phát triển tương đối chậm, lệ thuộc nhiều vào sự hình thành các đô thị<ref name="congthuong" />. | |||
Công nghiệp thời Pháp thuộc sử dụng nhân công giá rẻ nên có tỷ suất lợi nhuận cao nhưng sản lượng rất thấp. Công nghiệp mang tính chất thâm dụng lao động do nó chú trọng khai thác lao động giá rẻ của dân bản xứ hơn thâm dụng tư bản để nâng cao năng suất và sản lượng. Cho đến 1931, trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 750 triệu đồng Đông Dương, công nghiệp chỉ chiếm có 105 triệu, tức chỉ đạt 14%. Trong thập kỷ 1930, công nghiệp đã có một bước tiến xa hơn: tăng gấp đôi so với những gì Pháp đã làm ở đây trong vòng 70 năm (1860-1930). Đến năm 1938, trong tổng sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 1014 triệu đồng Đông Dương, công nghiệp chiếm 233,08 triệu, tức 22%. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ dân cư Việt Nam được hưởng những thành tựu của sự phát triển công nghiệp. Điện, nước máy, xà phòng, đường sắt, đường nhựa và điện tín vẫn còn xa lạ với nông thôn, người nghèo. Tính tới năm 1940, lượng điện tiêu thụ trên đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/107, lượng sắt thép sử dụng bằng 1/10 so với nước Pháp.<ref name="congthuong" /> | |||
Khai thác than đá là ngành công nghiệp dẫn đầu ở Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ XIX, số công nhân mỏ trên 4.000 người. Kỹ thuật khai thác chủ yếu còn là thủ công với sản lượng khoảng 10.000-12.000 tấn/năm. Đến năm 1913, sản lượng than đã tăng gấp 5, đạt tới nửa triệu tấn. Từ khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc, sản lượng than đạt 3-4 triệu tấn/năm. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929-1930, sản lượng than giảm xuống dưới mức 2 triệu tấn và chỉ tăng dần trở lại vào giữa thập kỷ 30. Năm 1937 đạt 2.308.000 tấn, 1939 đạt 2.615.000 tấn. Đa số than khai thác ra được xuất khẩu. Từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, tỷ lệ than sử dụng trong nước tăng lên. Đến năm 1939, tỷ lệ than xuất khẩu trong tổng sản lượng than vẫn còn ở mức 68%, trong đó khoảng 10-20% là xuất khẩu sang Pháp, phần còn lại xuất cho các nước thuộc Viễn Đông.<ref name="congthuong"/> | |||
Sau than là kẽm và thiếc, hai thứ này chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản lượng công nghiệp khai thác mỏ của Pháp ở Đông Dương. Đến năm 1936, sản lượng thiếc đã đạt tới 2.416 tấn/năm. Năm 1926, sản lượng kẽm đã đạt tới 62.000 tấn. Tới năm 1929, kẽm chiếm tới 9,7% trong tổng giá trị công nghiệp ở Đông Dương. Nhưng về sau, do giá kẽm trên thị trường thế giới giảm liên tục, nên việc khai thác kẽm sa sút dần. Việc khai thác các kim loại khác, ngoài kẽm và thiếc, không có gì đáng kể: đó là những mỏ crôm, kền ở Thanh Hoá, mỏ bạc ở Ngân Sơn, mỏ đồng ở Vạn Tài, mỏ sắt ở Linh Nham và Na Dương. Mỏ vàng ở Bồng Miêu đã từng có thời kỳ Pháp khai thác được khoảng 100 kg/năm, nhưng sau một số năm thì vàng cạn kiệt, chi phí khai thác quá tốn kém, không có lãi, nên mỏ này cũng ngừng hoạt động.<ref name="congthuong"/> | |||
Ngành khai thác khoáng sản tăng lên nhanh chóng vào sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất và đạt tới đỉnh cao là 18 triệu đồng tiền Đông Dương vào năm 1929. Nhưng sau đó, do khủng hoảng kinh tế thế giới, nó giảm sút nghiêm trọng, còn hơn một nửa. Đến cuối thập kỷ 30 và đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, nó đạt lên đỉnh cao nhất, khoảng 30 triệu đồng. Trước tình hình chiến sự ở Đông Dương, đặc biệt là sự khống chế của quân đội Nhật, việc khai thác mỏ của người Pháp cũng giảm sút nghiêm trọng, xuống còn 14 triệu đồng năm 1944 và hơn 4 triệu đồng năm 1945.<ref name="congthuong"/> | |||
Sau khi Pháp chiếm Bắc kỳ thì ngành công nghiệp vật liệu xây dựng mới phát triển mạnh. Cơ sở quan trọng đầu tiên là Nhà máy Xi măng Hải Phòng do Công ty Xi măng Portland nhân tạo Đông Dương xây dựng năm 1894 với 4 lò quay. Ngành sản xuất gạch và ngói phân tán ở tất cả các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Tuy nhiên, cũng có những nhà máy lớn, nổi tiếng ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Đáp Cầu, Biên Hoà... Những nhà máy cơ khí vận tải cũng hình thành như [[Xưởng đóng tàu Ba Son|nhà máy đóng tàu biển Bason]], những nhà máy sửa chữa và chế tạo toa xe lửa ở Gia Lâm, Vinh, Sài Gòn, một số nhà máy lắp ráp và sửa chữa ô tô như Avia, Star ở Hà Nội...<ref name="congthuong"/> | |||
[[Tập tin:Vietnamese sculpture before 1945.jpg|thumb|Nghề mộc tại Việt Nam thời Pháp thuộc]] | [[Tập tin:Vietnamese sculpture before 1945.jpg|thumb|Nghề mộc tại Việt Nam thời Pháp thuộc]] | ||
Công nghiệp chế biến của Pháp ở Việt Nam về cơ bản là công nghiệp chế biến nông sản và lâm sản. Trong công nghiệp chế biến nông sản, ngành xay xát lúa gạo chiếm vị trí quan trọng nhất và cũng ra đời sớm nhất. Nhà máy xay xát đầu tiên được xây dựng tại Chợ Lớn vào năm 1870. Đến năm 1885, khắp Nam bộ đã có tới 200 xưởng xay xát. Đi kèm với nó là các nhà máy dệt bao đay, sữa chữa máy móc, xe cộ, thuyền bè... Đi đôi với ngành công nghiệp xay xát, có ngành công nghiệp nấu rượu nhằm giải quyết nhu cầu ngân sách cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Nấu rượu là độc quyền của chính quyền thuộc địa. Chỉ một hãng rượu Đông Dương tại Hà Nội đã xây dựng tới 4 nhà máy vào năm 1901, mỗi tháng dùng khoảng 3.000 tấn gạo để nấu rượu. Ngành công nghiệp đường cũng được phát triển.<ref name="congthuong"/> Đến năm 1923, Công ty tinh lọc đường đã xây dựng nhiều nhà máy sản xuất đường ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Đến năm 1938, sản lượng đường đã lên tới 10.000 tấn. Pháp còn xây dựng một số nhà máy bia khá lớn. Ở Nam kỳ, Hãng Victor Larue có tới 14 nhà máy. Ở Bắc kỳ, Công ty Bia Hommel đã xây dựng một nhà máy lớn ở Hà Nội, vừa sản xuất bia, vừa sản xuất nước đá và nước có ga.<ref name="congthuong" /> Công nghiệp chế biến lâm sản bắt đầu phát triển từ đầu thế kỉ XX. Ba ngành quan trọng nhất thuộc lĩnh vực này là giấy, gỗ và diêm. Đến thập kỷ 1930 đã xuất khẩu sang các thị trường Hồng Kông, Singapore, Nhật. Từ năm 1913, Pháp đã thành lập Công ty Giấy Đông Dương. Công ty này có hai nhà máy Nhà máy Giấy Việt Trì và Nhà máy Giấy Đáp Cầu. Năm 1891, Pháp xây dựng một nhà máy sản xuất diêm đầu tiên ở Hà Nội. Đến năm 1897, Pháp lập một nhà máy diêm lớn hơn tại Bến Thủy (Nghệ An). Đến năm 1899, Schneider lập thêm một xưởng nữa ở Hà Nội.<ref name="congthuong" /> | |||
Sau khi Pháp chiếm Bắc kỳ thì ngành công nghiệp vật liệu xây dựng mới phát triển mạnh. Cơ sở quan trọng đầu tiên là Nhà máy Xi măng Hải Phòng do Công ty Xi măng Portland nhân tạo Đông Dương xây dựng năm 1894 với 4 lò quay. Ngành sản xuất gạch và ngói phân tán ở tất cả các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Tuy nhiên, cũng có những nhà máy lớn, nổi tiếng ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Đáp Cầu, Biên Hoà... Những nhà máy cơ khí vận tải cũng hình thành như nhà máy đóng tàu biển Bason, những nhà máy sửa chữa và chế tạo toa xe lửa ở Gia Lâm, Vinh, Sài Gòn, một số nhà máy lắp ráp và sửa chữa ô tô như Avia, Star ở Hà Nội...<ref name="congthuong"/> | |||
Ngành công nghiệp nhẹ lớn nhất của Pháp ở Việt Nam là ngành công nghiệp dệt. Nhà máy dệt đầu tiên được xây dựng vào năm 1890, tại miền Nam. Đến năm 1900, A.Dadre và Dupré lập ra ở Nam Định một nhà máy dệt lớn, đứng hàng thứ 3 trong số 269 công ty của Pháp, đạt lợi nhuận tới 52.000.000 FF năm 1939. Từ năm 1903, cũng đã xuất hiện ngành công nghiệp tơ lụa. Những nhà máy đầu tiên sản xuất lụa được lập ra ở Trung kỳ, chủ yếu ở Quảng Nam. Ở Bắc kỳ, cũng thời kì này, Dadre đã xây dựng một nhà máy tơ ở Nam Định. Tất cả những sản phẩm của nhà máy tơ lụa đều được xuất khẩu sang Pháp.<ref name="congthuong" /> | |||
Ngoài những lĩnh vực công nghiệp kể trên, Pháp còn mở một số ngành công nghiệp khác khác nữa, nhưng quy mô không lớn, vì nhu cầu của xã hội về các mặt hàng này còn thấp: Nhà máy sản xuất xà phòng ở Hải Phòng xây dựng năm 1899; Xưởng in của Schneider tại Hà Nội sử dụng 150 công nhân, cũng lập ra năm 1899; Các nhà máy thủy tinh, chủ yếu là làm kính và vỏ chai lập ra ở Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội, Sài Gòn.<ref name="congthuong" /> Các dịch vụ như điện, nước... thời kỳ này phát triển tương đối chậm, lệ thuộc nhiều vào sự hình thành các đô thị<ref name="congthuong" />. | |||
Công nghiệp chế biến lâm sản bắt đầu phát triển từ đầu thế kỉ XX. Ba ngành quan trọng nhất thuộc lĩnh vực này là giấy, gỗ và diêm. Đến thập kỷ 1930 đã xuất khẩu sang các thị trường Hồng Kông, Singapore, Nhật. Từ năm 1913, Pháp đã thành lập Công ty Giấy Đông Dương. Công ty này có hai nhà máy Nhà máy Giấy Việt Trì và Nhà máy Giấy Đáp Cầu. Năm 1891, Pháp xây dựng một nhà máy sản xuất diêm đầu tiên ở Hà Nội. Đến năm 1897, Pháp lập một nhà máy diêm lớn hơn tại Bến Thủy (Nghệ An). Đến năm 1899, Schneider lập thêm một xưởng nữa ở Hà Nội.<ref name="congthuong"/> | |||
Công nghiệp bản xứ của Việt Nam phần lớn hoạt động trong ngành chế biến, với những xí nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tỷ lệ nhỏ bé trong tổng số vốn đầu tư, trong sản lượng công nghiệp, số lao động sử dụng cũng rất ít. Người Việt chiếm lĩnh một số lĩnh vực mà Pháp và Hoa kiều ít đặt chân tới, đó là sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ cho người Việt. Phần lớn các nhà kinh doanh công nghiệp Việt Nam cũng đồng thời là những người có đầu óc dân tộc, yêu nước, có những hoạt động xã hội.<ref name="congthuong" /> Thủ công nghiệp Việt Nam từng có quá khứ huy hoàng nhưng đã suy tàn nên được Pháp khuyến khích và khai thác. Các nghề thủ công có những khiếm khuyết như thiếu công nghệ hiện đại, thiếu tính sáng tạo, nhàm chán, lặp lại và đặc biệt không phù hợp với thị hiếu Châu Âu. Chính quyền thuộc địa chủ trương củng cố những nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống bằng cách đào tạo lao động tại chỗ, cải thiện chất lượng sản phẩm để có thể dễ dàng tiêu thụ. Nhiều khoá tập huấn nghề đã được thực hiện ở các tỉnh Hà Đông, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội. Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ mới vẫn hạn chế khiến năng suất lao động thấp.<ref>Tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Kỳ thời Pháp thuộc, Trần Thị Phương Hoa, Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (112) - 2017</ref> | |||
Các dịch vụ như điện, nước... thời kỳ này phát triển tương đối chậm, lệ thuộc nhiều vào sự hình thành các đô thị<ref name="congthuong"/>. | |||
Thủ công nghiệp Việt Nam từng có quá khứ huy hoàng nhưng đã suy tàn nên được Pháp khuyến khích và khai thác. Các nghề thủ công có những khiếm khuyết như thiếu công nghệ hiện đại, thiếu tính sáng tạo, nhàm chán, lặp lại và đặc biệt không phù hợp với thị hiếu Châu Âu. Chính quyền thuộc địa chủ trương củng cố những nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống bằng cách đào tạo lao động tại chỗ, cải thiện chất lượng sản phẩm để có thể dễ dàng tiêu thụ. Nhiều khoá tập huấn nghề đã được thực hiện ở các tỉnh Hà Đông, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội. Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ mới vẫn hạn chế khiến năng suất lao động thấp.<ref>Tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Kỳ thời Pháp thuộc, Trần Thị Phương Hoa, Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (112) - 2017</ref> | Thủ công nghiệp Việt Nam từng có quá khứ huy hoàng nhưng đã suy tàn nên được Pháp khuyến khích và khai thác. Các nghề thủ công có những khiếm khuyết như thiếu công nghệ hiện đại, thiếu tính sáng tạo, nhàm chán, lặp lại và đặc biệt không phù hợp với thị hiếu Châu Âu. Chính quyền thuộc địa chủ trương củng cố những nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống bằng cách đào tạo lao động tại chỗ, cải thiện chất lượng sản phẩm để có thể dễ dàng tiêu thụ. Nhiều khoá tập huấn nghề đã được thực hiện ở các tỉnh Hà Đông, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội. Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ mới vẫn hạn chế khiến năng suất lao động thấp.<ref>Tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Kỳ thời Pháp thuộc, Trần Thị Phương Hoa, Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (112) - 2017</ref> | ||
| Dòng 61: | Dòng 59: | ||
====Thương nghiệp==== | ====Thương nghiệp==== | ||
[[Tập tin:Opium consumer in Indochina.jpg|nhỏ|300px|phải|Hút thuốc phiện tại Việt Nam thời Pháp thuộc.]] | [[Tập tin:Opium consumer in Indochina.jpg|nhỏ|300px|phải|Hút thuốc phiện tại Việt Nam thời Pháp thuộc.]] | ||
[[Tập tin:Saigon - Manufacture d'Opium.jpg|nhỏ|phải|250px|Xưởng [[thuốc phiện]] (Manufacture d'Opium) ở Sài Gòn thời thuộc Pháp. Khu xưởng này cung ứng từ 1/3 đến 1/2 ngân sách toàn Đông Dương.]] | |||
[[Toàn quyền Đông Dương]] Albert Sarraut từng có thư gửi viên Công sứ dưới quyền:<ref name="bql">Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, trang 35</ref> | |||
Nhìn chung hoạt động ngoại thương chủ yếu do tư bản Pháp và tư bản người Hoa nắm giữ. Các công ty Pháp như Denis Frères, Boy Landry, Poinsart Veyret, Deconrs Cabaus và Liên đoàn Thương mại Đông Dương và châu Phi (L.U.C.I.A) nắm giữ hầu hết các hoạt động ngoại thương của Việt Nam. Hàng hóa xuất khẩu chính là gạo, cao su và các loại nông sản khác từ Nam Kỳ; than đá, khoáng sản từ Bắc Kỳ. Hàng nhập khẩu chủ yếu là sản phẩm công nghiệp. Thị trường xuất chính là Trung Quốc, Hong Kong, Nhật Bản, Philippines, Pháp, Mỹ và một số nước châu Âu. Pháp là thị trường quan trọng nhất, chiếm tới 29,6% hàng nhập trong những năm 1911- 1920. Gạo là mặt hàng xuất sang Pháp nhiều nhất, đến 250.000 tấn trong các năm 1909 - 1913. Thông qua các đạo luật về thuế quan, người Pháp ngày càng buộc chặt thị trường Việt Nam vào thị trường Pháp. Hàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam chịu mức thuế suất thấp hoặc được miễn thuế còn hàng hóa nước khác bị đánh thuế rất nặng.<ref>https://kinhtedothi.vn/ngoai-thuong-viet-nam-thoi-phap-thuoc.html</ref> | |||
Mức đầu tư của tư bản Pháp, từ 1924 đến 1939, vào ngành thương mại là 421 triệu france Pháp, chiếm 5,6% tổng số đầu tư tư nhân Pháp tại Việt Nam. Số tư bản này chủ yếu trong các lĩnh vực nhập khẩu và xuất khẩu, mà trước hết là xuất, nhập khẩu với chính quốc và với các thuộc địa Pháp. Trong giai đoạn đầu, hoạt động thương nghiệp của Pháp chủ yếu tập trung ở các thương cảng: các tàu Pháp đem hàng vào bán, rồi thông qua các đại lý mua hàng để xuất khẩu.<ref name="congthuong"/> | |||
Ngoài việc kinh doanh xuất nhập khẩu, Pháp độc quyền kinh doanh đối với 3 sản phẩm quan trọng là muối, rượu, thuốc phiện để nâng giá 3 mặt hàng này lên rất cao, rồi thông qua độc quyền, hoặc cưỡng bức tiêu thụ để thu tiền cho ngân sách. [[Hồ Chí Minh]] đã nhận xét: ''"Nói đến các món độc quyền, người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo mập bị trói chặt và đương hấp hối dưới những cái mỏ quặp của một bầy [[diều hâu]] rỉa rói mãi không thấy no"''. Cách kinh doanh theo lối độc quyền của chính phủ thực dân dựa trên nhu cầu của dân bản xứ để bòn rút họ: một thói hư - thuốc phiện, một thói quen - rượu, một nhu cầu cơ bản - muối đã tạo ra nhiều lãi và đóng góp tới 60-70% tổng thu ngân sách.<ref name="congthuong"/> | |||
[[Thuốc phiện]] là mặt hàng được Pháp công khai buôn bán, khuyến khích người Việt sử dụng chứ không bị cấm như ở chính quốc. Lợi nhuận từ thuốc phiện đã đóng góp tới 25% vào ngân sách của Pháp ở Đông Dương. Tổng ngân sách năm 1905 là 32 triệu đồng Đông Dương, trong số này nguồn thu từ độc quyền bán thuốc phiện là 8,1 triệu. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận Pháp thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương.<ref>[http://www.asiapacificms.com/papers/pdf/gt_opium_trade.pdf Golden Triangle Opium Trade, an Overview], Bertil Lintner, 2000.</ref> Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa.<ref>Logan, William S. Trang 79.</ref> Thập niên 1930, cứ một nghìn làng thì có đến 1.500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có 10 trường học. Nạn nghiện thuốc phiện trở thành một vấn nạn nghiêm trọng trong xã hội Việt Nam<ref name="bql1">Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, trang 34-39.</ref>. Pháp đề ra quy định các làng phải mua số rượu tối thiểu tính theo dân số. Pháp ấn định trên thực tế mức rượu mà mỗi người bản xứ buộc phải uống hàng năm, kể cả người già, phụ nữ, trẻ em, cả đến trẻ em còn bú mẹ<ref name="bql" />. | |||
[[Toàn quyền Đông Dương]] [[Albert Sarraut]] từng có thư gửi viên Công sứ dưới quyền: <ref name="bql">Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, trang 35</ref> | |||
:''Tôi trân trọng yêu cầu ông vui lòng giúp đỡ những cố gắng của Nha Thương chính trong việc đặt thêm đại lý bán lẻ thuốc phiện và rượu, theo chỉ thị của ông Tổng giám đốc Nha Thương chính Đông Dương.'' | :''Tôi trân trọng yêu cầu ông vui lòng giúp đỡ những cố gắng của Nha Thương chính trong việc đặt thêm đại lý bán lẻ thuốc phiện và rượu, theo chỉ thị của ông Tổng giám đốc Nha Thương chính Đông Dương.'' | ||
:''Để tiến hành việc đó, tôi xin gửi ông một bản danh sách những đại lý cần đặt trong các xã đã kê tên; phần lớn các xã này, tới nay, vẫn hoàn toàn chưa có rượu và thuốc phiện. Qua các Tỉnh trưởng và các Xã trưởng Cao Miên, ông có thể dùng ảnh hưởng to tát của ông để làm cho một số tiểu thương người bản xứ thấy rằng buôn thêm rượu và thuốc phiện là rất có lợi.'' | :''Để tiến hành việc đó, tôi xin gửi ông một bản danh sách những đại lý cần đặt trong các xã đã kê tên; phần lớn các xã này, tới nay, vẫn hoàn toàn chưa có rượu và thuốc phiện. Qua các Tỉnh trưởng và các Xã trưởng Cao Miên, ông có thể dùng ảnh hưởng to tát của ông để làm cho một số tiểu thương người bản xứ thấy rằng buôn thêm rượu và thuốc phiện là rất có lợi.'' | ||
:''Chúng ta chỉ có thể đạt kết quả mỹ mãn, nếu chúng ta hợp đồng với nhau chặt chẽ và liên tục, vì lợi ích tối cao của ngân khố."'' | :''Chúng ta chỉ có thể đạt kết quả mỹ mãn, nếu chúng ta hợp đồng với nhau chặt chẽ và liên tục, vì lợi ích tối cao của ngân khố."'' | ||
[[Tập tin:La-manufacture-dopium-de-sagon-en-1904.jpg|nhỏ|phải|250px|Xưởng [[thuốc phiện]] (Manufacture d'Opium) ở Sài Gòn thời thuộc Pháp. Khu xưởng này cung ứng từ 1/3 đến 1/2 ngân sách toàn Đông Dương.]] | |||
Người Hoa đóng vai trò đáng kể trong việc nhập cảng và tiêu thụ nội địa. Về xuất khẩu, người Hoa chiếm phần lớn nhất trong việc thu gom, xay giã và xuất khẩu lúa gạo mà Chợ Lớn là trung tâm qui tụ nguồn lúa gạo của toàn đồng bằng Nam Bộ. Về nhập khẩu, người Hoa gần như độc quyền trong việc nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng từ Nhật Bản, Singapore, nhất là từ Hồng Kông và Thượng Hải, gồm vải vóc, thực phẩm, dụng cụ gia đình, nến, giấy, bút mực, diêm, giầy dép, quần áo... là những thứ mà Pháp không quan tâm, hoặc có kinh doanh nhưng giá đắt hơn do chí phí vận tải quá lớn.<ref name="congthuong" /> | |||
==Cơ sở hạ tầng== | ==Cơ sở hạ tầng== | ||
===Giao thông vận tải=== | |||
Để phục vụ mục đích khai thác thuộc địa người Pháp xây dựng khá nhiều cơ sở hạ tầng tại Việt Nam như hệ thống đường sắt, đường bộ, cảng biển, sân bay, điện tín, các thành phố lớn... | |||
Để phục vụ mục đích khai thác thuộc địa người Pháp xây dựng khá nhiều cơ sở hạ tầng tại Việt Nam như hệ thống đường sắt, đường bộ, cảng biển, sân bay, điện tín, điện lực, các thành phố lớn... | |||
Năm [[1881]] Pháp khởi công xây dựng tuyến đường sắt [[Đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho|đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho]] dài khoảng 70 km. Ngày [[20 tháng 7]] năm [[1885]] chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ Ga [[Sài Gòn]], vượt Sông [[Vàm Cỏ Đông]] bằng phà tại [[Bến Lức]], đến Ga cuối cùng tại Trung tâm Thành phố [[Mỹ Tho]] đánh dấu sự ra đời của hệ thống [[đường sắt Việt Nam]]. Đến tháng 5 năm [[1886]] toàn bộ các cầu trên tuyến đường sắt [[Sài Gòn]] – [[Mỹ Tho]] đã hoàn thành cho phép tàu chạy một mạch tới [[Mỹ Tho]]. | Năm [[1881]] Pháp khởi công xây dựng tuyến đường sắt [[Đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho|đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho]] dài khoảng 70 km. Ngày [[20 tháng 7]] năm [[1885]] chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ Ga [[Sài Gòn]], vượt Sông [[Vàm Cỏ Đông]] bằng phà tại [[Bến Lức]], đến Ga cuối cùng tại Trung tâm Thành phố [[Mỹ Tho]] đánh dấu sự ra đời của hệ thống [[đường sắt Việt Nam]]. Đến tháng 5 năm [[1886]] toàn bộ các cầu trên tuyến đường sắt [[Sài Gòn]] – [[Mỹ Tho]] đã hoàn thành cho phép tàu chạy một mạch tới [[Mỹ Tho]]. | ||
| Dòng 78: | Dòng 88: | ||
* Năm [[1899]] - [[1936]], Pháp xây dựng xong tuyến [[Đường sắt Bắc Nam]] | * Năm [[1899]] - [[1936]], Pháp xây dựng xong tuyến [[Đường sắt Bắc Nam]] | ||
Ba mươi năm đầu tiên của thế kỷ XX, để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, Pháp đã xây dựng một hệ thống đường sắt từ Bắc vào Nam nhằm phục vụ công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa của họ.<ref>{{Chú thích web| url = http://www.vr.com.vn/thongtinchung_lichsupt.html| tiêu đề = Lịch sử ngành đường sắt| ngày truy cập = 2009| archive-date = ngày 29 tháng 12 năm 2011 | archive-url = https://web.archive.org/web/20111229072558/http://www.vr.com.vn/thongtinchung_lichsupt.html}}</ref> Đến năm 1936, người Pháp xây dựng xong đường sắt Bắc Nam với tổng chiều dài 2600 km<ref name="adfg">[http://hkhktcd.vn/hoi-khoa-hoc-ky-thuat-cau-duong/o-to-xe-may/giao-thong-viet-nam-thoi-phap-1890-1945-duong-thuoc-dia-duong-sat-va-cang-song-bien-mo-dau-phat-trien-ha-tang-giao-thong-viet-nam-1605.aspx Giao thông Việt Nam thời Pháp (1890 – 1945). Đường thuộc địa, đường sắt và cảng sông, biển mở đầu phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20200727160943/http://hkhktcd.vn/hoi-khoa-hoc-ky-thuat-cau-duong/o-to-xe-may/giao-thong-viet-nam-thoi-phap-1890-1945-duong-thuoc-dia-duong-sat-va-cang-song-bien-mo-dau-phat-trien-ha-tang-giao-thong-viet-nam-1605.aspx |date = ngày 27 tháng 7 năm 2020}}, Hội KHKT Cầu đường Việt Nam, 2014/12/2</ref> Từ 1900 đến 1935, Pháp đã sử dụng 145 triệu franc để lập đường xe lửa và 45 triệu franc để mở mang đường sá<ref>Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 179, Saigon: Lửa Thiêng, 1970</ref> | Ba mươi năm đầu tiên của thế kỷ XX, để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, Pháp đã xây dựng một hệ thống đường sắt từ Bắc vào Nam nhằm phục vụ công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa của họ.<ref>{{Chú thích web| url = http://www.vr.com.vn/thongtinchung_lichsupt.html| tiêu đề = Lịch sử ngành đường sắt| ngày truy cập = 2009| archive-date = ngày 29 tháng 12 năm 2011 | archive-url = https://web.archive.org/web/20111229072558/http://www.vr.com.vn/thongtinchung_lichsupt.html}}</ref> Đến năm 1936, người Pháp xây dựng xong đường sắt Bắc Nam với tổng chiều dài 2600 km<ref name="adfg">[http://hkhktcd.vn/hoi-khoa-hoc-ky-thuat-cau-duong/o-to-xe-may/giao-thong-viet-nam-thoi-phap-1890-1945-duong-thuoc-dia-duong-sat-va-cang-song-bien-mo-dau-phat-trien-ha-tang-giao-thong-viet-nam-1605.aspx Giao thông Việt Nam thời Pháp (1890 – 1945). Đường thuộc địa, đường sắt và cảng sông, biển mở đầu phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20200727160943/http://hkhktcd.vn/hoi-khoa-hoc-ky-thuat-cau-duong/o-to-xe-may/giao-thong-viet-nam-thoi-phap-1890-1945-duong-thuoc-dia-duong-sat-va-cang-song-bien-mo-dau-phat-trien-ha-tang-giao-thong-viet-nam-1605.aspx |date = ngày 27 tháng 7 năm 2020}}, Hội KHKT Cầu đường Việt Nam, 2014/12/2</ref> Từ 1900 đến 1935, Pháp đã sử dụng 145 triệu franc để lập đường xe lửa và 45 triệu franc để mở mang đường sá<ref>Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 179, Saigon: Lửa Thiêng, 1970</ref>. | ||
[[Tập tin:Hanoi rue Paul Bert.jpg|nhỏ|phải|300px|Rue Paul Bert, tức phố Tràng Tiền, nhìn về phía Nhà hát Lớn, Hà Nội, thời Pháp thuộc.]] | |||
Bên cạnh đó người Pháp còn xây dựng các thành phố lớn từ những đô thị có sẵn như [[Hà Nội]], [[Sài Gòn]] hay thành lập mới như [[Hải Phòng]], [[Đà Nẵng]]... Hà Nội nằm giữa<ref>Hơi chếch về mạn tây bắc. Xem [[:Tập tin:Mienbac11.jpg|bản đồ đồng bằng sông Hồng]]</ref> [[đồng bằng sông Hồng]] trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm [[chính trị]], [[kinh tế]] và [[văn hóa]] ngay từ những buổi đầu của [[lịch sử Việt Nam]]. | |||
Đường thiên lý Bắc Nam được xây dựng dưới triều Nguyễn được người Pháp nâng cấp, mở rộng, gọi là đường thuộc địa số 1. Cùng với xây dựng đường số 1, dài khoảng 2000km, các trục đường thuộc địa khác cũng được xây dựng như các trục đường số 2,3,4,5,6 ..ở miền Bắc; trục đường: 7,8,9,11,12 (cũ),14... ở miền Trung và các trục đường 13, 15,16,51, 20, 21 (cũ), 22, Sài Gòn – Cà Mau (đường số 1 kéo dài)... Đến năm 1919 người pháp đã xây dựng 21 con đường thuộc địa. Tổng chiều dài các đường thuộc địa khác ngoài đường số 1 là khoảng trên 6.600km được rải đá. Các trục đường bộ song song với các tuyến đường sắt được nâng cấp, trở thành các trục đường liên tỉnh như: Đường 2, đường 70 ( Hà Nội - Tuyên Quang- Lào Cai) đường 3 ( Hà Nội -Thái Nguyên – Cao Bằng), đường 5 (Hà Nội - Hải Phòng). Hàng trăm cây cầu kiên cố cũng được xây dựng, trong đó có các cầu lớn như Cầu Bình Lợi (Sài Gòn) cầu Gềnh (Đồng Nai), Đà Ràng (Tuy Hòa), cầu Bạch Hổ (Huế): cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), Cầu Long Biên (Hà Nội)... Pháp cũng xây dựng các trục đường tỉnh và vươn tới nhưng vùng xa xôi hẻo lánh, có các mỏ quặng, than đá và vùng biên giới. Điển hình là các trục đường: Hà Nội- Cao Bằng, Việt Trì- Tuyên Quang, Vinh- Sầm Nưa. Đầu thế kỷ 20, Pháp đã làm được 20.000km đường bộ. Đến năm 1930, Pháp đã mở được 15.000 km đường bộ, trong đó khoảng 2.000 km đường rải nhựa.<ref name="adfg" /> | |||
Năm [[1679]], chúa [[Nguyễn Phúc Tần]] cho một số nhóm [[Người Hoa tại Việt Nam|người Hoa]] tị nạn triều [[Nhà Thanh|Mãn Thanh]] tới [[Mỹ Tho]], [[Biên Hòa]] và Sài Gòn để lánh nạn<ref>Hai nhóm người Hoa theo Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên bỏ xứ ra đi vì không cam chịu sự cai trị của Mãn Thanh, không phải mang danh nghĩa phản Thanh phục Minh.</ref>. Đến năm [[1698]], [[chúa Nguyễn]] sai tướng [[Nguyễn Hữu Cảnh]] vào kinh lý [[Miền Nam (Việt Nam)|miền Nam]]. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tự phát tới khu vực này trước đó, [[Nguyễn Hữu Cảnh]] cho lập phủ [[Gia Định]] và hai huyện Phước Long, [[Tân Bình (phủ cũ Gia Định)|Tân Bình]]. Vùng [[Đông Nam Bộ]] được sáp nhập vào cương vực Việt Nam.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=Lịch sử hình thành đất Sài Gòn|url=http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/cong_cuoc_khai_duong_mo_loi/lich_su_hinh_thanh_dat_sai_gon?left_menu=1|nhà xuất bản=Website Thành phố Hồ Chí Minh|ngày truy cập=ngày 22 tháng 5 năm 2014|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20100201074131/http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/cong_cuoc_khai_duong_mo_loi/lich_su_hinh_thanh_dat_sai_gon?left_menu=1|ngày lưu trữ=2010-02-01|url-status=dead}}</ref> | |||
Ngoài ra họ còn thiết lập hệ thống cảng biển, cảng sông với các cảng nổi tiếng, có quy mô lớn trong khu vực thời bấy giờ như [[Cảng Sài Gòn]], [[Cảng Hải Phòng]]. Năm 1862 mở cửa biển Đà Nẵng, Cam Ranh, cảng Hải Phòng được xây dựng vào năm 1876, cảng Sài Gòn được xây dựng vào năm 1884. Tiếp theo là các cảng [[Bến Thủy]], [[Quy Nhơn]], [[Hòn Gai]], [[Cẩm Phả]]...Trong những năm đầu đã có tàu buôn của các nước Anh, Trung Quốc, Hà Lan đến buôn bán trao đổi hàng hóa và cạnh tranh với người Pháp. Mạng lưới vận tải đường sông của vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và các sông lớn miền Trung cũng được khai thác triệt để. Các cảng sông số lượng tàu thuyền tăng đáng kể, năm 1939 cảng Hà Nội có 5886 tàu thuyền, [[Quảng Yên]] có 5.108 tàu thuyền, cảng [[Mỹ Tho]] có 171 tàu thuyền, cảng [[Nam Định]] có 1.402 tàu thuyền. Riêng tại Nam bộ người Pháp đã sử dụng các sông Mỹ Tho, Vàm Cỏ, Rạch Cát, Mang Thít, Rạch Giá ...để chở lúa gạo. Lực lượng tàu vận tải đường sông tiêu biểu thời đó có các Hãng Sô Va (người Pháp), [[Bạch Thái Bưởi]], Vĩnh Long ( người Việt Nam). Đến đầu thế kỉ XX, đặc biệt là từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, hoạt động vận tải đường thủy, đặc biệt là vận tải biển được phát triển<ref>[http://hkhktcd.vn/hoi-khoa-hoc-ky-thuat-cau-duong/o-to-xe-may/giao-thong-viet-nam-thoi-phap-1890-1945-duong-thuoc-dia-duong-sat-va-cang-song-bien-mo-dau-phat-trien-ha-tang-giao-thong-viet-nam-1605.aspx]</ref>. | |||
Riêng hệ thống sân bay thời Pháp đến năm 1945, Việt Nam có khoảng 11 sân bay, bao gồm: Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Gia Lâm, [[Cát Bi]], Bạch Mai, Đồng Hới, Huế, Nha Trang, Cà Mau, Phan Thiết, Sóc Trăng... Trong đó sân bay Đồng Hới và [[sân bay Tân Sơn Nhất]] được xây dựng vào năm 1930. Sân bay Đà Nẵng được xây dựng năm 1940. Chuyến bay đầu tiên từ Paris đến Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất là vào năm 1933 kéo dài 18 ngày.<ref name="adfg" /> | |||
Tóm lại, dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1890 đến năm 1945, Việt Nam có một giai đoạn phát triển hạ tầng giao thông toàn diện và cơ bản nhất trên quy mô toàn quốc với các loại hình: đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và cảng hàng không...phục vụ cho các hoạt động giao thương cho những năm sau này ở Việt Nam<ref name="adfg"/>. Bên cạnh đó người Pháp còn xây dựng các thành phố lớn từ những đô thị có sẵn như [[Hà Nội]], [[Sài Gòn]] hay thành lập mới như [[Hải Phòng]], [[Đà Nẵng]]... Hà Nội nằm giữa [[đồng bằng sông Hồng]]<ref>Hơi chếch về mạn tây bắc. Xem [[:Tập tin:Mienbac11.jpg|bản đồ đồng bằng sông Hồng]]</ref> đã sớm trở thành một trung tâm [[chính trị]], [[kinh tế]] và [[văn hóa]] ngay từ những buổi đầu của [[lịch sử Việt Nam]]. | |||
===Đô thị=== | |||
Bên cạnh đó người Pháp còn xây dựng các thành phố lớn từ những đô thị có sẵn như [[Hà Nội]], [[Sài Gòn]] hay thành lập mới như [[Hải Phòng]], [[Đà Nẵng]]... | |||
[[Tập tin:Hanoï - Rue Paul Bert.jpg|nhỏ|phải|300px|Rue Paul Bert, tức phố Tràng Tiền, nhìn về phía Nhà hát Lớn, Hà Nội, thời Pháp thuộc.]] | |||
Ngày [[19 tháng 7]] năm [[1888]], [[Tổng thống Pháp]] [[Marie François Sadi Carnot|Sadi Carnot]] ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội. Thành phố Hà Nội lúc này có diện tích nhỏ bao gồm 2 huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận thuộc phủ [[Hoài Đức]]. Phạm vi thành phố bó hẹp nằm trong khu vực Phố Huế, Đại Cồ Việt, Khâm Thiên, Giảng Võ, Đường Thụy Khuê, Hồ Tây đến [[cầu Long Biên]]. Năm [[1902]], Hà Nội trở thành thủ đô của [[Liên bang Đông Dương]] và được người [[Pháp]] [[xây dựng]], [[Quy hoạch đô thị|quy hoạch]] lại, được mệnh danh là ''Tiểu Paris phương Đông'' thời bấy giờ. Nhờ sự quy hoạch của người Pháp, thành phố dần có được bộ mặt mới. Lũy thành thời Nguyễn dần bị triệt hạ, đến năm 1897 hầu như bị phá hủy hoàn toàn,<ref>{{Chú thích sách | |||
|title=Hanoi: Biography of a City | |||
|url= http://books.google.com/books?id=QiYG5lXd4XsC&printsec=frontcover&dq=Hanoi | |||
|last=Logan | |||
|first=William Stewart | |||
|year=2000 | |||
|pages=86 | |||
|publisher=[[Đại học New South Wales|UNSW]] Press | |||
|isbn=9780868404431 | |||
|accessdate=ngày 9 tháng 11 năm 2010}} | |||
</ref> chỉ còn lại [[Cột cờ Hà Nội|Cột Cờ]], Cửa Bắc với vết đạn năm 1873, Đoan Môn và lan can rồng đá ở trong hoàng thành cũ. Năm 1901, các công trình phủ Thống sứ, [[Bưu điện Hà Nội|Nhà bưu điện]], Kho bạc, Nhà đốc lý, [[Nhà hát Lớn Hà Nội|Nhà hát lớn]], [[Cầu Long Biên]], [[Ga Hà Nội]], những quảng trường, bệnh viện... được xây dựng. Hà Nội cũng có thêm trường đua ngựa, các [[nhà thờ]] [[Kitô giáo|Cơ Đốc giáo]], trường Đại học Y khoa, Đại học Đông dương, Đại học Mỹ thuật, các trường Cao đẳng Pháp lý, Nông lâm cùng những nhà máy sản xuất [[thức uống có cồn|rượu bia]], [[diêm]], hàng dệt, điện, nước... Khi những nhà tư bản người Pháp tới Hà Nội ngày một nhiều hơn, các rạp chiếu phim, nhà hát, khách sạn... dần xuất hiện, những con phố cũng thay đổi để phù hợp với tầng lớp dân cư mới.<ref name="thuocdia">{{Chú thích web | |||
| url = http://www.hanoi.gov.vn/hanoiwebs1/vn/gioithieuchunghanoi/group2/group2_1/page2_1_8.htm | |||
| tiêu đề = Hà Nội thời Pháp thuộc | |||
| ngày truy cập=ngày 1 tháng 10 năm 2010 | |||
| work = Hà Nội theo năm tháng | |||
| nhà xuất bản = ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội}}</ref> Vào năm 1921, toàn thành phố có khoảng 4.000 dân châu Âu và 100.000 dân bản địa.<ref name="papin">{{Chú thích sách | |||
<!-- Tính đến 0 giờ ngày 8/7/2015, Dân số của Hà Nội 7.008.963 người --> | |||
| last = Papin | |||
| first = Philippe | |||
| title = Histoire de Hanoi | |||
| publisher = Fayard | |||
| year = 2001 | |||
| isbn = 2213606714 | |||
| pages = 381-386}}</ref> | |||
Ngay sau khi chiếm được [[thành Gia Định]] vào năm [[1859]], [[thực dân Pháp]] gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một [[đô thị]] lớn phục vụ mục đích [[khai thác thuộc địa]]. Đồ án thiết kế được Phó Đô đốc Pháp là Page (về sau là Charner) cử trung tá công binh Pháp là [[Paul Florent Lucien Coffyn]] (20/5/1810 – 5/8/1871), nguyên Lãnh sự Pháp ở Hoa Kỳ, thiết kế. Theo [[bản đồ]] của Coffyn được công bố vào ngày 13/5/1862, quy hoạch ban đầu của Sài Gòn bao gồm cả [[Chợ Lớn (tỉnh)|tỉnh Chợ Lớn]] với khoảng 500.000 dân (Saigon ville de 500.000 âmes), tức khoảng 20.000 dân/km²<ref name="tuoitre1070977">[http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20160322/quy-hoach-sai-gon-nam-1772-xai-den-200-nam/1070977.html Quy hoạch Sài Gòn 1772 vượt xa tầm nhìn người Pháp 1865], Báo Tuổi trẻ, 22/03/2016</ref>. Quy hoạch này tương ứng với quy hoạch khu vực phòng thủ của tướng [[Nguyễn Cửu Đàm]] năm [[1772]], khi dân số Sài Gòn chỉ khoảng 20.000–30.000 người<ref name="tuoitre1070977" />. Nhưng đến [[1864]], nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, Soái phủ Pháp ở [[Nam Kỳ]] ''(Gouverneur Amiral de la Cochinchine)'' lúc đó là Chuẩn đô đốc [[Pierre Rose]] quyết định tách [[Chợ Lớn]] khỏi Sài Gòn. Ngày 3/10/1865, Pierre Rose ra lệnh quy hoạch lại Sài Gòn chỉ còn là khu vực nằm giữa [[Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè|rạch Thị Nghè]], [[sông Sài Gòn]], [[rạch Bến Nghé]] và đường mới khu [[cầu Ông Lãnh]] hiện nay. Toàn bộ quy hoạch chỉ còn rộng khoảng 3 km²<ref name="tuoitre1070977" />. Rất nhanh chóng, các [[Công trình xây dựng|công trình]] quan trọng của thành phố, như [[Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh|Dinh Thống đốc Nam Kỳ]], [[Dinh Norodom|Dinh Toàn quyền]], được Pháp [[thiết kế]] và huy động nhân công xây dựng. Sau 2 năm người Pháp xây dựng và cải tạo, khu quy hoạch rộng khoảng 3 km² nói trên đã hoàn toàn thay đổi.<ref name="phap">{{Chú thích web|tiêu đề=Sài Gòn biến đổi và hình thành một thành phố theo kiểu phương Tây|url=http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/tp_chung_nhan_cua_dong_chay_ls/khang_chien_chong_phap/sai_gon_bien_doi_va_hinh_thanh_mot_thanh_pho_theo_kieu_phuong_tay?left_menu=1|nhà xuất bản=Website Thành phố Hồ Chí Minh|ngày truy cập=ngày 22 tháng 5 năm 2014|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20090415183847/http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/gioi_thieu/lich_su_van_hoa/lich_su/tp_chung_nhan_cua_dong_chay_ls/khang_chien_chong_phap/sai_gon_bien_doi_va_hinh_thanh_mot_thanh_pho_theo_kieu_phuong_tay?left_menu=1|ngày lưu trữ=2009-04-15|url-status=live}}</ref> Thành phố Sài Gòn khi đó được [[thiết kế]] theo mô hình [[châu Âu]], nơi đặt [[văn phòng]] nhiều cơ quan công vụ như: dinh thống đốc, nha giám đốc nội vụ, [[tòa án]], tòa thượng thẩm, tòa sơ thẩm, tòa án thương mại, [[tòa giám mục]],... [[Nam Kỳ Lục tỉnh]] là [[thuộc địa]] của [[Pháp]] và Sài Gòn nằm trong [[Gia Định (tỉnh)|tỉnh Gia Định]]. Vào năm [[1861]], địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là [[kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè|rạch Thị Nghè]] và [[kênh Tàu Hủ - Bến Nghé|rạch Bến Nghé]] với một bên là [[sông Sài Gòn]] cùng con đường nối liền [[chùa Cây Mai]] với những phòng tuyến cũ của [[đồn Kỳ Hòa]]. | |||
==Các loại thuế== | ==Các loại thuế== | ||
Chính quyền thực dân Pháp thu lợi tức [[thuộc địa]] thông qua hệ thống các sắc thuế, nhiều loại thuế được đặt ra một cách vô lý. Các loại thuế phân chia theo hai loại: thu cho Ngân sách Đông dương (thuế quan, thuế [[rượu]], [[thuốc phiện]],...) và Ngân sách địa phương và các tỉnh ([[thuế thân]], thuế ruộng,...)<ref>[http://kketoan.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/132/1823/bai-viet-mot-so-sac-thue-ap-dung-tai-viet-nam-thoi-ky-phap-thuoc-ts-phan-thanh-hai Một số sắc thuế áp dụng tại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc], TS Phan Thanh Hải, Khoa Kế toán, Đại học Duy Tân, 18/06/2015.</ref>. Năm 1911, tổng số thuế Pháp thu về là 4,8 triệu đồng; năm 1920 là 6,2 triệu đồng, năm 1930 là 10 triệu đồng<ref>Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 158, Lửa Thiêng, Saigon, 1970</ref>. | Chính quyền thực dân Pháp thu lợi tức [[thuộc địa]] thông qua hệ thống các sắc thuế, nhiều loại thuế được đặt ra một cách vô lý. Các loại thuế phân chia theo hai loại: thu cho Ngân sách Đông dương (thuế quan, thuế [[rượu]], [[thuốc phiện]],...) và Ngân sách địa phương và các tỉnh ([[thuế thân]], thuế ruộng,...)<ref>[http://kketoan.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/132/1823/bai-viet-mot-so-sac-thue-ap-dung-tai-viet-nam-thoi-ky-phap-thuoc-ts-phan-thanh-hai Một số sắc thuế áp dụng tại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc], TS Phan Thanh Hải, Khoa Kế toán, Đại học Duy Tân, 18/06/2015.</ref>. Toàn quyền [[Paul Doumer]] cho thành lập ba ty để thu thuế thuốc phiện, rượu gạo và muối. Nguồn thu này giúp ông xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương cùng nhiều công trình cơ sở hạ tầng lớn khác, phát triển y tế và giáo dục<ref>https://thanhnien.vn/toan-quyen-dong-duong-paul-doumer-va-nhung-cau-chuyen-ve-ban-dap-thuoc-dia-1851066991.htm</ref>. Năm 1911, tổng số thuế Pháp thu về là 4,8 triệu đồng; năm 1920 là 6,2 triệu đồng, năm 1930 là 10 triệu đồng<ref>Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 158, Lửa Thiêng, Saigon, 1970</ref>. | ||
==Đánh giá== | ==Đánh giá== | ||
Những [[biến đổi xã hội]] trong thời này là nhiều [[Hàng hóa|mặt hàng]] mới, trong đó có nhiều [[thực vật]] được đưa vào [[Việt Nam]] từ [[châu Âu]], [[châu Mỹ]], [[châu Phi]] và cả những nước [[châu Á]] lân cận góp nguồn. [[Đồn điền]] cây cà phê (xuất phát từ [[châu Phi]]), [[cao su (cây)|cây cao su]] (từ [[Nam Mỹ]]) được quy hoạch và [[phát triển]], biến đổi hẳn bộ mặt đất nước, đưa dân lên miền núi khai thác và định cư. Ở miền xuôi thì trái cây nhiệt đới như [[chôm chôm]], [[măng cụt]] cũng được trồng, lấy giống từ [[Mã Lai]], [[Nam Dương]]. Ngoài ra nhiều loại rau như [[khoai tây]], [[súp lơ]], [[su hào|xu hào]], [[cà rốt]], [[tỏi tây]] nhập cảng từ [[Pháp]] được trồng quy mô kể từ năm [[1900]].<ref>{{Chú thích web |url=http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nhung-goc-nhin-van-hoa/997-bep-viet-n-truyen-thong-va-hien-dai-.html |ngày truy cập=2020-02-21 |tựa đề=Bếp Việt truyền thống và hiện đại |archive-date = ngày 29 tháng 9 năm 2010 |archive-url=https://web.archive.org/web/20100929021852/http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nhung-goc-nhin-van-hoa/997-bep-viet-n-truyen-thong-va-hien-dai-.html }}</ref> Nhiều [[Thức ăn đường phố|món ăn]] mới cũng theo chân [[người Pháp]] ra mắt ở [[Việt Nam]] như [[bánh mì]], [[bơ]], [[pho mát]], [[cà phê]] rồi trở thành quen thuộc. | |||
Sự cai trị của người Pháp giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên nếu so sánh với các nước châu Á khác thì trong suốt giai đoạn người Pháp cai trị Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, nền kinh tế Việt Nam có tổng sản lượng thấp nhất trong tất cả các nước được nghiên cứu<ref>https://viettimes.vn/su-that-ve-nen-kinh-te-viet-nam-trong-the-ky-20-post103648.html</ref><ref>Economic Divergence in East Asia: New Benchmark Estimates of Levels of Wages and GDP, 1913-1970 (Paul Valery University, Montpellier, and CEFI-CNRS, Aix-en-Provence, France and The Australian National University, Canberra, Australia)</ref>. | |||
Nền [[kinh tế Việt Nam]] vẫn chủ yếu dựa vào [[nông nghiệp]] với [[phương thức sản xuất]] không thay đổi trong hàng ngàn năm. [[Quan hệ sản xuất]] tại [[Đồng quê|nông thôn]] vẫn là quan hệ địa chủ – tá điền như [[Trung Cổ|thời Trung cổ]], còn tại [[Đô thị|thành thị]], [[chủ nghĩa tư bản]] chỉ mới manh nha xuất hiện. Người Việt có mức sống rất thấp, nghèo đói phổ biến trên toàn đất nước, đặc biệt ở miền Bắc và miền Trung. Ở nông thôn tồn tại mâu thuẫn giữa địa chủ và tá điền còn ở thành thị có sự tương phản giữa tầng lớp tư sản, quan chức cao cấp và thị dân lớp dưới. Người Pháp xây dựng một số cơ sở hạ tầng cơ bản tại An Nam. Hệ thống kinh tế mà Pháp đầu tư tại Việt Nam như các đồn điền cao su, mỏ than, các thành phố lớn, đường sắt, cảng biển là để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của họ chứ không phải để phục vụ lợi ích của dân bản xứ.<ref name="deville">Paris - Saigon - Hanoi, trang 44-47, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003</ref> | |||
Công nghiệp thời Pháp thuộc đã cung cấp một số sản phẩm và kỹ thuật mới như: điện, xi măng, diêm, bia, xà phòng, thuốc lá, thuỷ tinh, ô tô, xe đạp, tàu điện, tàu hoả, các sản phẩm cơ khí... Một số sản phẩm quen thuộc được sản xuất theo qui trình mới như nước máy, giấy, vải, thuốc lá... Nhờ sự giao thương mà lần đầu tiên, người Việt Nam được biết các sản phẩm của phương Tây, như: dầu hỏa và đèn dầu hỏa, thuốc lá điếu, diêm, xà phòng, sữa bò, kính đeo mắt, ô che mưa nắng, giầy dép, kính lắp cửa, các đồ dùng thủy tinh... làm thay đổi tiêu dùng nội địa. Trong những [[biến đổi xã hội]] vì sự xâm nhập của [[người Pháp]] là nhiều [[Hàng hóa|mặt hàng]] mới, trong đó có nhiều [[thực vật]] được đưa vào [[Việt Nam]] từ [[châu Âu]], [[châu Mỹ]], [[châu Phi]] và cả những nước [[châu Á]] lân cận góp nguồn. [[Đồn điền]] cây cà phê (xuất phát từ [[châu Phi]]), [[cao su (cây)|cây cao su]] (từ [[Nam Mỹ]]) được quy hoạch và [[phát triển]], biến đổi hẳn bộ mặt đất nước, đưa dân lên miền núi khai thác và định cư. Ở miền xuôi thì trái cây nhiệt đới như [[chôm chôm]], [[măng cụt]] cũng được trồng, lấy giống từ [[Mã Lai]], [[Nam Dương]]. Ngoài ra nhiều loại rau như [[khoai tây]], [[súp lơ]], [[su hào|xu hào]], [[cà rốt]], [[tỏi tây]] nhập cảng từ [[Pháp]] được trồng quy mô kể từ năm [[1900]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nhung-goc-nhin-van-hoa/997-bep-viet-n-truyen-thong-va-hien-dai-.html|tựa đề=Bếp Việt truyền thống và hiện đại|archive-url=https://web.archive.org/web/20100929021852/http://www.vanhoanghean.com.vn/tap-chi/nhung-goc-nhin-van-hoa/997-bep-viet-n-truyen-thong-va-hien-dai-.html|archive-date=ngày 29 tháng 9 năm 2010|ngày truy cập=2020-02-21}}</ref> Nhiều [[Thức ăn đường phố|món ăn]] mới cũng theo chân [[người Pháp]] ra mắt ở [[Việt Nam]] như [[bánh mì]], [[bơ]], [[pho mát]], [[cà phê]] rồi trở thành quen thuộc. | |||
Sau khi thiết lập được chính quyền tại Việt Nam, Pháp cũng đã thiết lập chế độ bảo hộ mậu dịch, dựng hàng rào thuế quan và áp dụng một số độc quyền có lợi cho hàng hoá Pháp. Nền kinh tế xuất hiện một số kỹ thuật có thể coi là hiện đại vào thời kỳ đó tạo ra một năng suất mới trong sản xuất và đời sống như kỹ thuật khai thác hầm mỏ, kỹ thuật chế biến lâm sản, tốc độ và chất lượng của giao thông liên lạc, kỹ thuật và chất lượng xây dựng... Công nghiệp đã góp phần mở rộng thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, một bộ phận dân cư trong nước, nhất là dân thành thị làm quen với những sản phẩm hiện đại phương Tây như điện, xà phòng, nước máy, thuốc lá, xi măng… Một số ngành sản xuất cổ truyền như lúa gạo, cà phê, chè, gỗ... có khả năng mở rộng sản xuất, để bước đầu vươn ra thị trường quốc tế. Công nghiệp còn tạo ra một đội ngũ công nhân và kỹ thuật viên Việt Nam tiếp thu kỹ thuật phương Tây.<ref name="congthuong" /> | |||
Số lượng công chức, chuyên gia mà Pháp đưa sang Việt Nam ít hơn 15 lần so với số lượng mà [[Đế quốc Nhật Bản]] đưa sang thuộc địa Triều Tiên trong cùng thời kỳ. Do quy mô nền công nghiệp của thực dân Pháp ở Việt Nam quá nhỏ, sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu nông nghiệp, việc thiếu năng lực thể chế có nghĩa là Việt Nam không có nền tảng để phát triển sau khi giành độc lập. Bởi những nguyên nhân này, ngay cả khoản viện trợ 115 tỷ USD (tính theo thời giá 2011) mà Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam (từ năm 1954 tới 1975) cũng không thể được sử dụng một cách hiệu quả.<ref>Aid and development in Taiwan, South Korea, and South Vietnam, Kevin Gray, WIDER Working Paper No. 2013/085, September 2013 [https://www.wider.unu.edu/sites/default/files/WP2013-085.pdf download]</ref> | Số lượng công chức, chuyên gia mà Pháp đưa sang Việt Nam ít hơn 15 lần so với số lượng mà [[Đế quốc Nhật Bản]] đưa sang thuộc địa Triều Tiên trong cùng thời kỳ. Do quy mô nền công nghiệp của thực dân Pháp ở Việt Nam quá nhỏ, sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu nông nghiệp, việc thiếu năng lực thể chế có nghĩa là Việt Nam không có nền tảng để phát triển sau khi giành độc lập. Bởi những nguyên nhân này, ngay cả khoản viện trợ 115 tỷ USD (tính theo thời giá 2011) mà Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam (từ năm 1954 tới 1975) cũng không thể được sử dụng một cách hiệu quả.<ref>Aid and development in Taiwan, South Korea, and South Vietnam, Kevin Gray, WIDER Working Paper No. 2013/085, September 2013 [https://www.wider.unu.edu/sites/default/files/WP2013-085.pdf download]</ref> | ||
| Dòng 94: | Dòng 145: | ||
==Tham khảo== | ==Tham khảo== | ||
{{tham khảo|30em}} | {{tham khảo|30em}} | ||
== Xem thêm == | |||
* [[Kinh tế Việt Nam thời Nguyễn]] | |||
* [[Kinh tế Việt Nam Cộng hòa]] | |||
* [[Kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] | |||
* [[Kinh tế Việt Nam]] | |||
{{sơ khai}} | {{sơ khai}} | ||
{{Lịch sử kinh tế Việt Nam}} | |||
[[Thể loại:Pháp thuộc]] | [[Thể loại:Pháp thuộc]] | ||
Phiên bản lúc 03:39, ngày 2 tháng 10 năm 2025
Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc là một nền kinh tế thuộc địa phát triển rất nhanh dưới sự bảo hộ của Pháp. Việt Nam có tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lương thực dồi dào nên Pháp coi Việt Nam là mảnh đất thuộc địa màu mỡ ở châu Á. Thời Pháp thuộc đã thúc đẩy mọi ngành kinh tế ở Việt Nam phát triển. Người Pháp khai hoang khiến nông nghiệp phát triển vượt bậc đồng thời họ cũng đem đến trình độ và phương thức sản xuất mới trong công nghiệp và dịch vụ. Các ngành tiểu thủ công nghiệp bản địa đang trên đà suy thoái cũng được Pháp hỗ trợ phát triển. Người Pháp xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam gồm đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay, các đô thị lớn mà đến ngày nay nền kinh tế Việt Nam vẫn đang vận hành dựa vào hệ thống này.
Tổng quan Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc”
Trong thời kỳ 1885–1900, kinh tế Việt Nam phát triển ở mức 7%/năm, khá cao so với các nước thuộc địa khác ở Đông Nam Á. Người Pháp bắt đầu khai hoang ở quy mô lớn tại Nam Kỳ bằng cách đào kênh nhằm tiêu úng, rửa phèn, cung cấp nước cho nông nghiệp. Việc đào kinh gia tăng từ năm 1880[1]:
- Năm 1880—1890 đào 2.110.000 mét khối đất. Năm 1890, diện tích ruộng là 932.000 mẫu, tăng 169.000 mẫu, so với thời Nguyễn.
- Năm 1890—1900 đào 8.106.000 mét khối. Năm 1900, diện tích ruộng là 1.212.000 mẫu, tăng 280.000 mẫu so với năm 1890.
Trong giai đoạn 1900 - 1920, Pháp đầu tư mạnh vào xây dựng cơ sở hạ tầng cùng các ngành công nghiệp như khai thác khoáng sản, cơ khí, chế biến nông sản... Các khu công nghiệp tập trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Hòn Gai xuất hiện làm cho số công nhân tăng nhanh... Tổng số công nhân Việt Nam tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ I có khoảng 100.000 người.[2]
Trong giai đoạn 1920–1940, trước áp lực khủng hoảng kinh tế thế giới vào thập niên 1930, kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, trong đó người bị tác động lớn nhất là người Việt. Tăng trưởng kinh tế lúc này giảm xuống từ 7,3% vào năm 1930 xuống còn 3,9% vào năm 1935. Sau đó Thế chiến thứ hai bùng nổ, Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng còn ở Đông Dương kinh tế suy thoái mạnh cho tới khi Nhật Bản tham chiến xâm lược và thành lập các chính quyền thân Nhật ở Đông Nam Á gây ra những biến động lớn về kinh tế tại các thuộc địa thời bấy giờ.
Giai đoạn 1940–1945, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam. Đầu tiên là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác còn khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật).
Sự kiện nổi bật nhất trong giai đoạn này là Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945. Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Trong khi Nhật thu gom gạo để chở về nước thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam.[3] Thời tiết là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền Bắc.
Sau năm 1945, kinh tế không còn phát triển mạnh như trước, bởi lẽ chiến tranh Đông Dương nổ ra khắp Việt Nam. Tăng trưởng giảm mạnh từ 4% trung bình mỗi năm còn 1,7% và kéo dài cho đến khi Pháp rút khỏi Đông Dương sau khi đã bàn giao toàn bộ bộ máy hành chính và quân đội lại cho Quốc gia Việt Nam. Kinh tế Việt Nam dần ổn định trở lại và đạt tới mức 6% trong năm 1954–1955.
Cơ cấu kinh tế Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc”
Nông nghiệp
Dưới thời Pháp thuộc, phương thức canh tác nông nghiệp không thay đổi trong hàng ngàn năm, quan hệ sản xuất tại nông thôn vẫn là quan hệ địa chủ - tá điền. Ngoài ra còn có thêm việc chiếm hữu diện tích lớn đất đai của thực dân Pháp và giáo hội Thiên Chúa giáo. Ở Bắc Kì, tính đến năm 1902, người Pháp đã chiếm hữu 182.000 héc ta đất trong đó có 50.000 héc ta ở các vùng trù phú nhất.[4] Sau khi chiếm đất, thực dân Pháp chủ yếu vẫn áp dụng phương pháp phát canh thu tô. Một số tư bản thực dân có kinh doanh trong những sở đồn điền mới theo lối tư bản chủ nghĩa, nhưng số này ít, chủ yếu là nhằm tận dụng nhân công rẻ mạt. Ngoài địa chủ Pháp, giáo hội Thiên Chúa chỉ riêng ở Nam Kỳ đã sở hữu 1/4 diện tích đất canh tác.[4] Theo thống kê phân bố ruộng đất ở miền Bắc trước năm 1945, chỉ có 4% dân số đã chiếm hữu tới 24,5% tổng số ruộng đất.[4] Còn lại phần lớn nông dân nghèo thì không có hoặc chỉ có rất ít đất canh tác. Những quan chức người Việt cộng tác với thực dân Pháp chiếm hữu được nhiều ruộng đất nhất. Tứ đại phú hộ ở Nam Kỳ thời đó đều là quan chức người Việt cộng tác với thực dân Pháp, họ được thực dân Pháp ưu tiên cấp cho những khu đất rộng và tốt nhất, lại được biết những thông tin về việc đào kênh mương nên biết rõ mua đất ở đâu là thuận lợi nhất. Thực dân Pháp thu được 235 triệu Franc (trong lúc tiền đầu tư chỉ 54 triệu Franc) tiền bán đất cho các điền chủ người Pháp và người Việt, trong đó giới điền chủ lớn đã chiếm 1.035.000 ha (riêng quan hội đồng Trần Trinh Trạch - cha công tử Bạc Liêu chiếm 145.000 ha), trong đó điền chủ người Pháp chiếm 308.000 ha ruộng tốt, gần sông rạch, điền chủ nhỏ từ 10-50 ha chiếm 620.000 ha, quan xã, thôn ấp chiếm 230.000 ha. Còn lại hơn 4 triệu nhân khẩu nông dân chỉ chia nhau hơn 500.000 ha[5]. Đầu năm 1945, nông dân chiếm 95% dân số Việt Nam nhưng làm chủ không quá 30% diện tích ruộng đất. Riêng tầng lớp nông dân nghèo (không có hoặc chỉ có rất ít ruộng đất) chiếm 60% dân số nông thôn, nhưng chỉ có khoảng 10% ruộng đất. Còn giai cấp địa chủ chiếm không tới 5% dân số nhưng chiếm hữu 70% ruộng đất.[6]
Cơ cấu giai cấp nông dân vận động theo hướng bần nông, cố nông ngày càng khốn khó; trung nông ổn định tương đối; địa chủ thì mở rộng sự chiếm hữu. Cuộc sống của nông dân Việt Nam phụ thuộc vào ruộng vườn, nhưng do việc địa chủ chiếm hữu ngày càng nhiều ruộng đất, diện tích đất canh tác bình quân ngày càng giảm, đến năm 1945 chỉ còn mức 0,18 ha (Thanh Hoá), 0,17 ha (Hà Tĩnh), 0,12 ha (Nghệ An); sản lượng lúa tính theo đầu người cũng giảm theo, trung bình chỉ còn 1,2 tạ/người/năm. Nông dân bị bần cùng hoá nhanh hơn bởi vì sự chuyển biến của nông nghiệp không theo kịp đà tăng dân số, phân chia ruộng đất bất bình đẳng. Diện tích gieo trồng tính theo đầu người ở bắc trung kỳ đã giảm 5 lần tính từ thời vua Tự Đức đến năm 1945 (ở mức 1 mẫu/người xuống mức 2 sào/người). Sản lượng lúa theo đầu người giảm một nửa tính từ những năm đầu thế kỷ 20 đến năm 1945 (ở mức 3,2 tạ/người/năm xuống 1,7 tạ/người/năm ở Thanh Hoá; 1,6 tạ/người/năm xuống 0,8 tạ/người/năm ở Nghệ An).[7] Tại Nam Kỳ, đất đai phì nhiêu nhưng nông dân chỉ vừa đủ ăn. Trung bình điền chủ thâu 80% số lúa thu hoạch được. Trung bình đất tốt được 1600kg lúa mỗi mẫu, đất xấu khoảng 1000kg. Mỗi người tiêu thụ khoảng 200kg, không kể để làm rượu, chăn nuôi, thì tá điền chỉ còn đủ lúa để mua sắm ăn chơi trong mấy ngày Tết rồi ra giêng thì bắt đầu vay nợ mới. Ngay từ cuối những năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã mô tả nông dân Việt Nam như sau: “Ruộng bị Tây chiếm hết, không đủ mà cày. Gạo bị nó chở hết, không đủ mà ăn. Làm nhiều, được ít, thuế nặng... Đến nỗi chết đói, hoặc bán vợ đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ như những người nó chở đi Tân thế giới...” [8]. Miền Bắc Việt Nam thường rơi vào tình trạng đói kém khi mất mùa hoặc gặp thiên tai, lũ lụt. Trong nạn đói năm Ất Dậu làm 2 triệu người chết, tỷ lệ chết đói cao nhất là những nông dân không có đất canh tác.
Ở Nam Kỳ, người Pháp sớm nhận thấy tiềm năng thu lợi nhuận từ nông nghiệp của vùng này[9]. Tại đây, tính đến năm 1936, Pháp đã đào được 1360 km kênh chính, 2500 km kênh phụ với kinh phí lên đến 58 triệu Franc. Hệ thống kênh đào được thực hiện trong khoảng 80 năm ở Nam Kỳ đã làm thay đổi hẳn diện mạo nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long khiến diện tích đất canh tác được mở rộng, sản lượng lúa mỗi ngày một tăng, hình thành nên thị trường hàng hóa nông nghiệp. Giao thông vận tải cũng phát huy hiệu quả qua hệ thống đường thủy.[10] Trong nửa thế kỷ (1880-1937), diện tích trồng lúa tăng lên 420% (1880: 522.000 mẫu; 1937: 2,2 triệu mẫu), số lúa xuất cảng tăng lên 545% (1880: 284.000 tấn; 1937: 1,5 triệu tấn), số dân tăng 260% (1880: 1,7 triệu, 1937: 4,5 triệu)[11]

Ở Bắc bộ thì tình hình lại xấu hơn nhiều. Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc (1884-1945), người Pháp vẫn không thể trị thủy sông Hồng. Do các lần vỡ đê vào các năm 1893, 1899, 1904, 1905, 1911, 1913 và khủng khiếp nhất là năm 1915, khiến cho Bắc bộ điêu tàn. Năm 1915, 4 tỉnh hữu ngạn sông Hồng (Hà Nội, Hà Đông, Ninh Bình, Nam Định) bị lụt suốt 3 tháng, diện tích lúa mất trắng lên tới 221.000 ha, 200 người bị chết đuối. Năm 1926 vỡ đê sông Hồng, sông Luộc, sông Tiên Lãng, trong lúc mực nước mới đạt 11,92 m. Giai đoạn 1927-1944 đê sông Hồng không vỡ, nhưng năm 1936 vỡ đê sông Đuống do nguyên nhân chủ quan. Năm 1941, 1942 đập Đáy tiếp tục được thử với lũ nhỏ nhưng lần nào cũng xảy ra sự cố. Việc phân lũ qua sông Đáy bị quên lãng cho đến cách mạng tháng Tám[5]. Sau Cách mạng tháng 8, ngày 11/10/1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam họp phiên toàn thể về tu bổ đê, quyết dốc ngân khố kêu gọi nhân dân góp tiền của và công sức sửa sang đê. Nhưng quân Pháp quay lại tấn công, Mật lệnh 48/ZN ngày 11/1/1952 của Vullemey, chỉ huy quân viễn chinh Pháp lệnh “Phải phá một cách có hệ thống các đập nước và tất cả các phương tiện tưới ruộng”. Cho đến năm 1954, hệ thống thủy nông toàn miền Bắc hầu như bị phá hủy, làm cho nạn lụt lội, hạn hán các năm 1952, 1953, 1954 rất trầm trọng, diện tích tưới từ 227.500 ha tụt xuống chỉ còn 26.200 ha[12].

Năm 1904, Pháp bắt đầu trồng cao su ở Nam Kỳ với quy mô lớn. Năm 1918, Pháp sở hữu một diện tích đất 184.700 ha ở Nam Kỳ trong đó có 7000 ha dùng trồng cao su. Trong 25 năm, số diện tích canh tác tăng gấp đôi và sản lượng tăng lên gấp 20 lần: năm 1920 : 70000 mẫu đồn điền, 3000 tấn cao su; 1930 : 80000 mẫu, 8000 tấn; 1940 : 97300 mẫu, 58000 tấn; 1945 : 138400 mẫu, 77400 tấn. Đồn điền cao su ở miền Đông Nam Kỳ tập trung trong tay 5 đại công ty của Pháp. Ngoài các công ty lớn do Pháp làm chủ còn có độ 60 đồn điền cao su nhỏ, diện tích trên dưới 100 mẫu của người Việt. Từ khi khai thác cao su ở Nam Kỳ, số xuất cảng cao su ở Nam Kỳ đã chiếm một tỷ lệ quan trọng trong tổng giá trị xuất cảng ở Đông Dương: năm 1936 chiếm 14,3%, năm 1937 : 18%, năm 1939 : 27,4%. Trong vòng 10 năm (1928-1939) trị giá cao su xuất cảng đã tăng lên gấp 7 lần, từ 11 triệu quan năm 1928 lên đến 96 triệu năm 1939.[13]
Chính sách bóc lột nhân công biểu hiện rõ trong việc khai thác đồn điền cao su. Năm 1939, 19 công ty cao su Đông Dương lời được 309 triệu quan, trong khi số lương trả cho nhân công chỉ 40 triệu.[14] Bị bóc lột và đói khổ, công nhân cao su bỏ trốn quay trở về quê do đó nhu cầu mộ phu là vấn đế cấp thiết. Mỗi công nhân được tuyển dụng, người mộ phu sẽ được trả từ 10 đến 20 đồng khiến người ta thực hiện cưỡng ép tại một số vùng nông thôn tạo ra sự bất bình mà điển hình là vụ ám sát người chuyên mộ phu cao su René Bazin năm 1929 đã khiến hơn 200 đảng viên Quốc Dân Đảng bị bắt giam và 76 người bị cầm tù. Des Rousseaux trong một báo cáo mật gởi cho Toàn Quyền Đông Dương viết "Người nông dân chỉ chấp nhận rời khỏi làng đi làm việc nơi khác là khi nào họ bị đói. Do đó phải đi đến kết luận lạ lùng cho phương thuốc thiếu nhân công [ở đồn điền] là phải bần cùng hóa nông thôn, rút bỏ các khoản trợ cấp, hạ giá nông sản...[15]".
Công nghiệp
Sau khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị tại Việt Nam, đầu thế kỷ XX, các công ty Pháp bắt đầu xây dựng một số cơ sở công nghiệp trong các ngành khai khoáng, cơ khí, rồi đến hệ thống công nghiệp dịch vụ và công nghiệp chế biến. Công nghiệp phát triển trên bốn lĩnh vực chủ yếu: khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí vận tải, và cuối cùng là các ngành công nghiệp chế biến.[16]
Quá trình công nghiệp hoá tiến triển chậm. Nền công nghiệp Việt Nam nhỏ bé và không hoàn chỉnh với các cơ sở sản xuất lớn là của tư bản Pháp còn công nghiệp bản địa chỉ gồm những doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Ngành công nghiệp không phát triển là chủ đích của thực dân Pháp không muốn để cho dân bản xứ lập công ty để cạnh tranh với các công ty của Pháp. Nước Pháp muốn duy trì nền công nghiệp bản xứ tại Đông Dương là nền sản xuất thủ công không đòi hỏi chất lượng nhân công cao mặc dù có những chỉ trích của những nhà công nghiệp và nhà kinh tế học ngay tại thời điểm đó.[17] Người Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp khai khoáng, cơ khí, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp nhẹ nhưng vẫn chưa hình thành nền tảng công nghiệp hoàn chỉnh tại Việt Nam, trong khi Nhật Bản đã xây dựng khá nhiều cơ sở công nghiệp tại các thuộc địa của họ như Triều Tiên, Mãn Châu[16]. Các dịch vụ như điện, nước... thời kỳ này phát triển tương đối chậm, lệ thuộc nhiều vào sự hình thành các đô thị[16].
Công nghiệp thời Pháp thuộc sử dụng nhân công giá rẻ nên có tỷ suất lợi nhuận cao nhưng sản lượng rất thấp. Công nghiệp mang tính chất thâm dụng lao động do nó chú trọng khai thác lao động giá rẻ của dân bản xứ hơn thâm dụng tư bản để nâng cao năng suất và sản lượng. Cho đến 1931, trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 750 triệu đồng Đông Dương, công nghiệp chỉ chiếm có 105 triệu, tức chỉ đạt 14%. Trong thập kỷ 1930, công nghiệp đã có một bước tiến xa hơn: tăng gấp đôi so với những gì Pháp đã làm ở đây trong vòng 70 năm (1860-1930). Đến năm 1938, trong tổng sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 1014 triệu đồng Đông Dương, công nghiệp chiếm 233,08 triệu, tức 22%. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ dân cư Việt Nam được hưởng những thành tựu của sự phát triển công nghiệp. Điện, nước máy, xà phòng, đường sắt, đường nhựa và điện tín vẫn còn xa lạ với nông thôn, người nghèo. Tính tới năm 1940, lượng điện tiêu thụ trên đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/107, lượng sắt thép sử dụng bằng 1/10 so với nước Pháp.[16]
Khai thác than đá là ngành công nghiệp dẫn đầu ở Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ XIX, số công nhân mỏ trên 4.000 người. Kỹ thuật khai thác chủ yếu còn là thủ công với sản lượng khoảng 10.000-12.000 tấn/năm. Đến năm 1913, sản lượng than đã tăng gấp 5, đạt tới nửa triệu tấn. Từ khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc, sản lượng than đạt 3-4 triệu tấn/năm. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929-1930, sản lượng than giảm xuống dưới mức 2 triệu tấn và chỉ tăng dần trở lại vào giữa thập kỷ 30. Năm 1937 đạt 2.308.000 tấn, 1939 đạt 2.615.000 tấn. Đa số than khai thác ra được xuất khẩu. Từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, tỷ lệ than sử dụng trong nước tăng lên. Đến năm 1939, tỷ lệ than xuất khẩu trong tổng sản lượng than vẫn còn ở mức 68%, trong đó khoảng 10-20% là xuất khẩu sang Pháp, phần còn lại xuất cho các nước thuộc Viễn Đông.[16]
Sau than là kẽm và thiếc, hai thứ này chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản lượng công nghiệp khai thác mỏ của Pháp ở Đông Dương. Đến năm 1936, sản lượng thiếc đã đạt tới 2.416 tấn/năm. Năm 1926, sản lượng kẽm đã đạt tới 62.000 tấn. Tới năm 1929, kẽm chiếm tới 9,7% trong tổng giá trị công nghiệp ở Đông Dương. Nhưng về sau, do giá kẽm trên thị trường thế giới giảm liên tục, nên việc khai thác kẽm sa sút dần. Việc khai thác các kim loại khác, ngoài kẽm và thiếc, không có gì đáng kể: đó là những mỏ crôm, kền ở Thanh Hoá, mỏ bạc ở Ngân Sơn, mỏ đồng ở Vạn Tài, mỏ sắt ở Linh Nham và Na Dương. Mỏ vàng ở Bồng Miêu đã từng có thời kỳ Pháp khai thác được khoảng 100 kg/năm, nhưng sau một số năm thì vàng cạn kiệt, chi phí khai thác quá tốn kém, không có lãi, nên mỏ này cũng ngừng hoạt động.[16]
Ngành khai thác khoáng sản tăng lên nhanh chóng vào sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất và đạt tới đỉnh cao là 18 triệu đồng tiền Đông Dương vào năm 1929. Nhưng sau đó, do khủng hoảng kinh tế thế giới, nó giảm sút nghiêm trọng, còn hơn một nửa. Đến cuối thập kỷ 30 và đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, nó đạt lên đỉnh cao nhất, khoảng 30 triệu đồng. Trước tình hình chiến sự ở Đông Dương, đặc biệt là sự khống chế của quân đội Nhật, việc khai thác mỏ của người Pháp cũng giảm sút nghiêm trọng, xuống còn 14 triệu đồng năm 1944 và hơn 4 triệu đồng năm 1945.[16]
Sau khi Pháp chiếm Bắc kỳ thì ngành công nghiệp vật liệu xây dựng mới phát triển mạnh. Cơ sở quan trọng đầu tiên là Nhà máy Xi măng Hải Phòng do Công ty Xi măng Portland nhân tạo Đông Dương xây dựng năm 1894 với 4 lò quay. Ngành sản xuất gạch và ngói phân tán ở tất cả các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Tuy nhiên, cũng có những nhà máy lớn, nổi tiếng ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Đáp Cầu, Biên Hoà... Những nhà máy cơ khí vận tải cũng hình thành như nhà máy đóng tàu biển Bason, những nhà máy sửa chữa và chế tạo toa xe lửa ở Gia Lâm, Vinh, Sài Gòn, một số nhà máy lắp ráp và sửa chữa ô tô như Avia, Star ở Hà Nội...[16]

Công nghiệp chế biến của Pháp ở Việt Nam về cơ bản là công nghiệp chế biến nông sản và lâm sản. Trong công nghiệp chế biến nông sản, ngành xay xát lúa gạo chiếm vị trí quan trọng nhất và cũng ra đời sớm nhất. Nhà máy xay xát đầu tiên được xây dựng tại Chợ Lớn vào năm 1870. Đến năm 1885, khắp Nam bộ đã có tới 200 xưởng xay xát. Đi kèm với nó là các nhà máy dệt bao đay, sữa chữa máy móc, xe cộ, thuyền bè... Đi đôi với ngành công nghiệp xay xát, có ngành công nghiệp nấu rượu nhằm giải quyết nhu cầu ngân sách cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Nấu rượu là độc quyền của chính quyền thuộc địa. Chỉ một hãng rượu Đông Dương tại Hà Nội đã xây dựng tới 4 nhà máy vào năm 1901, mỗi tháng dùng khoảng 3.000 tấn gạo để nấu rượu. Ngành công nghiệp đường cũng được phát triển.[16] Đến năm 1923, Công ty tinh lọc đường đã xây dựng nhiều nhà máy sản xuất đường ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Đến năm 1938, sản lượng đường đã lên tới 10.000 tấn. Pháp còn xây dựng một số nhà máy bia khá lớn. Ở Nam kỳ, Hãng Victor Larue có tới 14 nhà máy. Ở Bắc kỳ, Công ty Bia Hommel đã xây dựng một nhà máy lớn ở Hà Nội, vừa sản xuất bia, vừa sản xuất nước đá và nước có ga.[16] Công nghiệp chế biến lâm sản bắt đầu phát triển từ đầu thế kỉ XX. Ba ngành quan trọng nhất thuộc lĩnh vực này là giấy, gỗ và diêm. Đến thập kỷ 1930 đã xuất khẩu sang các thị trường Hồng Kông, Singapore, Nhật. Từ năm 1913, Pháp đã thành lập Công ty Giấy Đông Dương. Công ty này có hai nhà máy Nhà máy Giấy Việt Trì và Nhà máy Giấy Đáp Cầu. Năm 1891, Pháp xây dựng một nhà máy sản xuất diêm đầu tiên ở Hà Nội. Đến năm 1897, Pháp lập một nhà máy diêm lớn hơn tại Bến Thủy (Nghệ An). Đến năm 1899, Schneider lập thêm một xưởng nữa ở Hà Nội.[16]
Ngành công nghiệp nhẹ lớn nhất của Pháp ở Việt Nam là ngành công nghiệp dệt. Nhà máy dệt đầu tiên được xây dựng vào năm 1890, tại miền Nam. Đến năm 1900, A.Dadre và Dupré lập ra ở Nam Định một nhà máy dệt lớn, đứng hàng thứ 3 trong số 269 công ty của Pháp, đạt lợi nhuận tới 52.000.000 FF năm 1939. Từ năm 1903, cũng đã xuất hiện ngành công nghiệp tơ lụa. Những nhà máy đầu tiên sản xuất lụa được lập ra ở Trung kỳ, chủ yếu ở Quảng Nam. Ở Bắc kỳ, cũng thời kì này, Dadre đã xây dựng một nhà máy tơ ở Nam Định. Tất cả những sản phẩm của nhà máy tơ lụa đều được xuất khẩu sang Pháp.[16]
Ngoài những lĩnh vực công nghiệp kể trên, Pháp còn mở một số ngành công nghiệp khác khác nữa, nhưng quy mô không lớn, vì nhu cầu của xã hội về các mặt hàng này còn thấp: Nhà máy sản xuất xà phòng ở Hải Phòng xây dựng năm 1899; Xưởng in của Schneider tại Hà Nội sử dụng 150 công nhân, cũng lập ra năm 1899; Các nhà máy thủy tinh, chủ yếu là làm kính và vỏ chai lập ra ở Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội, Sài Gòn.[16] Các dịch vụ như điện, nước... thời kỳ này phát triển tương đối chậm, lệ thuộc nhiều vào sự hình thành các đô thị[16].
Công nghiệp bản xứ của Việt Nam phần lớn hoạt động trong ngành chế biến, với những xí nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tỷ lệ nhỏ bé trong tổng số vốn đầu tư, trong sản lượng công nghiệp, số lao động sử dụng cũng rất ít. Người Việt chiếm lĩnh một số lĩnh vực mà Pháp và Hoa kiều ít đặt chân tới, đó là sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ cho người Việt. Phần lớn các nhà kinh doanh công nghiệp Việt Nam cũng đồng thời là những người có đầu óc dân tộc, yêu nước, có những hoạt động xã hội.[16] Thủ công nghiệp Việt Nam từng có quá khứ huy hoàng nhưng đã suy tàn nên được Pháp khuyến khích và khai thác. Các nghề thủ công có những khiếm khuyết như thiếu công nghệ hiện đại, thiếu tính sáng tạo, nhàm chán, lặp lại và đặc biệt không phù hợp với thị hiếu Châu Âu. Chính quyền thuộc địa chủ trương củng cố những nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống bằng cách đào tạo lao động tại chỗ, cải thiện chất lượng sản phẩm để có thể dễ dàng tiêu thụ. Nhiều khoá tập huấn nghề đã được thực hiện ở các tỉnh Hà Đông, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội. Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ mới vẫn hạn chế khiến năng suất lao động thấp.[18]
Thủ công nghiệp Việt Nam từng có quá khứ huy hoàng nhưng đã suy tàn nên được Pháp khuyến khích và khai thác. Các nghề thủ công có những khiếm khuyết như thiếu công nghệ hiện đại, thiếu tính sáng tạo, nhàm chán, lặp lại và đặc biệt không phù hợp với thị hiếu Châu Âu. Chính quyền thuộc địa chủ trương củng cố những nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống bằng cách đào tạo lao động tại chỗ, cải thiện chất lượng sản phẩm để có thể dễ dàng tiêu thụ. Nhiều khoá tập huấn nghề đã được thực hiện ở các tỉnh Hà Đông, Nam Định, Bắc Ninh, Hà Nội. Tuy nhiên, ứng dụng công nghệ mới vẫn hạn chế khiến năng suất lao động thấp.[19]
Thương nghiệp


Nhìn chung hoạt động ngoại thương chủ yếu do tư bản Pháp và tư bản người Hoa nắm giữ. Các công ty Pháp như Denis Frères, Boy Landry, Poinsart Veyret, Deconrs Cabaus và Liên đoàn Thương mại Đông Dương và châu Phi (L.U.C.I.A) nắm giữ hầu hết các hoạt động ngoại thương của Việt Nam. Hàng hóa xuất khẩu chính là gạo, cao su và các loại nông sản khác từ Nam Kỳ; than đá, khoáng sản từ Bắc Kỳ. Hàng nhập khẩu chủ yếu là sản phẩm công nghiệp. Thị trường xuất chính là Trung Quốc, Hong Kong, Nhật Bản, Philippines, Pháp, Mỹ và một số nước châu Âu. Pháp là thị trường quan trọng nhất, chiếm tới 29,6% hàng nhập trong những năm 1911- 1920. Gạo là mặt hàng xuất sang Pháp nhiều nhất, đến 250.000 tấn trong các năm 1909 - 1913. Thông qua các đạo luật về thuế quan, người Pháp ngày càng buộc chặt thị trường Việt Nam vào thị trường Pháp. Hàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam chịu mức thuế suất thấp hoặc được miễn thuế còn hàng hóa nước khác bị đánh thuế rất nặng.[20]
Mức đầu tư của tư bản Pháp, từ 1924 đến 1939, vào ngành thương mại là 421 triệu france Pháp, chiếm 5,6% tổng số đầu tư tư nhân Pháp tại Việt Nam. Số tư bản này chủ yếu trong các lĩnh vực nhập khẩu và xuất khẩu, mà trước hết là xuất, nhập khẩu với chính quốc và với các thuộc địa Pháp. Trong giai đoạn đầu, hoạt động thương nghiệp của Pháp chủ yếu tập trung ở các thương cảng: các tàu Pháp đem hàng vào bán, rồi thông qua các đại lý mua hàng để xuất khẩu.[16]
Ngoài việc kinh doanh xuất nhập khẩu, Pháp độc quyền kinh doanh đối với 3 sản phẩm quan trọng là muối, rượu, thuốc phiện để nâng giá 3 mặt hàng này lên rất cao, rồi thông qua độc quyền, hoặc cưỡng bức tiêu thụ để thu tiền cho ngân sách. Hồ Chí Minh đã nhận xét: "Nói đến các món độc quyền, người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo mập bị trói chặt và đương hấp hối dưới những cái mỏ quặp của một bầy diều hâu rỉa rói mãi không thấy no". Cách kinh doanh theo lối độc quyền của chính phủ thực dân dựa trên nhu cầu của dân bản xứ để bòn rút họ: một thói hư - thuốc phiện, một thói quen - rượu, một nhu cầu cơ bản - muối đã tạo ra nhiều lãi và đóng góp tới 60-70% tổng thu ngân sách.[16]
Thuốc phiện là mặt hàng được Pháp công khai buôn bán, khuyến khích người Việt sử dụng chứ không bị cấm như ở chính quốc. Lợi nhuận từ thuốc phiện đã đóng góp tới 25% vào ngân sách của Pháp ở Đông Dương. Tổng ngân sách năm 1905 là 32 triệu đồng Đông Dương, trong số này nguồn thu từ độc quyền bán thuốc phiện là 8,1 triệu. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận Pháp thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương.[21] Riêng việc phân phối bán lẻ là để cho tư nhân, đa số là người Hoa.[22] Thập niên 1930, cứ một nghìn làng thì có đến 1.500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có 10 trường học. Nạn nghiện thuốc phiện trở thành một vấn nạn nghiêm trọng trong xã hội Việt Nam[23]. Pháp đề ra quy định các làng phải mua số rượu tối thiểu tính theo dân số. Pháp ấn định trên thực tế mức rượu mà mỗi người bản xứ buộc phải uống hàng năm, kể cả người già, phụ nữ, trẻ em, cả đến trẻ em còn bú mẹ[24].
Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut từng có thư gửi viên Công sứ dưới quyền: [24]
- Tôi trân trọng yêu cầu ông vui lòng giúp đỡ những cố gắng của Nha Thương chính trong việc đặt thêm đại lý bán lẻ thuốc phiện và rượu, theo chỉ thị của ông Tổng giám đốc Nha Thương chính Đông Dương.
- Để tiến hành việc đó, tôi xin gửi ông một bản danh sách những đại lý cần đặt trong các xã đã kê tên; phần lớn các xã này, tới nay, vẫn hoàn toàn chưa có rượu và thuốc phiện. Qua các Tỉnh trưởng và các Xã trưởng Cao Miên, ông có thể dùng ảnh hưởng to tát của ông để làm cho một số tiểu thương người bản xứ thấy rằng buôn thêm rượu và thuốc phiện là rất có lợi.
- Chúng ta chỉ có thể đạt kết quả mỹ mãn, nếu chúng ta hợp đồng với nhau chặt chẽ và liên tục, vì lợi ích tối cao của ngân khố."
Người Hoa đóng vai trò đáng kể trong việc nhập cảng và tiêu thụ nội địa. Về xuất khẩu, người Hoa chiếm phần lớn nhất trong việc thu gom, xay giã và xuất khẩu lúa gạo mà Chợ Lớn là trung tâm qui tụ nguồn lúa gạo của toàn đồng bằng Nam Bộ. Về nhập khẩu, người Hoa gần như độc quyền trong việc nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng từ Nhật Bản, Singapore, nhất là từ Hồng Kông và Thượng Hải, gồm vải vóc, thực phẩm, dụng cụ gia đình, nến, giấy, bút mực, diêm, giầy dép, quần áo... là những thứ mà Pháp không quan tâm, hoặc có kinh doanh nhưng giá đắt hơn do chí phí vận tải quá lớn.[16]
Cơ sở hạ tầng Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc”
Giao thông vận tải
Để phục vụ mục đích khai thác thuộc địa người Pháp xây dựng khá nhiều cơ sở hạ tầng tại Việt Nam như hệ thống đường sắt, đường bộ, cảng biển, sân bay, điện tín, điện lực, các thành phố lớn...
Năm 1881 Pháp khởi công xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên đi từ Sài Gòn đến Mỹ Tho dài khoảng 70 km. Ngày 20 tháng 7 năm 1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ Ga Sài Gòn, vượt Sông Vàm Cỏ Đông bằng phà tại Bến Lức, đến Ga cuối cùng tại Trung tâm Thành phố Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của hệ thống đường sắt Việt Nam. Đến tháng 5 năm 1886 toàn bộ các cầu trên tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã hoàn thành cho phép tàu chạy một mạch tới Mỹ Tho.
- Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng;
- Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng;
- Năm 1906, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Lào Cai;
- Năm 1931, Pháp xây dựng xong Đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt;
- Năm 1933, Pháp xây dựng xong Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh;
- Năm 1899 - 1936, Pháp xây dựng xong tuyến Đường sắt Bắc Nam
Ba mươi năm đầu tiên của thế kỷ XX, để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, Pháp đã xây dựng một hệ thống đường sắt từ Bắc vào Nam nhằm phục vụ công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa của họ.[25] Đến năm 1936, người Pháp xây dựng xong đường sắt Bắc Nam với tổng chiều dài 2600 km[26] Từ 1900 đến 1935, Pháp đã sử dụng 145 triệu franc để lập đường xe lửa và 45 triệu franc để mở mang đường sá[27].
Đường thiên lý Bắc Nam được xây dựng dưới triều Nguyễn được người Pháp nâng cấp, mở rộng, gọi là đường thuộc địa số 1. Cùng với xây dựng đường số 1, dài khoảng 2000km, các trục đường thuộc địa khác cũng được xây dựng như các trục đường số 2,3,4,5,6 ..ở miền Bắc; trục đường: 7,8,9,11,12 (cũ),14... ở miền Trung và các trục đường 13, 15,16,51, 20, 21 (cũ), 22, Sài Gòn – Cà Mau (đường số 1 kéo dài)... Đến năm 1919 người pháp đã xây dựng 21 con đường thuộc địa. Tổng chiều dài các đường thuộc địa khác ngoài đường số 1 là khoảng trên 6.600km được rải đá. Các trục đường bộ song song với các tuyến đường sắt được nâng cấp, trở thành các trục đường liên tỉnh như: Đường 2, đường 70 ( Hà Nội - Tuyên Quang- Lào Cai) đường 3 ( Hà Nội -Thái Nguyên – Cao Bằng), đường 5 (Hà Nội - Hải Phòng). Hàng trăm cây cầu kiên cố cũng được xây dựng, trong đó có các cầu lớn như Cầu Bình Lợi (Sài Gòn) cầu Gềnh (Đồng Nai), Đà Ràng (Tuy Hòa), cầu Bạch Hổ (Huế): cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), Cầu Long Biên (Hà Nội)... Pháp cũng xây dựng các trục đường tỉnh và vươn tới nhưng vùng xa xôi hẻo lánh, có các mỏ quặng, than đá và vùng biên giới. Điển hình là các trục đường: Hà Nội- Cao Bằng, Việt Trì- Tuyên Quang, Vinh- Sầm Nưa. Đầu thế kỷ 20, Pháp đã làm được 20.000km đường bộ. Đến năm 1930, Pháp đã mở được 15.000 km đường bộ, trong đó khoảng 2.000 km đường rải nhựa.[26]
Ngoài ra họ còn thiết lập hệ thống cảng biển, cảng sông với các cảng nổi tiếng, có quy mô lớn trong khu vực thời bấy giờ như Cảng Sài Gòn, Cảng Hải Phòng. Năm 1862 mở cửa biển Đà Nẵng, Cam Ranh, cảng Hải Phòng được xây dựng vào năm 1876, cảng Sài Gòn được xây dựng vào năm 1884. Tiếp theo là các cảng Bến Thủy, Quy Nhơn, Hòn Gai, Cẩm Phả...Trong những năm đầu đã có tàu buôn của các nước Anh, Trung Quốc, Hà Lan đến buôn bán trao đổi hàng hóa và cạnh tranh với người Pháp. Mạng lưới vận tải đường sông của vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và các sông lớn miền Trung cũng được khai thác triệt để. Các cảng sông số lượng tàu thuyền tăng đáng kể, năm 1939 cảng Hà Nội có 5886 tàu thuyền, Quảng Yên có 5.108 tàu thuyền, cảng Mỹ Tho có 171 tàu thuyền, cảng Nam Định có 1.402 tàu thuyền. Riêng tại Nam bộ người Pháp đã sử dụng các sông Mỹ Tho, Vàm Cỏ, Rạch Cát, Mang Thít, Rạch Giá ...để chở lúa gạo. Lực lượng tàu vận tải đường sông tiêu biểu thời đó có các Hãng Sô Va (người Pháp), Bạch Thái Bưởi, Vĩnh Long ( người Việt Nam). Đến đầu thế kỉ XX, đặc biệt là từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, hoạt động vận tải đường thủy, đặc biệt là vận tải biển được phát triển[28].
Riêng hệ thống sân bay thời Pháp đến năm 1945, Việt Nam có khoảng 11 sân bay, bao gồm: Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Gia Lâm, Cát Bi, Bạch Mai, Đồng Hới, Huế, Nha Trang, Cà Mau, Phan Thiết, Sóc Trăng... Trong đó sân bay Đồng Hới và sân bay Tân Sơn Nhất được xây dựng vào năm 1930. Sân bay Đà Nẵng được xây dựng năm 1940. Chuyến bay đầu tiên từ Paris đến Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất là vào năm 1933 kéo dài 18 ngày.[26]
Tóm lại, dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1890 đến năm 1945, Việt Nam có một giai đoạn phát triển hạ tầng giao thông toàn diện và cơ bản nhất trên quy mô toàn quốc với các loại hình: đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và cảng hàng không...phục vụ cho các hoạt động giao thương cho những năm sau này ở Việt Nam[26]. Bên cạnh đó người Pháp còn xây dựng các thành phố lớn từ những đô thị có sẵn như Hà Nội, Sài Gòn hay thành lập mới như Hải Phòng, Đà Nẵng... Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng[29] đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam.
Đô thị
Bên cạnh đó người Pháp còn xây dựng các thành phố lớn từ những đô thị có sẵn như Hà Nội, Sài Gòn hay thành lập mới như Hải Phòng, Đà Nẵng...

Ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội. Thành phố Hà Nội lúc này có diện tích nhỏ bao gồm 2 huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức. Phạm vi thành phố bó hẹp nằm trong khu vực Phố Huế, Đại Cồ Việt, Khâm Thiên, Giảng Võ, Đường Thụy Khuê, Hồ Tây đến cầu Long Biên. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là Tiểu Paris phương Đông thời bấy giờ. Nhờ sự quy hoạch của người Pháp, thành phố dần có được bộ mặt mới. Lũy thành thời Nguyễn dần bị triệt hạ, đến năm 1897 hầu như bị phá hủy hoàn toàn,[30] chỉ còn lại Cột Cờ, Cửa Bắc với vết đạn năm 1873, Đoan Môn và lan can rồng đá ở trong hoàng thành cũ. Năm 1901, các công trình phủ Thống sứ, Nhà bưu điện, Kho bạc, Nhà đốc lý, Nhà hát lớn, Cầu Long Biên, Ga Hà Nội, những quảng trường, bệnh viện... được xây dựng. Hà Nội cũng có thêm trường đua ngựa, các nhà thờ Cơ Đốc giáo, trường Đại học Y khoa, Đại học Đông dương, Đại học Mỹ thuật, các trường Cao đẳng Pháp lý, Nông lâm cùng những nhà máy sản xuất rượu bia, diêm, hàng dệt, điện, nước... Khi những nhà tư bản người Pháp tới Hà Nội ngày một nhiều hơn, các rạp chiếu phim, nhà hát, khách sạn... dần xuất hiện, những con phố cũng thay đổi để phù hợp với tầng lớp dân cư mới.[31] Vào năm 1921, toàn thành phố có khoảng 4.000 dân châu Âu và 100.000 dân bản địa.[32]
Ngay sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, thực dân Pháp gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Đồ án thiết kế được Phó Đô đốc Pháp là Page (về sau là Charner) cử trung tá công binh Pháp là Paul Florent Lucien Coffyn (20/5/1810 – 5/8/1871), nguyên Lãnh sự Pháp ở Hoa Kỳ, thiết kế. Theo bản đồ của Coffyn được công bố vào ngày 13/5/1862, quy hoạch ban đầu của Sài Gòn bao gồm cả tỉnh Chợ Lớn với khoảng 500.000 dân (Saigon ville de 500.000 âmes), tức khoảng 20.000 dân/km²[33]. Quy hoạch này tương ứng với quy hoạch khu vực phòng thủ của tướng Nguyễn Cửu Đàm năm 1772, khi dân số Sài Gòn chỉ khoảng 20.000–30.000 người[33]. Nhưng đến 1864, nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, Soái phủ Pháp ở Nam Kỳ (Gouverneur Amiral de la Cochinchine) lúc đó là Chuẩn đô đốc Pierre Rose quyết định tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn. Ngày 3/10/1865, Pierre Rose ra lệnh quy hoạch lại Sài Gòn chỉ còn là khu vực nằm giữa rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và đường mới khu cầu Ông Lãnh hiện nay. Toàn bộ quy hoạch chỉ còn rộng khoảng 3 km²[33]. Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố, như Dinh Thống đốc Nam Kỳ, Dinh Toàn quyền, được Pháp thiết kế và huy động nhân công xây dựng. Sau 2 năm người Pháp xây dựng và cải tạo, khu quy hoạch rộng khoảng 3 km² nói trên đã hoàn toàn thay đổi.[34] Thành phố Sài Gòn khi đó được thiết kế theo mô hình châu Âu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như: dinh thống đốc, nha giám đốc nội vụ, tòa án, tòa thượng thẩm, tòa sơ thẩm, tòa án thương mại, tòa giám mục,... Nam Kỳ Lục tỉnh là thuộc địa của Pháp và Sài Gòn nằm trong tỉnh Gia Định. Vào năm 1861, địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa.
Các loại thuế Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc”
Chính quyền thực dân Pháp thu lợi tức thuộc địa thông qua hệ thống các sắc thuế, nhiều loại thuế được đặt ra một cách vô lý. Các loại thuế phân chia theo hai loại: thu cho Ngân sách Đông dương (thuế quan, thuế rượu, thuốc phiện,...) và Ngân sách địa phương và các tỉnh (thuế thân, thuế ruộng,...)[35]. Toàn quyền Paul Doumer cho thành lập ba ty để thu thuế thuốc phiện, rượu gạo và muối. Nguồn thu này giúp ông xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương cùng nhiều công trình cơ sở hạ tầng lớn khác, phát triển y tế và giáo dục[36]. Năm 1911, tổng số thuế Pháp thu về là 4,8 triệu đồng; năm 1920 là 6,2 triệu đồng, năm 1930 là 10 triệu đồng[37].
Đánh giá Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc”
Sự cai trị của người Pháp giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên nếu so sánh với các nước châu Á khác thì trong suốt giai đoạn người Pháp cai trị Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, nền kinh tế Việt Nam có tổng sản lượng thấp nhất trong tất cả các nước được nghiên cứu[38][39].
Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với phương thức sản xuất không thay đổi trong hàng ngàn năm. Quan hệ sản xuất tại nông thôn vẫn là quan hệ địa chủ – tá điền như thời Trung cổ, còn tại thành thị, chủ nghĩa tư bản chỉ mới manh nha xuất hiện. Người Việt có mức sống rất thấp, nghèo đói phổ biến trên toàn đất nước, đặc biệt ở miền Bắc và miền Trung. Ở nông thôn tồn tại mâu thuẫn giữa địa chủ và tá điền còn ở thành thị có sự tương phản giữa tầng lớp tư sản, quan chức cao cấp và thị dân lớp dưới. Người Pháp xây dựng một số cơ sở hạ tầng cơ bản tại An Nam. Hệ thống kinh tế mà Pháp đầu tư tại Việt Nam như các đồn điền cao su, mỏ than, các thành phố lớn, đường sắt, cảng biển là để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của họ chứ không phải để phục vụ lợi ích của dân bản xứ.[40]
Công nghiệp thời Pháp thuộc đã cung cấp một số sản phẩm và kỹ thuật mới như: điện, xi măng, diêm, bia, xà phòng, thuốc lá, thuỷ tinh, ô tô, xe đạp, tàu điện, tàu hoả, các sản phẩm cơ khí... Một số sản phẩm quen thuộc được sản xuất theo qui trình mới như nước máy, giấy, vải, thuốc lá... Nhờ sự giao thương mà lần đầu tiên, người Việt Nam được biết các sản phẩm của phương Tây, như: dầu hỏa và đèn dầu hỏa, thuốc lá điếu, diêm, xà phòng, sữa bò, kính đeo mắt, ô che mưa nắng, giầy dép, kính lắp cửa, các đồ dùng thủy tinh... làm thay đổi tiêu dùng nội địa. Trong những biến đổi xã hội vì sự xâm nhập của người Pháp là nhiều mặt hàng mới, trong đó có nhiều thực vật được đưa vào Việt Nam từ châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và cả những nước châu Á lân cận góp nguồn. Đồn điền cây cà phê (xuất phát từ châu Phi), cây cao su (từ Nam Mỹ) được quy hoạch và phát triển, biến đổi hẳn bộ mặt đất nước, đưa dân lên miền núi khai thác và định cư. Ở miền xuôi thì trái cây nhiệt đới như chôm chôm, măng cụt cũng được trồng, lấy giống từ Mã Lai, Nam Dương. Ngoài ra nhiều loại rau như khoai tây, súp lơ, xu hào, cà rốt, tỏi tây nhập cảng từ Pháp được trồng quy mô kể từ năm 1900.[41] Nhiều món ăn mới cũng theo chân người Pháp ra mắt ở Việt Nam như bánh mì, bơ, pho mát, cà phê rồi trở thành quen thuộc.
Sau khi thiết lập được chính quyền tại Việt Nam, Pháp cũng đã thiết lập chế độ bảo hộ mậu dịch, dựng hàng rào thuế quan và áp dụng một số độc quyền có lợi cho hàng hoá Pháp. Nền kinh tế xuất hiện một số kỹ thuật có thể coi là hiện đại vào thời kỳ đó tạo ra một năng suất mới trong sản xuất và đời sống như kỹ thuật khai thác hầm mỏ, kỹ thuật chế biến lâm sản, tốc độ và chất lượng của giao thông liên lạc, kỹ thuật và chất lượng xây dựng... Công nghiệp đã góp phần mở rộng thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, một bộ phận dân cư trong nước, nhất là dân thành thị làm quen với những sản phẩm hiện đại phương Tây như điện, xà phòng, nước máy, thuốc lá, xi măng… Một số ngành sản xuất cổ truyền như lúa gạo, cà phê, chè, gỗ... có khả năng mở rộng sản xuất, để bước đầu vươn ra thị trường quốc tế. Công nghiệp còn tạo ra một đội ngũ công nhân và kỹ thuật viên Việt Nam tiếp thu kỹ thuật phương Tây.[16]
Số lượng công chức, chuyên gia mà Pháp đưa sang Việt Nam ít hơn 15 lần so với số lượng mà Đế quốc Nhật Bản đưa sang thuộc địa Triều Tiên trong cùng thời kỳ. Do quy mô nền công nghiệp của thực dân Pháp ở Việt Nam quá nhỏ, sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu nông nghiệp, việc thiếu năng lực thể chế có nghĩa là Việt Nam không có nền tảng để phát triển sau khi giành độc lập. Bởi những nguyên nhân này, ngay cả khoản viện trợ 115 tỷ USD (tính theo thời giá 2011) mà Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam (từ năm 1954 tới 1975) cũng không thể được sử dụng một cách hiệu quả.[42]
Tham khảo Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc”
- ^ Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam - Phần II - Chương 2, Sơn Nam, Nxb Trẻ, 2014
- ^ http://congdoanquangnam.org.vn/Default.aspx?tabid=656&Group=11&NID=55&tom-tat-qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-giai-cap-cong-nhan-va-to-chuc-cong-doan-viet-nam-phan-1&language=en-US
- ^ 70 năm nạn đói lịch sử năm Ất Dậu: Hơn 2 triệu người chết chỉ trong nửa năm, Báo Lao động, 12/01/2015
- ^ a b c ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM, TẬP 2, trang 121, Đinh Xuân Lâm chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2000.
- ^ a b Hào hùng thủy lợi Việt Nam: Thời Pháp thuộc, báo Nông nghiệp Việt Nam, 11/11/2014
- ^ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VÀ QUAN HỆ ĐỊA CHỦ - TÁ ĐIỀN Ở NAM BỘ THỜI KỲ CẬN ĐẠI, Lâm Quang Huyên, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần thứ 3.
- ^ CHUYỂN BIẾN CỦA NÔNG NGHIỆP VÀ XÃ HỘI NÔNG THÔN BẮC TRUNG KỲ THỜI THUỘC PHÁP, Trần Vũ Tài, Khoa Lịch sử - Đại học Vinh
- ^ Phạm Xuân Nam, Chính sách xã hội trong Cách mạng tháng 8 năm 1945 và trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 11(96) - 2015 download
- ^ Hào hùng thủy lợi Việt Nam: Thời Pháp thuộc, báo Nông nghiệp Việt Nam, 11/11/2014
- ^ Nguyễn Thanh Lợi. Tạp chí Xưa &Nay, số 286, số 6, 2007
- ^ Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 181, Saigon: Lửa Thiêng, 1970
- ^ Hào hùng Thủy lợi Việt Nam: Kỳ tích trong gian khó, Báo Nông nghiệp Việt Nam, 11/11/2014,
- ^ QUÁ TRÌNH ĐẦU TƯ VÀ KHAI THÁC THUỘC ĐỊA VỀ CAO SU CỦA TƯ BẢN PHÁP Ở VIỆT NAM (1858-1945), Hội khoa học lịch sử Bình Dương, 25/07/2012
- ^ Huỳnh Lứa, Lịch sử phong trào công nhân cao su VN, trang 81, TPHCM : Nxb Trẻ, 2003
- ^ Huỳnh Lứa, Lịch sử phong trào công nhân cao su VN, trang 23, TPHCM : Nxb Trẻ, 2003
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945, Bộ Công thương Việt Nam, 22/07/2019
- ^ Huyền thoại đỏ và huyền thoại đen về giáo dục thuộc địa Đông Dương (Kỳ 2 "Huyền thoại đen") Lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, Nguyễn Thụy Phương, 21/12/2019, Tạp chí Tia Sáng
- ^ Tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Kỳ thời Pháp thuộc, Trần Thị Phương Hoa, Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (112) - 2017
- ^ Tiểu thủ công nghiệp ở Bắc Kỳ thời Pháp thuộc, Trần Thị Phương Hoa, Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (112) - 2017
- ^ https://kinhtedothi.vn/ngoai-thuong-viet-nam-thoi-phap-thuoc.html
- ^ Golden Triangle Opium Trade, an Overview, Bertil Lintner, 2000.
- ^ Logan, William S. Trang 79.
- ^ Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, trang 34-39.
- ^ a b Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, trang 35
- ^ "Lịch sử ngành đường sắt". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2011. Truy cập 2009.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|ngày truy cập=(trợ giúp) - ^ a b c d Giao thông Việt Nam thời Pháp (1890 – 1945). Đường thuộc địa, đường sắt và cảng sông, biển mở đầu phát triển hạ tầng giao thông Việt Nam Lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2020 tại Wayback Machine, Hội KHKT Cầu đường Việt Nam, 2014/12/2
- ^ Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 179, Saigon: Lửa Thiêng, 1970
- ^ [1]
- ^ Hơi chếch về mạn tây bắc. Xem bản đồ đồng bằng sông Hồng
- ^ Logan, William Stewart (2000). Hanoi: Biography of a City. UNSW Press. tr. 86. ISBN 9780868404431. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
- ^ "Hà Nội thời Pháp thuộc". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Papin, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Fayard. tr. 381–386. ISBN 2213606714.
- ^ a b c Quy hoạch Sài Gòn 1772 vượt xa tầm nhìn người Pháp 1865, Báo Tuổi trẻ, 22/03/2016
- ^ "Sài Gòn biến đổi và hình thành một thành phố theo kiểu phương Tây". Website Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014.
- ^ Một số sắc thuế áp dụng tại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, TS Phan Thanh Hải, Khoa Kế toán, Đại học Duy Tân, 18/06/2015.
- ^ https://thanhnien.vn/toan-quyen-dong-duong-paul-doumer-va-nhung-cau-chuyen-ve-ban-dap-thuoc-dia-1851066991.htm
- ^ Nguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ, trang 158, Lửa Thiêng, Saigon, 1970
- ^ https://viettimes.vn/su-that-ve-nen-kinh-te-viet-nam-trong-the-ky-20-post103648.html
- ^ Economic Divergence in East Asia: New Benchmark Estimates of Levels of Wages and GDP, 1913-1970 (Paul Valery University, Montpellier, and CEFI-CNRS, Aix-en-Provence, France and The Australian National University, Canberra, Australia)
- ^ Paris - Saigon - Hanoi, trang 44-47, Philippe Devillers, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003
- ^ "Bếp Việt truyền thống và hiện đại". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2020.
- ^ Aid and development in Taiwan, South Korea, and South Vietnam, Kevin Gray, WIDER Working Paper No. 2013/085, September 2013 download