Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hài hước”
Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.9.5 | Biên tập lại cả bài; đổi cỡ hình; sửa tên đề mục Thẻ: Soạn thảo trực quan Liên kết định hướng | ||
| Dòng 1: | Dòng 1: | ||
{{Wikify}}{{Cần biên tập}}{{dịch máy}} | {{Wikify}}{{Cần biên tập}}{{dịch máy}} | ||
[[Tập tin:Eduard von Grützner Falstaff.jpg|thumb| | [[Tập tin:Eduard von Grützner Falstaff.jpg|thumb|269x269px|[[Cười]] có thể hiểu là óc hài hước và trạng thái vui vẻ thỏa mãn, như trong bức tranh [[Falstaff]] của [[Eduard von Grützner]].]] | ||
'''Hài hước''' là một trạng thái | '''Hài hước''' là một trạng thái nhận thức và biểu đạt có khả năng khơi gợi tiếng cười, qua đó đáp ứng nhu cầu giải trí và tạo sự gắn kết xã hội. Thuật ngữ ''humour'' bắt nguồn từ thuyết dịch thể (''humorism'') trong [[y học Hy Lạp cổ đại]], vốn cho rằng sức khỏe và cảm xúc con người chịu ảnh hưởng bởi sự cân bằng của bốn loại “[[dịch cơ thể]]” ([[Latin]]: ''humor''). Từ đây, khái niệm hài hước dần được mở rộng, gắn liền với khả năng nhận biết và tạo ra những yếu tố gây cười. | ||
Con người ở mọi lứa tuổi | Con người ở mọi lứa tuổi và nền văn hóa có cách phản ứng khác nhau trước sự hài hước. Thông thường, nó được biểu hiện qua nụ cười hoặc tiếng cười, phản ánh một dạng [[tri giác]] [[xã hội]] phổ biến. Tuy nhiên, mức độ một cá nhân cho rằng điều gì đó “hài hước” phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như bối cảnh văn hóa, môi trường địa lý, tuổi tác, trình độ học vấn hay khả năng nhận thức. Ví dụ, trẻ em thường ưa chuộng các hình thức đơn giản, trực quan như trò [[múa rối]] ''Punch and Judy'' hoặc hoạt hình ''Tom and Jerry'', trong khi những hình thức phức tạp hơn như [[châm biếm]] hay mỉa mai lại đòi hỏi vốn hiểu biết xã hội và bối cảnh, do đó thường hấp dẫn khán giả trưởng thành. | ||
==Lý thuyết== | ==Lý thuyết== | ||
[[Tập tin:Aprilsnar 2001.png|thumb|Vào ngày [[Cá tháng Tư]] tại Đan Mạch, liên quan đến tàu điện ngầm mới của Copenhagen.]] | [[Tập tin:Aprilsnar 2001.png|thumb|Vào ngày [[Cá tháng Tư]] tại Đan Mạch, liên quan đến tàu điện ngầm mới của Copenhagen.]] | ||
[[Tập tin:Cyklisci dk ubt.JPG|thumb|Một số người cho rằng sự hài hước không thể hoặc không nên giải thích.]] | |||
[[Tập tin:Ricqles Civilite Puerile Moustache.jpg|thumb|Bưu thiếp từ Pháp vào những đầu thế kỷ 20. Minh họa bởi [[Henry Gerbault]].]] | [[Tập tin:Ricqles Civilite Puerile Moustache.jpg|thumb|Bưu thiếp từ Pháp vào những đầu thế kỷ 20. Minh họa bởi [[Henry Gerbault]].]] | ||
[[Tập tin:Van-Kessel-Festons-masques-Fondation-Custodia.jpg|thumb|Khuôn mặt hài hước với vỏ, sơn được thực hiện bởi Jan van Kessel the Elder (1626–1679)]] | [[Tập tin:Van-Kessel-Festons-masques-Fondation-Custodia.jpg|thumb|Khuôn mặt hài hước với vỏ, sơn được thực hiện bởi Jan van Kessel the Elder (1626–1679)]] | ||
[[Tập tin:Week z00.jpg|thumbnail|Hài hước không chủ ý]] | [[Tập tin:Week z00.jpg|thumbnail|Hài hước không chủ ý]] | ||
{{main|Các lý thuyết về sự hài hước}} | {{main|Các lý thuyết về sự hài hước}} | ||
Nhiều | Nhiều [[học thuyết]] đã được xây dựng nhằm lý giải sự tồn tại của tính hài hước và những chức năng xã hội mà nó đảm nhận. Các cách tiếp cận phổ biến thường đặt nền tảng trong [[tâm lý học]], với giả định chung rằng tác động của hài hước đối với con người chủ yếu mang tính tích cực. Một số học thuyết mang màu sắc [[tâm linh]] thậm chí còn coi hài hước là một “''món quà từ Thượng đế''”, hay là một hiện tượng cảm xúc mang tính [[huyền bí]], khó có thể giải thích bằng các khuôn khổ khoa học thông thường.<ref>[[Raymond Smullyan]], "The Planet Without Laughter", ''Cuốn Sách Này Không Cần Tiêu Đề''</ref>[[Tập tin:Cyklisci dk ubt.JPG|thumb|Một số người cho rằng sự hài hước không thể hoặc không nên giải thích.]]Trong số các lý thuyết [[Cận đại|đương đại]], lý thuyết “''vi phạm lành tính''” do [[:en:Peter_McGraw|Peter McGraw]] xác lập được coi là có ảnh hưởng rộng rãi. Học thuyết này cho rằng hài hước nảy sinh khi một sự việc vừa mang tính sai lệch, đe dọa hoặc gây lo ngại, nhưng đồng thời lại được nhận thức là vô hại hoặc có thể chấp nhận được trong bối cảnh xã hội cụ thể.<ref>[[Peter McGraw]], "Quá gần cho Comfort, hoặc Quá Xa để chăm sóc ? Việc tìm kiếm hài hước trong bi kịch Distant và Close rủi ro"</ref> Trên phương diện giao tiếp, hài hước thường đóng vai trò như một công cụ giúp xóa bỏ sự lúng túng, giảm nhẹ căng thẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho các mối tương tác xã hội. | ||
| ⚫ | Một số nhà nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng việc sử dụng hài hước một cách thích hợp có thể làm gia tăng tính gắn kết, qua đó giúp các tương tác giữa con người trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.<ref>[[Nicholas Kuiper]], "Prudence and Racial Humor: Troubling Epithets" {{full citation needed|date=September 2019}}</ref><ref>{{cite journal |last1=Kuiper |first1=Nicholas A. |last2=Aiken |first2=Audrey |last3=Pound |first3=Maria Sol |title=Humor use, reactions to social comments, and social anxiety |journal=Humor |date=2014 |volume=27 |issue=3 |page=424 |doi=10.1515/humor-2014-0072|s2cid=146821665 |postscript=,}} citing:{{bulleted list|{{cite journal |last1=Kuiper |first1=Nicholas A. |title=Humor and Resiliency: Towards a Process Model of Coping and Growth |journal=Europe's Journal of Psychology |date=2012 |volume=8 |issue=3 |pages=475–491 |doi=10.5964/ejop.v8i3.464 |doi-access=free|ref=none}}|{{cite journal |last1=Samson |first1=Andrea C. |last2=Lackner |first2=Helmut Karl |last3=Weiss |first3=Elisabeth M. |last4=Papousek |first4=Ilona |title=Perception of other people's mental states affects humor in social anxiety |journal=Journal of Behavior Therapy and Experimental Psychiatry |date=2012 |volume=43 |issue=1 |pages=625–631 |doi=10.1016/j.jbtep.2011.08.007 |pmid=21946039 |url=https://archive-ouverte.unige.ch/unige:98024 |ref=none}}}}</ref> | ||
Lý thuyết lành tính vi phạm, xác nhận bởi [[Peter McGraw]] đã cố gắng để giải thích sự tồn tại của sự hài hước. Lý thuyết này cho rằng 'hài hước chỉ xảy ra khi một cái gì đó có vẻ sai, đáng lo ngại, hoặc bị đe dọa, nhưng đồng thời có vẻ ổn, có thể được chấp nhận hoặc ở trạng thái an toàn'<ref>[[Peter McGraw]], "Quá gần cho Comfort, hoặc Quá Xa để chăm sóc ? Việc tìm kiếm hài hước trong bi kịch Distant và Close rủi ro"</ref> Hài hước có thể được sử dụng như một phương pháp để tham gia vào tương tác xã hội bằng cách làm mất đi cái cảm giác lúng túng, khó chịu hay các tương tác xã hội tiêu cực khác. | |||
| ⚫ | |||
==Các góc nhìn== | ==Các góc nhìn== | ||
Một số cho rằng sự hài hước không thể hoặc không nên giải thích. | Một số học giả cho rằng bản chất của sự hài hước không thể, hoặc không nên, được giải thích một cách rạch ròi. Nhà văn [[:en:E.B._White|E.B. White]] từng nhận xét rằng “hài hước có thể được mổ xẻ như một con ếch, nhưng nó sẽ chết trong quá trình đó, và những gì còn lại chỉ còn gây hứng thú đối với các bộ não khoa học thuần túy”.<ref>[http://www.quotationspage.com/quote/984.html Quotationspage.com]</ref> Theo quan điểm này, những nỗ lực phân tích hay phê phán phim hoạt hình mang tính châm biếm thường bị xem là hành động “[[Giải phẫu học|''giải phẫu'']]” sự hài hước, qua đó làm nổi bật thiếu sót của cá nhân hoặc tổ chức được nhắm đến. Việc lý giải hài hước không nhất thiết làm mất đi tính gây cười, nhưng có thể chuyển hướng sự chú ý sang bối cảnh [[chính trị]] hoặc các giả định xã hội rộng hơn (Khanduri, 2014).<ref>Ritu Gairola Khanduri. 2014. [http://www.cambridge.org/us/academic/authors/246935 Caricaturing Văn hóa ở Ấn Độ: Phim hoạt hình và Lịch sử thế giới hiện đại]. Cambridge: Cambridge University Press.</ref> | ||
[[Arthur Schopenhauer]] | Nhà triết học [[Arthur Schopenhauer]] lưu ý rằng trong [[tiếng Đức]], từ mượn ''Humor'' của [[tiếng Anh]] thường bị lạm dụng để chỉ mọi hình thức khôi hài. Tuy vậy, trong nghiên cứu, khái niệm “''hài hước''” thường được phân biệt với “''truyện tranh''”: trong khi [[truyện tranh]] thiên về sự giải trí đơn thuần, thì hài hước được xem như phản ứng trí tuệ, kết hợp giữa tính châm biếm và sự hóm hỉnh. Nhân vật [[Falstaff]] trong các tác phẩm của [[Shakespeare]] thường được viện dẫn như một ví dụ tiêu biểu cho loại hình hài hước này. Ở Pháp, việc tiếp nhận khái niệm hài hước diễn ra chậm hơn; [[ngôn ngữ Pháp]] vẫn giữ sự phân biệt giữa ''humeur'' (tâm trạng, khí chất) và ''humour'' (hài hước), gắn với truyền thống học thuyết “bốn thể dịch” cổ điển. | ||
Ngoài ra, cần lưu ý rằng hài hước châm biếm không đồng nhất với các hình thức gây cười hay trò giải trí đơn thuần.<ref>Seth Benedict Graham ''[http://etd.library.pitt.edu/ETD/available/etd-11032003-192424/unrestricted/grahamsethb_etd2003.pdf A cultural analysis of the Russo-Soviet Anekdot] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20130116083634/http://etd.library.pitt.edu/ETD/available/etd-11032003-192424/unrestricted/grahamsethb_etd2003.pdf |date=2013-01-16 }}'' 2003 p.13</ref><ref>Bakhtin, Mikhail. ''Rabelais and His World'' [1941, 1965]. Trans. Hélène Iswolsky. Bloomington: Indiana University Press p.12</ref> | |||
== Tại nơi làm việc == | == Tại nơi làm việc == | ||
Sự hài hước | Sự hài hước là một hiện tượng xã hội phổ biến và có ý nghĩa trong nhiều khía cạnh của đời sống con người, bao gồm cả môi trường tổ chức như nơi làm việc.<ref name=":03">{{chú thích tạp chí |last=Plester |first=Barbara |date=ngày 1 tháng 1 năm 2009 |title=Healthy humour: Using humour to cope at work |url=http://dx.doi.org/10.1080/1177083X.2009.9522446 |journal=Kōtuitui: New Zealand Journal of Social Sciences Online |pages=89–102 |volume=4 |issue=1 |doi=10.1080/1177083X.2009.9522446 |issn=}}</ref> Nghiên cứu cho thấy tiếng cười và niềm vui trong đời sống tổ chức không chỉ mang tính giải trí mà còn góp phần thúc đẩy sự gắn kết xã hội và gia tăng mức độ tham gia của các thành viên.<ref name=":13">{{chú thích tạp chí |date=ngày 2 tháng 10 năm 2009 |title=Are we having fun yet? A consideration of workplace fun and engagement |url=http://www.emeraldinsight.com/doi/abs/10.1108/01425450910991721 |journal=Employee Relations |pages=556–568 |volume=31 |issue=6 |doi=10.1108/01425450910991721 |issn=0142-5455}}</ref> | ||
Tại nơi làm việc, chia sẻ sự hài hước giúp giảm bớt sự nhàm chán, tăng cường [[tinh thần đồng đội]] và xây dựng quan hệ thân thiết giữa các đồng nghiệp. Hài hước cũng được xem là một chiến lược đối phó hữu hiệu với căng thẳng, nghịch cảnh hoặc các tình huống khó khăn hằng ngày.<ref name=":03" /> Việc duy trì bầu không khí vui vẻ thông qua những câu [[Hài kịch|chuyện cười]] hoặc các hoạt động mang tính giải trí có thể cải thiện tâm trạng, khuyến khích thái độ tích cực và nâng cao khả năng thích ứng của nhân viên.<ref name=":03" /> | |||
Ngoài ra, sự hài hước còn được sử dụng như một công cụ để điều chỉnh cảm xúc tiêu cực đối với các nhiệm vụ, hạn chế việc sử dụng [[Nói tục|ngôn ngữ thô tục]], đồng thời tạo điều kiện để thảo luận những trải nghiệm khó khăn trong một bối cảnh nhẹ nhàng hơn.<ref name=":03" /> Điều này không chỉ giúp giảm lo âu mà còn góp phần khơi gợi những cảm xúc tích cực. | |||
Trong quan hệ quản lý – nhân viên, hài hước có thể giúp giảm bớt tính [[gia trưởng]] trong chỉ đạo. Việc sử dụng hài hước, đặc biệt là [[tự trào]], khiến nhà quản lý trở nên gần gũi và dễ tiếp cận hơn trong mắt cấp dưới.<ref name=":03" /> Các nghiên cứu [[dân tộc học]] tại nhiều môi trường làm việc cũng nhấn mạnh vai trò của một không gian làm việc vui vẻ. Khái niệm "''workplay''" (kết hợp giữa công việc và vui chơi) trong quản trị hiện đại cho thấy rằng sự hài hước, thay vì làm suy yếu [[hiệu suất]], thực chất có thể đem lại những tác động tích cực cho tổ chức.<ref name=":13" /> | |||
Tiếng cười và các hoạt động vui chơi có thể kích thích sự sáng tạo, qua đó nâng cao tinh thần làm việc. Trong bối cảnh quản lý, yếu tố này thường được dung thứ, thậm chí khuyến khích, nhằm giúp nhân viên giảm bớt cảm nhận về tính khắc nghiệt của quá trình lao động và góp phần thúc đẩy mục tiêu của tổ chức.<ref name=":13" /> Nói cách khác, sự vui vẻ tại nơi làm việc không còn bị xem là điều phù phiếm.<ref name=":13" /> | |||
Vai trò quan trọng mà [[tiếng cười]] và [[niềm vui]] trong đời sống tổ chức đã được xem như là một hiện tượng [[xã hội học|xã hội]] và ngày càng được công nhận tạo ra cảm giác về sự tham gia của công chúng.<ref name=":13">{{chú thích tạp chí|title = Are we having fun yet? A consideration of workplace fun and engagement|url = http://www.emeraldinsight.com/doi/abs/10.1108/01425450910991721|journal = Employee Relations|date = ngày 2 tháng 10 năm 2009 |issn = 0142-5455|pages = 556–568|volume = 31|issue = 6|doi = 10.1108/01425450910991721}}</ref>Chia sẻ sự hài hước tại nơi làm việc không chỉ giải thoát khỏi sự nhàm chán, nhưng cũng có thể tạo dựng nên các mối quan hệ, cải thiện tình bạn thân thiết giữa các đồng nghiệp và tạo sự tích cực [[có ảnh hưởng đến (tâm lý học)|có ảnh hưởng]].<ref name=":03" /> Hài hước tại nơi làm việc cũng có thể làm giảm đi nhiều sự căng thẳng và có thể được sử dụng như một [[đối phó (tâm lí học)|chiến lược đối phó]].<ref name=":03" /> | |||
Trong thực tế, một trong những thỏa thuận nhất khi tác động chính là môi trường làm việc hài hước có trên người cũng như được, là việc sử dụng sự hài hước như là một chiến lược đối phó với viện trợ trong việc đối phó với những căng thẳng hàng ngày, nghịch cảnh hoặc các khó khăn tình huống.<ref name=":03" /> | |||
Chia sẻ niềm vui với một vài đồng nghiệp có thể cải thiện tâm trạng, niềm vui và mọi người cảm nhận ảnh hưởng như tích cực của họ, khả năng để đối phó.<ref name=":03" />Vui vẻ và thưởng thức rất quan trọng trong cuộc sống của người dân và khả năng cho đồng nghiệp để có thể cười trong khi làm việc, thông qua những câu nói đùa hay khác, thúc đẩy sự hài hòa và một cảm giác của sự cố kết.<ref name=":03" /> | |||
Các cách tiếp cận hiện đại về quản lý tiếng cười và niềm vui tại nơi làm việc bắt nguồn từ [[Bắc Mỹ]]. Tại đây, xu hướng này phát triển mạnh đến mức hình thành ngành dịch vụ tư vấn về “''hài hước trong công việc''”, và một số [[bang]] thậm chí đã thiết lập [[ngày kỷ niệm]] chính thức dành cho “''niềm vui'' ''nơi công sở''”.<ref name=":13" /> Những biện pháp này được ghi nhận là mang lại lợi ích thiết thực: nâng cao trải nghiệm của nhân viên, cải thiện [[dịch vụ khách hàng]] và gia tăng năng suất của tổ chức.<ref name=":13" /> | |||
Hài hước cũng có thể được sử dụng để bù đắp những cảm xúc tiêu cực về một nhiệm vụ nơi làm việc hoặc để giảm thiểu việc sử dụng thô tục, hoặc khác đối phó chiến lược, mà có thể không được dung thứ khác.<ref name=":03" /> | |||
Không chỉ hài hước ở nơi làm việc có thể giúp xoa dịu cảm xúc tiêu cực, nhưng nó cũng có thể được sử dụng như một lối thoát để thảo luận cá nhân sự kiện đau đớn, trong một bối cảnh nhẹ hơn, do đó cuối cùng giảm [[lo ngại]] và cho phép nhiều [[vui vẻ]], khả quan [[cảm xúc]] cho bề mặt con người.<ref name=":03" /> | |||
Song song, nhiều nghiên cứu khác tiếp cận vấn đề dưới góc độ [[khoa học]] [[hạnh phúc]], vốn liên quan đến [[sức khỏe tinh thần]], [[Động lực học|động lực]], [[Tinh thần đồng đội|xây dựng cộng đồng]] và [[Chỉ số hành tinh hạnh phúc|chỉ số hạnh phúc quốc gia]]. Một số [[học giả]] nhấn mạnh khả năng đạt trạng thái “''dòng chảy''” thông qua các hoạt động vui vẻ và việc khuyến khích [[tư duy sáng tạo]] “''ngoài khuôn khổ''”.<ref name=":13" /> Đồng thời, phong trào này gắn liền với lĩnh vực [[tâm lý học tích cực]], nhằm thử nghiệm những lý thuyết về việc tối ưu hóa tiềm năng con người.<ref name=":13" /> | |||
Ngoài ra, sự hài hước có thể được sử dụng như một công cụ để giảm thiểu giọng gia trưởng của các nhà quản lý khi đưa ra chỉ thị cho cấp dưới. Nhà quản lý có thể sử dụng tự ti hài hước như là một cách để được coi là con người hơn và " thực" bởi các nhân viên của họ.<ref name=":03" /> Hơn nữa, [[dân tộc học]] nghiên cứu, thực hiện trong một loạt các môi trường làm việc, khẳng định tầm quan trọng của một không gian vui vẻ tại nơi làm việc.<ref name=":13" /> | |||
Các tập tin đính kèm với khái niệm thú vị của các công ty hiện đại có dẫn đến quản lý nơi làm việc sắp tới để nhận ra những tiềm năng tác động tích cực của " workplay " và nhận ra rằng nó không nhất thiết làm suy yếu hiệu suất lao động.<ref name=":13" /> | |||
Từ đó, các nghiên cứu về hạnh phúc tại nơi làm việc cho thấy rằng việc đầu tư vào môi trường làm việc vui tươi – nơi tiếng cười và trò chơi được khuyến khích – không chỉ giúp gia tăng cảm nhận hạnh phúc của nhân viên, mà còn củng cố mức năng lượng, hiệu suất và cam kết đối với tổ chức.<ref name=":13" /> | |||
Tiếng cười và [[Chơi (hoạt động)|vui chơi]] có thể giải phóng [[sự sáng tạo]], do đó nâng cao [[tinh thần]], như vậy trong sự quan tâm khuyến khích nhân viên đồng ý cho sự khắc nghiệt của | |||
quá trình lao động, quản lý thường bỏ qua, tha thứ và thậm chí tích cực khuyến khích thực hành vui tươi, với mục đích thúc đẩy hơn nữa | |||
mục tiêu tổ chức.<ref name=":13" />" Essentially, fun in the workplace is no longer being seen as frivolous."(Dịch nghĩa: Về cơ bản, sự vui vẻ ở nơi làm việc không còn được xem là phù phiếm nữa.)<ref name=":13" /> Các phương pháp tiếp cận mới nhất của niềm vui và tiếng cười được quản lý tại nơi làm việc xuất xứ từ Bắc Mỹ, nơi nó đã giảm đến một mức độ như vậy, mà nó có tư vấn hài hước hưng thịnh, như một số tiểu bang có giới thiệu một " niềm vui trong công việc " chính thức ngày.<ref name=":13" /> Các kết quả đã thực hiện yêu cầu của lợi ích cho người lao động, cải thiện trải nghiệm của khách hàng và tăng năng suất mà tổ chức có thể thưởng thức, như một kết quả.<ref name=":13" /> Những người khác kiểm tra kết quả của phong trào này trong khi tập trung xung quanh các khoa học về hạnh phúc - có liên quan với [[mental health]], [[motivation]], xây dựng cộng đồng và quốc gia hạnh phúc - và đã thu hút sự chú ý đến khả năng để đạt được " dòng chảy" qua vui đùa và kích thích "tư duy bên ngoài hộp".<ref name=":13" /> Song song với phong trào này là "khả quan" học bổng mà đã nổi lên trong [[tâm lý học]] mà tìm cách thực nghiệm lý thuyết tối ưu hóa tiềm năng con người.<ref name=":13" /> Phong trào hạnh phúc này cho thấy rằng đầu tư vào vui chơi tại nơi làm việc, bằng cách cho phép cho tiếng cười và vui chơi, sẽ không chỉ tạo sự hưởng thụ và ý thức hơn về hạnh phúc, nhưng nó cũng sẽ tăng cường năng lượng, hiệu quả và cam kết trong công nhân.<ref name=":13" /> | |||
==Các yếu tố xã hội học== | ==Các yếu tố xã hội học== | ||
Như | Như bất kỳ [[Nghệ thuật#7 loại hình nghệ thuật|hình thức nghệ thuật]] nào khác, việc tiếp nhận một phong cách hay tỉ lệ hài hước phụ thuộc vào bối cảnh xã hội và [[thị hiếu]] cá nhân, có sự biến đổi giữa các thời kỳ và nền văn hóa. Từ lâu, [[hài kịch]] đã được sử dụng như một phương tiện giải trí phổ biến trên khắp thế giới, từ những [[Hoàng tộc#Châu Âu|triều đình châu Âu]] cho đến các [[Làng|làng quê]] ở [[phương Đông]]. Ngoài giá trị giải trí, hài kịch còn phản ánh [[Nghi thức xã giao|nghi thức xã hội]] và [[Trí tuệ|khả năng trí tuệ]] thông qua các hình thức dí dỏm, châm biếm hay mỉa mai. Vào thế kỷ 18, nhà văn Đức [[:en:Georg_Christoph_Lichtenberg|Georg Christoph Lichtenberg]] từng nhận xét: ''“Càng hiểu rõ về hài hước, con người càng trở nên khắt khe trong cách cảm nhận sự tinh tế của nó.”'' | ||
===Hy Lạp cổ đại=== | ===[[Hy Lạp cổ đại]]=== | ||
Các lý thuyết phương Tây về hài hước khởi nguồn từ [[triết học Hy Lạp cổ đại]]. Trong đối thoại ''[[:en:Philebus|Philebus]]'' (49b), Plato — thông qua nhân vật Socrates — cho rằng bản chất của sự nực cười bắt nguồn từ tình trạng thiếu hiểu biết đi kèm với sự yếu thế, khiến đối tượng không thể đáp trả sự chế nhạo. [[Aristoteles|Aristotle]] sau đó, trong ''[[:en:Poetics|Poetics]]'' (1449a, 34–35), lại nhận định rằng sự hài hước nảy sinh từ một dạng “xấu xí vô hại”, tức là những khiếm khuyết không gây cảm giác ghê tởm nhưng đủ để khơi gợi tiếng cười. | |||
===Ấn Độ=== | ===[[Ấn Độ cổ đại]]=== | ||
Trong truyền thống Ấn Độ, vở kịch tiếng Phạn ''[[Natya Shastra|Nāṭya Śāstra]]'' của Bharata Muni đã xác định sự hài hước (''hāsyam'') là một trong chín ''Nava Rasa'' (các “mùi vị” hay trạng thái thẩm mỹ cơ bản). Theo lý thuyết này, cảm xúc của khán giả được gợi lên từ ''bhāva'' — những biểu hiện tâm lý được các diễn viên tái hiện trên sân khấu. Với hài hước, ''rasa'' tương ứng là niềm vui (''hāsya''), gắn liền với sự tươi vui và khoái cảm thẩm mỹ. | |||
==Chú thích== | ==Chú thích== | ||
Bản mới nhất lúc 10:33, ngày 10 tháng 9 năm 2025
Bài viết hoặc đoạn này cần được wiki hóa để đáp ứng tiêu chuẩn quy cách định dạng và văn phong của Wikipedia. |
Bài viết hoặc đoạn này cần người am hiểu về chủ đề này trợ giúp biên tập mở rộng hoặc cải thiện. |
Bài viết này là một bản dịch thô từ ngôn ngữ khác. Đây có thể là kết quả của máy tính hoặc của người chưa thông thạo dịch thuật. |

Hài hước là một trạng thái nhận thức và biểu đạt có khả năng khơi gợi tiếng cười, qua đó đáp ứng nhu cầu giải trí và tạo sự gắn kết xã hội. Thuật ngữ humour bắt nguồn từ thuyết dịch thể (humorism) trong y học Hy Lạp cổ đại, vốn cho rằng sức khỏe và cảm xúc con người chịu ảnh hưởng bởi sự cân bằng của bốn loại “dịch cơ thể” (Latin: humor). Từ đây, khái niệm hài hước dần được mở rộng, gắn liền với khả năng nhận biết và tạo ra những yếu tố gây cười.
Con người ở mọi lứa tuổi và nền văn hóa có cách phản ứng khác nhau trước sự hài hước. Thông thường, nó được biểu hiện qua nụ cười hoặc tiếng cười, phản ánh một dạng tri giác xã hội phổ biến. Tuy nhiên, mức độ một cá nhân cho rằng điều gì đó “hài hước” phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như bối cảnh văn hóa, môi trường địa lý, tuổi tác, trình độ học vấn hay khả năng nhận thức. Ví dụ, trẻ em thường ưa chuộng các hình thức đơn giản, trực quan như trò múa rối Punch and Judy hoặc hoạt hình Tom and Jerry, trong khi những hình thức phức tạp hơn như châm biếm hay mỉa mai lại đòi hỏi vốn hiểu biết xã hội và bối cảnh, do đó thường hấp dẫn khán giả trưởng thành.
Lý thuyết Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hài hước”




Nhiều học thuyết đã được xây dựng nhằm lý giải sự tồn tại của tính hài hước và những chức năng xã hội mà nó đảm nhận. Các cách tiếp cận phổ biến thường đặt nền tảng trong tâm lý học, với giả định chung rằng tác động của hài hước đối với con người chủ yếu mang tính tích cực. Một số học thuyết mang màu sắc tâm linh thậm chí còn coi hài hước là một “món quà từ Thượng đế”, hay là một hiện tượng cảm xúc mang tính huyền bí, khó có thể giải thích bằng các khuôn khổ khoa học thông thường.[1]
Trong số các lý thuyết đương đại, lý thuyết “vi phạm lành tính” do Peter McGraw xác lập được coi là có ảnh hưởng rộng rãi. Học thuyết này cho rằng hài hước nảy sinh khi một sự việc vừa mang tính sai lệch, đe dọa hoặc gây lo ngại, nhưng đồng thời lại được nhận thức là vô hại hoặc có thể chấp nhận được trong bối cảnh xã hội cụ thể.[2] Trên phương diện giao tiếp, hài hước thường đóng vai trò như một công cụ giúp xóa bỏ sự lúng túng, giảm nhẹ căng thẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho các mối tương tác xã hội.
Một số nhà nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng việc sử dụng hài hước một cách thích hợp có thể làm gia tăng tính gắn kết, qua đó giúp các tương tác giữa con người trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.[3][4]
Các góc nhìn Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hài hước”
Một số học giả cho rằng bản chất của sự hài hước không thể, hoặc không nên, được giải thích một cách rạch ròi. Nhà văn E.B. White từng nhận xét rằng “hài hước có thể được mổ xẻ như một con ếch, nhưng nó sẽ chết trong quá trình đó, và những gì còn lại chỉ còn gây hứng thú đối với các bộ não khoa học thuần túy”.[5] Theo quan điểm này, những nỗ lực phân tích hay phê phán phim hoạt hình mang tính châm biếm thường bị xem là hành động “giải phẫu” sự hài hước, qua đó làm nổi bật thiếu sót của cá nhân hoặc tổ chức được nhắm đến. Việc lý giải hài hước không nhất thiết làm mất đi tính gây cười, nhưng có thể chuyển hướng sự chú ý sang bối cảnh chính trị hoặc các giả định xã hội rộng hơn (Khanduri, 2014).[6]
Nhà triết học Arthur Schopenhauer lưu ý rằng trong tiếng Đức, từ mượn Humor của tiếng Anh thường bị lạm dụng để chỉ mọi hình thức khôi hài. Tuy vậy, trong nghiên cứu, khái niệm “hài hước” thường được phân biệt với “truyện tranh”: trong khi truyện tranh thiên về sự giải trí đơn thuần, thì hài hước được xem như phản ứng trí tuệ, kết hợp giữa tính châm biếm và sự hóm hỉnh. Nhân vật Falstaff trong các tác phẩm của Shakespeare thường được viện dẫn như một ví dụ tiêu biểu cho loại hình hài hước này. Ở Pháp, việc tiếp nhận khái niệm hài hước diễn ra chậm hơn; ngôn ngữ Pháp vẫn giữ sự phân biệt giữa humeur (tâm trạng, khí chất) và humour (hài hước), gắn với truyền thống học thuyết “bốn thể dịch” cổ điển.
Ngoài ra, cần lưu ý rằng hài hước châm biếm không đồng nhất với các hình thức gây cười hay trò giải trí đơn thuần.[7][8]
Tại nơi làm việc Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hài hước”
Sự hài hước là một hiện tượng xã hội phổ biến và có ý nghĩa trong nhiều khía cạnh của đời sống con người, bao gồm cả môi trường tổ chức như nơi làm việc.[9] Nghiên cứu cho thấy tiếng cười và niềm vui trong đời sống tổ chức không chỉ mang tính giải trí mà còn góp phần thúc đẩy sự gắn kết xã hội và gia tăng mức độ tham gia của các thành viên.[10]
Tại nơi làm việc, chia sẻ sự hài hước giúp giảm bớt sự nhàm chán, tăng cường tinh thần đồng đội và xây dựng quan hệ thân thiết giữa các đồng nghiệp. Hài hước cũng được xem là một chiến lược đối phó hữu hiệu với căng thẳng, nghịch cảnh hoặc các tình huống khó khăn hằng ngày.[9] Việc duy trì bầu không khí vui vẻ thông qua những câu chuyện cười hoặc các hoạt động mang tính giải trí có thể cải thiện tâm trạng, khuyến khích thái độ tích cực và nâng cao khả năng thích ứng của nhân viên.[9]
Ngoài ra, sự hài hước còn được sử dụng như một công cụ để điều chỉnh cảm xúc tiêu cực đối với các nhiệm vụ, hạn chế việc sử dụng ngôn ngữ thô tục, đồng thời tạo điều kiện để thảo luận những trải nghiệm khó khăn trong một bối cảnh nhẹ nhàng hơn.[9] Điều này không chỉ giúp giảm lo âu mà còn góp phần khơi gợi những cảm xúc tích cực.
Trong quan hệ quản lý – nhân viên, hài hước có thể giúp giảm bớt tính gia trưởng trong chỉ đạo. Việc sử dụng hài hước, đặc biệt là tự trào, khiến nhà quản lý trở nên gần gũi và dễ tiếp cận hơn trong mắt cấp dưới.[9] Các nghiên cứu dân tộc học tại nhiều môi trường làm việc cũng nhấn mạnh vai trò của một không gian làm việc vui vẻ. Khái niệm "workplay" (kết hợp giữa công việc và vui chơi) trong quản trị hiện đại cho thấy rằng sự hài hước, thay vì làm suy yếu hiệu suất, thực chất có thể đem lại những tác động tích cực cho tổ chức.[10]
Tiếng cười và các hoạt động vui chơi có thể kích thích sự sáng tạo, qua đó nâng cao tinh thần làm việc. Trong bối cảnh quản lý, yếu tố này thường được dung thứ, thậm chí khuyến khích, nhằm giúp nhân viên giảm bớt cảm nhận về tính khắc nghiệt của quá trình lao động và góp phần thúc đẩy mục tiêu của tổ chức.[10] Nói cách khác, sự vui vẻ tại nơi làm việc không còn bị xem là điều phù phiếm.[10]
Các cách tiếp cận hiện đại về quản lý tiếng cười và niềm vui tại nơi làm việc bắt nguồn từ Bắc Mỹ. Tại đây, xu hướng này phát triển mạnh đến mức hình thành ngành dịch vụ tư vấn về “hài hước trong công việc”, và một số bang thậm chí đã thiết lập ngày kỷ niệm chính thức dành cho “niềm vui nơi công sở”.[10] Những biện pháp này được ghi nhận là mang lại lợi ích thiết thực: nâng cao trải nghiệm của nhân viên, cải thiện dịch vụ khách hàng và gia tăng năng suất của tổ chức.[10]
Song song, nhiều nghiên cứu khác tiếp cận vấn đề dưới góc độ khoa học hạnh phúc, vốn liên quan đến sức khỏe tinh thần, động lực, xây dựng cộng đồng và chỉ số hạnh phúc quốc gia. Một số học giả nhấn mạnh khả năng đạt trạng thái “dòng chảy” thông qua các hoạt động vui vẻ và việc khuyến khích tư duy sáng tạo “ngoài khuôn khổ”.[10] Đồng thời, phong trào này gắn liền với lĩnh vực tâm lý học tích cực, nhằm thử nghiệm những lý thuyết về việc tối ưu hóa tiềm năng con người.[10]
Từ đó, các nghiên cứu về hạnh phúc tại nơi làm việc cho thấy rằng việc đầu tư vào môi trường làm việc vui tươi – nơi tiếng cười và trò chơi được khuyến khích – không chỉ giúp gia tăng cảm nhận hạnh phúc của nhân viên, mà còn củng cố mức năng lượng, hiệu suất và cam kết đối với tổ chức.[10]
Các yếu tố xã hội học Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hài hước”
Như bất kỳ hình thức nghệ thuật nào khác, việc tiếp nhận một phong cách hay tỉ lệ hài hước phụ thuộc vào bối cảnh xã hội và thị hiếu cá nhân, có sự biến đổi giữa các thời kỳ và nền văn hóa. Từ lâu, hài kịch đã được sử dụng như một phương tiện giải trí phổ biến trên khắp thế giới, từ những triều đình châu Âu cho đến các làng quê ở phương Đông. Ngoài giá trị giải trí, hài kịch còn phản ánh nghi thức xã hội và khả năng trí tuệ thông qua các hình thức dí dỏm, châm biếm hay mỉa mai. Vào thế kỷ 18, nhà văn Đức Georg Christoph Lichtenberg từng nhận xét: “Càng hiểu rõ về hài hước, con người càng trở nên khắt khe trong cách cảm nhận sự tinh tế của nó.”
Các lý thuyết phương Tây về hài hước khởi nguồn từ triết học Hy Lạp cổ đại. Trong đối thoại Philebus (49b), Plato — thông qua nhân vật Socrates — cho rằng bản chất của sự nực cười bắt nguồn từ tình trạng thiếu hiểu biết đi kèm với sự yếu thế, khiến đối tượng không thể đáp trả sự chế nhạo. Aristotle sau đó, trong Poetics (1449a, 34–35), lại nhận định rằng sự hài hước nảy sinh từ một dạng “xấu xí vô hại”, tức là những khiếm khuyết không gây cảm giác ghê tởm nhưng đủ để khơi gợi tiếng cười.
Trong truyền thống Ấn Độ, vở kịch tiếng Phạn Nāṭya Śāstra của Bharata Muni đã xác định sự hài hước (hāsyam) là một trong chín Nava Rasa (các “mùi vị” hay trạng thái thẩm mỹ cơ bản). Theo lý thuyết này, cảm xúc của khán giả được gợi lên từ bhāva — những biểu hiện tâm lý được các diễn viên tái hiện trên sân khấu. Với hài hước, rasa tương ứng là niềm vui (hāsya), gắn liền với sự tươi vui và khoái cảm thẩm mỹ.
Chú thích Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hài hước”
- ^ Raymond Smullyan, "The Planet Without Laughter", Cuốn Sách Này Không Cần Tiêu Đề
- ^ Peter McGraw, "Quá gần cho Comfort, hoặc Quá Xa để chăm sóc ? Việc tìm kiếm hài hước trong bi kịch Distant và Close rủi ro"
- ^ Nicholas Kuiper, "Prudence and Racial Humor: Troubling Epithets" [cần chú thích đầy đủ]
- ^ Kuiper, Nicholas A.; Aiken, Audrey; Pound, Maria Sol (2014). "Humor use, reactions to social comments, and social anxiety". Humor. 27 (3): 424. doi:10.1515/humor-2014-0072. S2CID 146821665, citing:
- Kuiper, Nicholas A. (2012). "Humor and Resiliency: Towards a Process Model of Coping and Growth". Europe's Journal of Psychology. 8 (3): 475–491. doi:10.5964/ejop.v8i3.464.
- Samson, Andrea C.; Lackner, Helmut Karl; Weiss, Elisabeth M.; Papousek, Ilona (2012). "Perception of other people's mental states affects humor in social anxiety". Journal of Behavior Therapy and Experimental Psychiatry. 43 (1): 625–631. doi:10.1016/j.jbtep.2011.08.007. PMID 21946039.
- ^ Quotationspage.com
- ^ Ritu Gairola Khanduri. 2014. Caricaturing Văn hóa ở Ấn Độ: Phim hoạt hình và Lịch sử thế giới hiện đại. Cambridge: Cambridge University Press.
- ^ Seth Benedict Graham A cultural analysis of the Russo-Soviet Anekdot Lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013 tại Wayback Machine 2003 p.13
- ^ Bakhtin, Mikhail. Rabelais and His World [1941, 1965]. Trans. Hélène Iswolsky. Bloomington: Indiana University Press p.12
- ^ a b c d e Plester, Barbara (ngày 1 tháng 1 năm 2009). "Healthy humour: Using humour to cope at work". Kōtuitui: New Zealand Journal of Social Sciences Online. Quyển 4 số 1. tr. 89–102. doi:10.1080/1177083X.2009.9522446.
- ^ a b c d e f g h i "Are we having fun yet? A consideration of workplace fun and engagement". Employee Relations. Quyển 31 số 6. ngày 2 tháng 10 năm 2009. tr. 556–568. doi:10.1108/01425450910991721. ISSN 0142-5455.