Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lợi nhuận trên vốn”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
top: clean up, en:User:Monkbot/task 20: replace {lang-??} templates with {langx|??} ‹Xem Tfd› (Replaced 1);
n thêm nội dung và thêm chú thích
Thẻ: Đã bị lùi lại Thêm liên kết dưới Liên kết ngoài hoặc Tham khảo Soạn thảo trực quan
Dòng 27: Dòng 27:


Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay được đem so sánh với [[tỷ số lợi nhuận trên tài sản]] (ROA). Nếu tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn hơn ROA thì có nghĩa là [[đòn bẩy tài chính]] của công ty đã có tác dụng tích cực, nghĩa là công ty đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ lệ tiền lãi mà công ty phải trả cho các cổ đông.
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay được đem so sánh với [[tỷ số lợi nhuận trên tài sản]] (ROA). Nếu tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn hơn ROA thì có nghĩa là [[đòn bẩy tài chính]] của công ty đã có tác dụng tích cực, nghĩa là công ty đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ lệ tiền lãi mà công ty phải trả cho các cổ đông.

== Hạn chế ==
Mặc dù được sử dụng phổ biến, chỉ số ROE cũng tồn tại một số hạn chế nhất định:

* Chỉ số ROE có thể bị thổi phồng do doanh nghiệp sử dụng [[Đòn bẩy (tài chính)|đòn bẩy]] tài chính quá mức, làm tăng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu nhưng đồng thời kéo theo rủi ro mất cân đối tài chính.
* ROE phản ánh lợi nhuận kế toán chứ [[không đo lường]] dòng tiền thực tế, do đó dễ bị ảnh hưởng bởi các chính sách kế toán như khấu hap, ghi nhận doanh thu hoặc lợi nhuận bất thường.
* Việc so sánh ROE giữa cá doanh nghiệp ở những ngành khác nhau thường không chính xác, bởi mỗi ngành có đặc thù về cơ cấu vốn, mức độ rủi ro và [[Lợi nhuận ròng|lợi nhuận riêng]].
* Doanh nghiệp có thể cải thiện ROE trong ngắn hạn thông qua việc cắt giảm chi phí đầu tư hoặc tăng chi trả cổ tức, nhưng điều này không phản ánh sự [[bền vững]] của hoạt động kinh doanh về lâu dài.<ref>{{Chú thích web |title=ROE là gì? Cách tính, ý nghĩa và ứng dụng của chỉ số ROE {{!}} Zalopay |url=https://zalopay.vn/chi-so-roe-la-gi-2553 |access-date=2025-10-01 |website=ZaloPay.vn |language=vi}}</ref>


==Tham khảo==
==Tham khảo==
<references group=""></references>
<references></references>


* Phạm Văn Dược và Đặng Kim Cương (1995), ''Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh'', Nhà xuất bản Thống kê, [[Thành phố Hồ Chí Minh]], trang 262.
* Phạm Văn Dược và Đặng Kim Cương (1995), ''Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh'', Nhà xuất bản Thống kê, [[Thành phố Hồ Chí Minh]], trang 262.

Phiên bản lúc 07:31, ngày 1 tháng 10 năm 2025

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay Tỷ suất thu nhập của vốn cổ đông hay Chỉ tiêu hoàn vốn cổ phần của cổ đông (tiếng Anh: return on equity, viết tắt ROE) là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần. ROE được tính bằng cách lấy lãi ròng sau thuế chia cho tổng giá trị vốn chủ sở hữu dựa vào bảng cân đối kế toánbảng báo cáo tài chính cuối kỳ này(6 tháng đầu năm, 6 tháng cuối năm).

Công thức

ROE = 100% xLợi nhuận ròng sau thuế kỳ này
Tổng vốn chủ đầu kỳ

Ví dụ

Doanh nghiệp X dựa vào bảng cân đối kế toán cuối.kỳ này:

Lợi nhuận ròng sau thuế kỳ này là: 10.000.000đ

Tổng giá trị vốn chủ sở hữu đầu kỳ là: 100.000.000đ

ROE = 10.000.000/100.000.000 = 0,1 hay 10%

Điều này có nghĩa là 0,1 đồng lợi nhuận ròng đạt được từ 1 đồng vốn kinh doanh bỏ ra. Doanh nghiệp thường dùng chỉ số này để so sánh mức sinh lời từng quý của một doanh nghiệp hoặc của các doanh nghiệp khác nhau.

Ý nghĩa

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần này tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận. Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ.

Cũng như tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty. Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty cổ phần với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành.

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay được đem so sánh với tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA). Nếu tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn hơn ROA thì có nghĩa là đòn bẩy tài chính của công ty đã có tác dụng tích cực, nghĩa là công ty đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ lệ tiền lãi mà công ty phải trả cho các cổ đông.

Hạn chế

Mặc dù được sử dụng phổ biến, chỉ số ROE cũng tồn tại một số hạn chế nhất định:

  • Chỉ số ROE có thể bị thổi phồng do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, làm tăng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu nhưng đồng thời kéo theo rủi ro mất cân đối tài chính.
  • ROE phản ánh lợi nhuận kế toán chứ không đo lường dòng tiền thực tế, do đó dễ bị ảnh hưởng bởi các chính sách kế toán như khấu hap, ghi nhận doanh thu hoặc lợi nhuận bất thường.
  • Việc so sánh ROE giữa cá doanh nghiệp ở những ngành khác nhau thường không chính xác, bởi mỗi ngành có đặc thù về cơ cấu vốn, mức độ rủi ro và lợi nhuận riêng.
  • Doanh nghiệp có thể cải thiện ROE trong ngắn hạn thông qua việc cắt giảm chi phí đầu tư hoặc tăng chi trả cổ tức, nhưng điều này không phản ánh sự bền vững của hoạt động kinh doanh về lâu dài.[1]

Tham khảo

  1. ^ "ROE là gì? Cách tính, ý nghĩa và ứng dụng của chỉ số ROE | Zalopay". ZaloPay.vn. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  • Phạm Văn Dược và Đặng Kim Cương (1995), Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh, Nhà xuất bản Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 262.
  • Lê Thị Phương Hiệp (2006), Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, trang 119.
  • Nguyễn Minh Kiều (2009), Tài chính doanh nghiệp căn bản, Nhà xuất bản Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 97-98.

Xem thêm