Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Athanasiô thành Alexandria”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Thêm liên kết dưới Liên kết ngoài hoặc Tham khảo Xuống dòng liên tục hơn 3 lần Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
Dòng 1: Dòng 1:

{{Infobox saint
{{Infobox saint

| name=Thánh Athanasiô thành Alêxanđria
| name=Thánh Athanasiô thành Alêxanđria

| birth_date=khoảng 296-298
| birth_date=khoảng 296-298

| death_date={{death date and age|373|5|2|296|1|1|df=y}}
| death_date={{death date and age|373|5|2|296|1|1|df=y}}

| feast_day=15 tháng 5 = 7 tháng Pashons ([[Chính thống giáo Copt]])<br>18 tháng 1 ([[Chính Thống giáo Đông phương]])<br>2 tháng 5 (Kitô giáo Tây phương)
| feast_day=15 tháng 5 = 7 tháng Pashons ([[Chính thống giáo Copt]])<br>18 tháng 1 ([[Chính Thống giáo Đông phương]])<br>2 tháng 5 (Kitô giáo Tây phương)

| venerated_in= [[Kitô giáo Đông phương]] và [[Kitô giáo Tây phương]]
| venerated_in= [[Kitô giáo Đông phương]] và [[Kitô giáo Tây phương]]

| image=Sainta15.jpg
| image=Sainta15.jpg

| imagesize=200px
| imagesize=200px

| caption=Icon Thánh Athanasiô
| caption=Icon Thánh Athanasiô

| birth_place=[[Alexandria]], [[Ai Cập]]
| birth_place=[[Alexandria]], [[Ai Cập]]

| death_place=Alexandria, Ai Cập
| death_place=Alexandria, Ai Cập

| titles=Thượng phụ, Tiến sĩ Hội thánh
| titles=Thượng phụ, Tiến sĩ Hội thánh

| beatified_date=
| beatified_date=

| beatified_place=
| beatified_place=

| beatified_by=
| beatified_by=

| canonized_date=
| canonized_date=

| canonized_place=
| canonized_place=

| canonized_by=
| canonized_by=

| attributes=
| attributes=

| patronage=
| patronage=

| major_shrine=[[Nhà thờ chính tòa Chính thống giáo Copt Thánh Marcus|Nhà thờ chính tòa Copt thánh Máccô]] ở [[Cairo]], [[Ai Cập]]
| major_shrine=[[Nhà thờ chính tòa Chính thống giáo Copt Thánh Marcus|Nhà thờ chính tòa Copt thánh Máccô]] ở [[Cairo]], [[Ai Cập]]

| suppressed_date=
| suppressed_date=

| issues=
| issues=

| prayer=
| prayer=

| prayer_attrib=
| prayer_attrib=

}}
}}


'''Athanasiô thành Alêxanđria''' ({{lang-el|Ἀθανάσιος Ἀλεξανδρείας}} ''Athanásios Alexandrías'') (khoảng 296-298 – 2 tháng 5 năm 373), cũng được gọi là Thánh '''Athanasiô Cả''', Thánh '''Tuyên tín giả Athanasiô''' hay trong cách gọi của [[Chính thống giáo Copt|Giáo hội Chính Thống Copt]] là '''Đấng Tông truyền Athanasiô''' là Giám mục thành [[Alexandria|Alêxanđria]] thứ 20. Thời kỳ giám mục của ông kéo dài 45 năm, trong đó có hơn 17 năm ông phải sống lưu đày theo lệnh của bốn Hoàng đế La Mã khác nhau. Ông được xem là một [[giáo phụ]], nhà [[thần học Kitô giáo]] nổi tiếng, nhân vật chính yếu bảo vệ giáo lý [[Ba Ngôi]] chống lại [[thuyết Ariô]], và là một nhà lãnh đạo Ai Cập đáng chú ý trong thế kỷ thứ 4.


'''Athanasiô thành Alêxanđria''' ( ‘’Ἀθανάσιος Ἀλεξανδρείας’’ hay ‘’Athanásios Alexandrías’’) (sinh khoảng 296-298 – mất 2 tháng 5 năm 373), cũng được gọi là Thánh '''Athanasiô Cả''', Thánh '''Tuyên tín giả Athanasiô''' hay trong cách gọi của [[Chính thống giáo Copt|Giáo hội Chính Thống Copt]] là '''Đấng Tông truyền Athanasiô''' là Giám mục thành [[Alexandria|Alêxanđria]] thứ 20. Thời kỳ giám mục của ông kéo dài 45 năm, trong đó có hơn 17 năm ông phải sống lưu đày theo lệnh của bốn Hoàng đế La Mã khác nhau. Ông được xem là một [[giáo phụ]], nhà [[thần học Kitô giáo]] nổi tiếng, nhân vật chính yếu bảo vệ giáo lý [[Ba Ngôi]] chống lại [[thuyết Ariô]], và là một nhà lãnh đạo Ai Cập đáng chú ý trong thế kỷ thứ 4.
Athanasiô được nhớ đến vì vai trò của ông trong cuộc xung đột với [[Arius|Ariô]] học thuyết cùng tên. Năm 325, ở tuổi 27, Athanasiô đóng một vai trò tiên phong chống lại phái Ariô ở [[Công đồng Nicaea I]]. Khi đó ông còn là một [[phó tế]] và thư ký riêng cho Giám mục Alêxanđria thứ 19 - Alexander.


Athanasiô được nhớ đến vì vai trò của ông trong lần tranh cãi với [[Arius|Ariô]] học thuyết cùng tên của vị này. Năm 325, ở tuổi 27, Athanasiô đóng một vai trò tiên phong chống lại phái Ariô ở [[Công đồng Nicaea I]]. Khi đó ông còn là một [[phó tế]] và thư ký riêng cho Giám mục Alêxanđria thứ 19 - Alexander.



Vào tháng 6 năm 328, ở tuổi 30, Athanasiô trở thành Tổng giám mục Alêxanđria sau khi vị tiền nhiệm qua đời. Ông tiếp tục dẫn dắt cuộc tranh luận chống phái Ariô cho tới cuối đời và tham gia đấu tranh chính trị và thần học chống lại [[Constantius II]] và các giáo sĩ theo thuyết Arius có thế lực và ảnh hưởng, được dẫn dắt bởi [[Eusebius thành Nicomedia]] cùng các nhân vật khác. Do đó ông được biết đến là ''Athanasius Contra Mundum'' ("Athanasiô chống lại thế giới"). Vài năm sau khi ông qua đời, [[Grêgôriô thành Nazianzô|Ghêgôriô thành Nadiandô]] gọi ông là "''Trụ cột của Giáo hội''". Các tác phẩm của Athanasiô được các giáo phụ sau này từ cả Đông phương và Tây phương coi trọng. Các tác phẩm đó bộc lộ sự hiến dâng phong phú cho Ngôi-Lời-nhập-thể-làm-người (Đức [[Giêsu Kitô]]), cũng như cho thấy sự quan tâm sâu sắc tới mục vụ và đường lối [[đan tu]].
Vào tháng 6 năm 328, ở tuổi 30, Athanasiô trở thành Tổng giám mục Alêxanđria sau khi vị tiền nhiệm qua đời. Ông tiếp tục dẫn dắt cuộc tranh luận chống phái Ariô cho tới cuối đời và tham gia đấu tranh chính trị và thần học chống lại [[Constantius II]] và các giáo sĩ theo thuyết Arius có thế lực và ảnh hưởng, được dẫn dắt bởi [[Eusebius thành Nicomedia]] cùng các nhân vật khác. Do đó ông được biết đến là ''Athanasius Contra Mundum'' ("Athanasiô chống lại thế giới"). Vài năm sau khi ông qua đời, [[Grêgôriô thành Nazianzô|Ghêgôriô thành Nadiandô]] gọi ông là "''Trụ cột của Giáo hội''". Các tác phẩm của Athanasiô được các giáo phụ sau này từ cả Đông phương và Tây phương coi trọng. Các tác phẩm đó bộc lộ sự hiến dâng phong phú cho Ngôi-Lời-nhập-thể-làm-người (Đức [[Giêsu Kitô]]), cũng như cho thấy sự quan tâm sâu sắc tới mục vụ và đường lối [[đan tu]].



Athanasiô được [[Công giáo Rôma]] tôn phong là một trong bốn Đại [[Tiến sĩ Hội thánh]] Đông phương<ref name="Doctors">{{CathEncy|wstitle=Doctors of the Church}}</ref> và được [[Chính Thống giáo Đông phương]] xem là "Giáo phụ của Chính thống giáo". Nhiều người [[Tin Lành]] cũng gọi ông là "Giáo phụ của Quy điển" bởi vì trong số các giáo phụ, Athanasiô là người đưa ra danh sách Quy điển Kinh Thánh (cụ thể là phần Cựu Ước) gần giống với bộ Quy điển của Tin Lành nhất. Danh sách này - được đưa ra vào năm 367 - cũng là danh sách sớm nhất được biết đến xác định chính xác quy điển 27 quyển Tân Ước như ngày nay.
Athanasiô được [[Công giáo Rôma]] tôn phong là một trong bốn Đại [[Tiến sĩ Hội thánh]] Đông phương<ref name="Doctors">{{CathEncy|wstitle=Doctors of the Church}}</ref> và được [[Chính Thống giáo Đông phương]] xem là "Giáo phụ của Chính thống giáo". Nhiều người [[Tin Lành]] cũng gọi ông là "Giáo phụ của Quy điển" bởi vì trong số các giáo phụ, Athanasiô là người đưa ra danh sách Quy điển Kinh Thánh (cụ thể là phần Cựu Ước) gần giống với bộ Quy điển của Tin Lành nhất. Danh sách này - được đưa ra vào năm 367 - cũng là danh sách sớm nhất được biết đến xác định chính xác quy điển 27 quyển Tân Ước như ngày nay.

== Tiểu sử ==

Athanasius sinh ra trong một gia đình Kitô hữu tại [[Alexandria]],<ref name="oca">{{Cite web|url=http://oca.org/saints/lives/2014/05/02/101269-st-athanasius-the-great-the-patriarch-of-alexandria|title=St. Athanasius the Great the Patriarch of Alexandria|website=oca.org|language=en|access-date=14 March 2018}}</ref> hoặc có thể tại thị trấn [[Damanhur]] gần [[châu thổ sông Nile]], vào khoảng giữa năm 293 và 298. Năm sinh sớm hơn đôi khi được giả định dựa trên sự trưởng thành thể hiện trong hai trước tác sớm nhất của ông, Contra Gentes (Chống lại dân ngoại) và De Incarnatione (Về sự Nhập thể), được cho là viết vào khoảng năm 318, trước khi thuyết Ariô bắt đầu có ảnh hưởng, bởi vì những tác phẩm này không cho thấy dấu hiệu nào về sự nhận biết thuyết Ariô.<ref name="Clifford1907"/>

Tuy nhiên, Cornelius Clifford xác định năm sinh của ông không sớm hơn 296 và không muộn hơn 298, dựa trên thực tế rằng Athanasius không cho thấy ký ức trực tiếp nào về cuộc [[Bách hại dưới thời Diocletian|bách hại của Maximian]] năm 303; Clifford cho rằng nếu Athanasius đã mười tuổi vào thời điểm đó, hẳn ông phải còn nhớ. Thứ hai, các Thư Phục sinh cho biết rằng phe Ariô từng buộc tội Athanasius, cùng với một số cáo buộc khác, rằng ông chưa đủ tuổi theo giáo luật (35 tuổi) và do đó không thể được tấn phong hợp lệ làm Thượng phụ Alexandria vào năm 328. Lời buộc tội này hẳn đã có vẻ hợp lý.<ref name="Clifford1907"/> Chính Thánh Công giáo Chính thống giáo xác định năm sinh của ông vào khoảng năm 297.<ref name=oca/>




== Chú thích ==

{{tham khảo}}


{{sơ khai Kitô giáo}}


[[Thể loại:Thánh Kitô giáo]]

[[Thể loại:Nhà thần học]]

[[Thể loại:Mất năm 373]]

[[Thể loại:Sinh thập niên 290]]

[[Thể loại:Tiến sĩ Hội Thánh]]

[[Thể loại:Giáo phụ]]

[[Thể loại:Nhà thần học Kitô giáo]]

[[Thể loại:Thánh Chính Thống giáo Đông phương]]

[[Thể loại:Thánh Công giáo Rôma]]


== Chú thích ==
== Chú thích ==

Phiên bản lúc 13:21, ngày 26 tháng 8 năm 2025

Thánh Athanasiô thành Alêxanđria
Icon Thánh Athanasiô
Thượng phụ, Tiến sĩ Hội thánh
Sinhkhoảng 296-298
Alexandria, Ai Cập
Mất2 tháng 5 năm 373(373-05-02) (77 tuổi)
Alexandria, Ai Cập
Tôn kínhKitô giáo Đông phươngKitô giáo Tây phương
Đền chínhNhà thờ chính tòa Copt thánh MáccôCairo, Ai Cập
Lễ kính15 tháng 5 = 7 tháng Pashons (Chính thống giáo Copt)
18 tháng 1 (Chính Thống giáo Đông phương)
2 tháng 5 (Kitô giáo Tây phương)


Athanasiô thành Alêxanđria ( ‘’Ἀθανάσιος Ἀλεξανδρείας’’ hay ‘’Athanásios Alexandrías’’) (sinh khoảng 296-298 – mất 2 tháng 5 năm 373), cũng được gọi là Thánh Athanasiô Cả, Thánh Tuyên tín giả Athanasiô hay trong cách gọi của Giáo hội Chính Thống CoptĐấng Tông truyền Athanasiô là Giám mục thành Alêxanđria thứ 20. Thời kỳ giám mục của ông kéo dài 45 năm, trong đó có hơn 17 năm ông phải sống lưu đày theo lệnh của bốn Hoàng đế La Mã khác nhau. Ông được xem là một giáo phụ, nhà thần học Kitô giáo nổi tiếng, nhân vật chính yếu bảo vệ giáo lý Ba Ngôi chống lại thuyết Ariô, và là một nhà lãnh đạo Ai Cập đáng chú ý trong thế kỷ thứ 4.


Athanasiô được nhớ đến vì vai trò của ông trong lần tranh cãi với Ariô vì học thuyết cùng tên của vị này. Năm 325, ở tuổi 27, Athanasiô đóng một vai trò tiên phong chống lại phái Ariô ở Công đồng Nicaea I. Khi đó ông còn là một phó tế và thư ký riêng cho Giám mục Alêxanđria thứ 19 - Alexander.


Vào tháng 6 năm 328, ở tuổi 30, Athanasiô trở thành Tổng giám mục Alêxanđria sau khi vị tiền nhiệm qua đời. Ông tiếp tục dẫn dắt cuộc tranh luận chống phái Ariô cho tới cuối đời và tham gia đấu tranh chính trị và thần học chống lại Constantius II và các giáo sĩ theo thuyết Arius có thế lực và ảnh hưởng, được dẫn dắt bởi Eusebius thành Nicomedia cùng các nhân vật khác. Do đó ông được biết đến là Athanasius Contra Mundum ("Athanasiô chống lại thế giới"). Vài năm sau khi ông qua đời, Ghêgôriô thành Nadiandô gọi ông là "Trụ cột của Giáo hội". Các tác phẩm của Athanasiô được các giáo phụ sau này từ cả Đông phương và Tây phương coi trọng. Các tác phẩm đó bộc lộ sự hiến dâng phong phú cho Ngôi-Lời-nhập-thể-làm-người (Đức Giêsu Kitô), cũng như cho thấy sự quan tâm sâu sắc tới mục vụ và đường lối đan tu.


Athanasiô được Công giáo Rôma tôn phong là một trong bốn Đại Tiến sĩ Hội thánh Đông phương[1] và được Chính Thống giáo Đông phương xem là "Giáo phụ của Chính thống giáo". Nhiều người Tin Lành cũng gọi ông là "Giáo phụ của Quy điển" bởi vì trong số các giáo phụ, Athanasiô là người đưa ra danh sách Quy điển Kinh Thánh (cụ thể là phần Cựu Ước) gần giống với bộ Quy điển của Tin Lành nhất. Danh sách này - được đưa ra vào năm 367 - cũng là danh sách sớm nhất được biết đến xác định chính xác quy điển 27 quyển Tân Ước như ngày nay.

Tiểu sử

Athanasius sinh ra trong một gia đình Kitô hữu tại Alexandria,[2] hoặc có thể tại thị trấn Damanhur gần châu thổ sông Nile, vào khoảng giữa năm 293 và 298. Năm sinh sớm hơn đôi khi được giả định dựa trên sự trưởng thành thể hiện trong hai trước tác sớm nhất của ông, Contra Gentes (Chống lại dân ngoại) và De Incarnatione (Về sự Nhập thể), được cho là viết vào khoảng năm 318, trước khi thuyết Ariô bắt đầu có ảnh hưởng, bởi vì những tác phẩm này không cho thấy dấu hiệu nào về sự nhận biết thuyết Ariô.[3]

Tuy nhiên, Cornelius Clifford xác định năm sinh của ông không sớm hơn 296 và không muộn hơn 298, dựa trên thực tế rằng Athanasius không cho thấy ký ức trực tiếp nào về cuộc bách hại của Maximian năm 303; Clifford cho rằng nếu Athanasius đã mười tuổi vào thời điểm đó, hẳn ông phải còn nhớ. Thứ hai, các Thư Phục sinh cho biết rằng phe Ariô từng buộc tội Athanasius, cùng với một số cáo buộc khác, rằng ông chưa đủ tuổi theo giáo luật (35 tuổi) và do đó không thể được tấn phong hợp lệ làm Thượng phụ Alexandria vào năm 328. Lời buộc tội này hẳn đã có vẻ hợp lý.[3] Chính Thánh Công giáo Chính thống giáo xác định năm sinh của ông vào khoảng năm 297.[2]



Chú thích

  1. ^ Herbermann, Charles, biên tập (1913). "Doctors of the Church" . Catholic Encyclopedia. New York: Robert Appleton Company.
  2. ^ a b "St. Athanasius the Great the Patriarch of Alexandria". oca.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2018.
  3. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Clifford1907


Chú thích