Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “U nguyên bào thần kinh đệm”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Dòng 24: Dòng 24:
'''U nguyên bào thần kinh đệm''' (trước đây gọi là '''u nguyên bào thần kinh đệm đa hình thái''' – '''glioblastoma multiforme''' – '''GBM''') là dạng [[ung thư]] khởi phát trong [[não]] phổ biến nhất và ác tính nhất, với tiên lượng sống sót rất kém.<ref name=":0">{{Chú thích tạp chí |last=Bleeker |first=Fonnet E. |last2=Molenaar |first2=Remco J. |last3=Leenstra |first3=Sieger |date=2012-05 |title=Recent advances in the molecular understanding of glioblastoma |url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3337398/ |magazine=Journal of Neuro-Oncology |pages=11–27 |volume=108 |issue=1 |doi=10.1007/s11060-011-0793-0 |issn=1573-7373 |pmc=3337398 |pmid=22270850}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Tan |first=Aaron C. |last2=Ashley |first2=David M. |last3=López |first3=Giselle Y. |last4=Malinzak |first4=Michael |last5=Friedman |first5=Henry S. |last6=Khasraw |first6=Mustafa |date=2020 |title=Management of glioblastoma: State of the art and future directions |url=https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.3322/caac.21613 |magazine=CA: A Cancer Journal for Clinicians |pages=299–312 |language=en |volume=70 |issue=4 |doi=10.3322/caac.21613 |issn=1542-4863}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Tran |first=B. |last2=Rosenthal |first2=M. A. |date=2010-04-01 |title=Survival comparison between glioblastoma multiforme and other incurable cancers |url=https://www.jocn-journal.com/article/S0967-5868(09)00670-5/abstract |magazine=Journal of Clinical Neuroscience |pages=417–421 |language=English |volume=17 |issue=4 |doi=10.1016/j.jocn.2009.09.004 |issn=0967-5868 |pmid=20167494}}</ref> Các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của bệnh thường không đặc hiệu.<ref name="Young2015" /> Có thể bao gồm [[đau đầu]], thay đổi tính cách, [[buồn nôn]], và các triệu chứng tương tự như [[đột quỵ]].<ref name="Young2015" /> Triệu chứng thường tiến triển nhanh và có thể dẫn đến [[hôn mê]].<ref name="Stewart2014" />
'''U nguyên bào thần kinh đệm''' (trước đây gọi là '''u nguyên bào thần kinh đệm đa hình thái''' – '''glioblastoma multiforme''' – '''GBM''') là dạng [[ung thư]] khởi phát trong [[não]] phổ biến nhất và ác tính nhất, với tiên lượng sống sót rất kém.<ref name=":0">{{Chú thích tạp chí |last=Bleeker |first=Fonnet E. |last2=Molenaar |first2=Remco J. |last3=Leenstra |first3=Sieger |date=2012-05 |title=Recent advances in the molecular understanding of glioblastoma |url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3337398/ |magazine=Journal of Neuro-Oncology |pages=11–27 |volume=108 |issue=1 |doi=10.1007/s11060-011-0793-0 |issn=1573-7373 |pmc=3337398 |pmid=22270850}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Tan |first=Aaron C. |last2=Ashley |first2=David M. |last3=López |first3=Giselle Y. |last4=Malinzak |first4=Michael |last5=Friedman |first5=Henry S. |last6=Khasraw |first6=Mustafa |date=2020 |title=Management of glioblastoma: State of the art and future directions |url=https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.3322/caac.21613 |magazine=CA: A Cancer Journal for Clinicians |pages=299–312 |language=en |volume=70 |issue=4 |doi=10.3322/caac.21613 |issn=1542-4863}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Tran |first=B. |last2=Rosenthal |first2=M. A. |date=2010-04-01 |title=Survival comparison between glioblastoma multiforme and other incurable cancers |url=https://www.jocn-journal.com/article/S0967-5868(09)00670-5/abstract |magazine=Journal of Clinical Neuroscience |pages=417–421 |language=English |volume=17 |issue=4 |doi=10.1016/j.jocn.2009.09.004 |issn=0967-5868 |pmid=20167494}}</ref> Các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của bệnh thường không đặc hiệu.<ref name="Young2015" /> Có thể bao gồm [[đau đầu]], thay đổi tính cách, [[buồn nôn]], và các triệu chứng tương tự như [[đột quỵ]].<ref name="Young2015" /> Triệu chứng thường tiến triển nhanh và có thể dẫn đến [[hôn mê]].<ref name="Stewart2014" />


Nguyên nhân của đa số các trường hợp GBM hiện vẫn chưa được biết rõ.<ref name="Stewart2014" /> Các yếu tố nguy cơ hiếm gặp bao gồm các [[rối loạn di truyền]] như [[u xơ thần kinh]] và [[hội chứng Li–Fraumeni]], cũng như tiền sử [[xạ trị]].<ref name="Stewart2014" /><ref name="Gallego2015" /> GBM chiếm khoảng 15% tổng số các ca [[u não]].<ref name="Young2015" /> U này được cho là phát sinh từ các [[tế bào thần kinh đệm hình sao]].<ref>{{cite book | last=Stewart | first=Bernard W. | last2=Wild | first2=Christopher P. | title=World Cancer Report 2014 | publisher=International Agency for Research on Cancer | publication-place=Lyon, France | date=2014 | isbn=978-92-832-0429-9 | oclc=861207319 | url=https://www.worldcat.org/title/861207319 | access-date=2025-06-25 | page=}}</ref> Việc chẩn đoán thường dựa trên kết hợp giữa [[chụp CT]], [[chụp cộng hưởng từ]], và [[sinh thiết|sinh thiết mô]].<ref name="Young2015" />
Nguyên nhân của đa số các trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm hiện vẫn chưa được biết rõ.<ref name="Stewart2014" /> Các yếu tố nguy cơ hiếm gặp bao gồm các [[rối loạn di truyền]] như [[u xơ thần kinh]] và [[hội chứng Li–Fraumeni]], cũng như tiền sử [[xạ trị]].<ref name="Stewart2014" /><ref name="Gallego2015" /> U nguyên bào thần kinh đệm chiếm khoảng 15% tổng số các ca [[u não]].<ref name="Young2015" /> U này được cho là phát sinh từ các [[tế bào thần kinh đệm hình sao]].<ref>{{cite book | last=Stewart | first=Bernard W. | last2=Wild | first2=Christopher P. | title=World Cancer Report 2014 | publisher=International Agency for Research on Cancer | publication-place=Lyon, France | date=2014 | isbn=978-92-832-0429-9 | oclc=861207319 | url=https://www.worldcat.org/title/861207319 | access-date=2025-06-25 | page=}}</ref> Việc chẩn đoán thường dựa trên kết hợp giữa [[chụp CT]], [[chụp cộng hưởng từ]], và [[sinh thiết|sinh thiết mô]].<ref name="Young2015" />


Hiện chưa có phương pháp nào có thể phòng ngừa GBM.<ref name="Gallego2015" /> Việc điều trị thường bao gồm [[phẫu thuật]], sau đó là [[hóa trị]] và [[xạ trị]].<ref name="Gallego2015" /> Thuốc [[temozolomide]] thường được sử dụng như một phần của hóa trị.<ref name="Gallego2015" /><ref name="Hart2016" /><ref>{{cite journal | last=Khosla | first=Divya | title=Concurrent therapy to enhance radiotherapeutic outcomes in glioblastoma | journal=Annals of Translational Medicine | volume=4 | issue=3 | pmid=26904576 | doi=10.3978/j.issn.2305-5839.2016.01.25 | url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4740000/ | access-date=2025-06-25 | page=}}</ref> Thuốc [[corticosteroid]] liều cao có thể được dùng để giảm sưng và làm dịu các triệu chứng.<ref name="Young2015" /> Việc phẫu thuật loại bỏ (giảm áp) khối u có thể kéo dài thời gian sống, nhưng chỉ thêm được vài tháng.<ref>{{cite journal | last=Van Meir | first=E. G. | last2=Hadjipanayis | first2=C. G. | last3=Norden | first3=A. D. | last4=Shu | first4=H. K. | last5=Wen | first5=P. Y. | last6=Olson | first6=J. J. | title=Exciting New Advances in Neuro-Oncology: The Avenue to a Cure for Malignant Glioma | journal=CA: A Cancer Journal for Clinicians | publisher=Wiley | volume=60 | issue=3 | date=2010-05-01 | issn=0007-9235 | doi=10.3322/caac.20069 | doi-access=free | pages=166–193}}</ref>
Hiện chưa có phương pháp nào có thể phòng ngừa u nguyên bào thần kinh đệm.<ref name="Gallego2015" /> Việc điều trị thường bao gồm [[phẫu thuật]], sau đó là [[hóa trị]] và [[xạ trị]].<ref name="Gallego2015" /> Thuốc [[temozolomide]] thường được sử dụng như một phần của hóa trị.<ref name="Gallego2015" /><ref name="Hart2016" /><ref>{{cite journal | last=Khosla | first=Divya | title=Concurrent therapy to enhance radiotherapeutic outcomes in glioblastoma | journal=Annals of Translational Medicine | volume=4 | issue=3 | pmid=26904576 | doi=10.3978/j.issn.2305-5839.2016.01.25 | url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4740000/ | access-date=2025-06-25 | page=}}</ref> Thuốc [[corticosteroid]] liều cao có thể được dùng để giảm sưng và làm dịu các triệu chứng.<ref name="Young2015" /> Việc phẫu thuật loại bỏ (giảm áp) khối u có thể kéo dài thời gian sống, nhưng chỉ thêm được vài tháng.<ref name=":10">{{cite journal | last=Van Meir | first=E. G. | last2=Hadjipanayis | first2=C. G. | last3=Norden | first3=A. D. | last4=Shu | first4=H. K. | last5=Wen | first5=P. Y. | last6=Olson | first6=J. J. | title=Exciting New Advances in Neuro-Oncology: The Avenue to a Cure for Malignant Glioma | journal=CA: A Cancer Journal for Clinicians | publisher=Wiley | volume=60 | issue=3 | date=2010-05-01 | issn=0007-9235 | doi=10.3322/caac.20069 | doi-access=free | pages=166–193}}</ref>


GBM gần như luôn tái phát kể cả khi bệnh nhân đã được điều trị tối đa.<ref name="Gallego2015" /> Thời gian sống trung bình sau khi chẩn đoán là từ 10 đến 13 tháng, với chưa đến 5–10% bệnh nhân sống được hơn năm năm.<ref>{{cite journal|last=McKenney|first=Anna Sophia|last2=Weg|first2=Emily|last3=Bale|first3=Tejus A.|last4=Wild|first4=Aaron T.|last5=Um|first5=Hyemin|last6=Fox|first6=Michael J.|last7=Lin|first7=Andrew|last8=Yang|first8=Jonathan T.|last9=Yao|first9=Peter|last10=Birger|first10=Maxwell L.|last11=Tixier|first11=Florent|last12=Sellitti|first12=Matthew|last13=Moss|first13=Nelson S.|last14=Young|first14=Robert J.|last15=Veeraraghavan|first15=Harini|title=Radiomic Analysis to Predict Histopathologically Confirmed Pseudoprogression in Glioblastoma Patients|journal=Advances in Radiation Oncology|publisher=Elsevier BV|volume=8|issue=1|year=2023|issn=2452-1094|doi=10.1016/j.adro.2022.100916|doi-access=free|page=100916|url=http://www.advancesradonc.org/article/S2452109422000239/pdf|access-date=2025-06-25}}</ref><ref>{{cite journal|last=Stupp|first=Roger|last2=Hegi|first2=Monika E|last3=Mason|first3=Warren P|last4=van den Bent|first4=Martin J|last5=Taphoorn|first5=Martin JB|last6=Janzer|first6=Robert C|last7=Ludwin|first7=Samuel K|last8=Allgeier|first8=Anouk|last9=Fisher|first9=Barbara|last10=Belanger|first10=Karl|last11=Hau|first11=Peter|last12=Brandes|first12=Alba A|last13=Gijtenbeek|first13=Johanna|last14=Marosi|first14=Christine|last15=Vecht|first15=Charles J|last16=Mokhtari|first16=Karima|last17=Wesseling|first17=Pieter|last18=Villa|first18=Salvador|last19=Eisenhauer|first19=Elizabeth|last20=Gorlia|first20=Thierry|last21=Weller|first21=Michael|last22=Lacombe|first22=Denis|last23=Cairncross|first23=J Gregory|last24=Mirimanoff|first24=René-Olivier|title=Effects of radiotherapy with concomitant and adjuvant temozolomide versus radiotherapy alone on survival in glioblastoma in a randomised phase III study: 5-year analysis of the EORTC-NCIC trial|journal=The Lancet Oncology|volume=10|issue=5|date=2009|doi=10.1016/S1470-2045(09)70025-7|pages=459–466|url=https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S1470204509700257|access-date=2025-06-25}}</ref><ref name="Ostrom2019" /> Nếu không điều trị, thời gian sống trung bình sau chẩn đoán thường chỉ khoảng ba tháng.<ref>{{cite book|last=Schapira|first=Anthony H. V.|title=Neurology and Clinical Neuroscience E-Book|publisher=Elsevier Health Sciences|date=2006-12-18|isbn=978-0-323-07053-9|url=https://books.google.com/books?id=EwajBQAAQBAJ&pg=PA1336|access-date=2025-06-25|page=}}</ref> Đây là loại ung thư khởi phát trong não phổ biến nhất, và là loại [[u não]] phổ biến thứ hai sau [[u màng não]], vốn thường là lành tính.<ref name=":0" /><ref>{{cite journal|last=McNeill|first=Katharine A.|title=Epidemiology of Brain Tumors|journal=Neurologic Clinics|volume=34|issue=4|date=2016|doi=10.1016/j.ncl.2016.06.014|pages=981–998|url=https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0733861916300366|access-date=2025-06-25}}</ref> Ước tính có khoảng 3 trên 100.000 người mắc bệnh mỗi năm.<ref name="Gallego2015" /> Độ tuổi trung bình khi được chẩn đoán là 64, và bệnh xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới.<ref name="Stewart2014" /><ref name="Gallego2015" />
U nguyên bào thần kinh đệm gần như luôn tái phát kể cả khi bệnh nhân đã được điều trị tối đa.<ref name="Gallego2015" /> Thời gian sống trung bình sau khi chẩn đoán là từ 10 đến 13 tháng, với chưa đến 5–10% bệnh nhân sống được hơn năm năm.<ref>{{cite journal|last=McKenney|first=Anna Sophia|last2=Weg|first2=Emily|last3=Bale|first3=Tejus A.|last4=Wild|first4=Aaron T.|last5=Um|first5=Hyemin|last6=Fox|first6=Michael J.|last7=Lin|first7=Andrew|last8=Yang|first8=Jonathan T.|last9=Yao|first9=Peter|last10=Birger|first10=Maxwell L.|last11=Tixier|first11=Florent|last12=Sellitti|first12=Matthew|last13=Moss|first13=Nelson S.|last14=Young|first14=Robert J.|last15=Veeraraghavan|first15=Harini|title=Radiomic Analysis to Predict Histopathologically Confirmed Pseudoprogression in Glioblastoma Patients|journal=Advances in Radiation Oncology|publisher=Elsevier BV|volume=8|issue=1|year=2023|issn=2452-1094|doi=10.1016/j.adro.2022.100916|doi-access=free|page=100916|url=http://www.advancesradonc.org/article/S2452109422000239/pdf|access-date=2025-06-25}}</ref><ref>{{cite journal|last=Stupp|first=Roger|last2=Hegi|first2=Monika E|last3=Mason|first3=Warren P|last4=van den Bent|first4=Martin J|last5=Taphoorn|first5=Martin JB|last6=Janzer|first6=Robert C|last7=Ludwin|first7=Samuel K|last8=Allgeier|first8=Anouk|last9=Fisher|first9=Barbara|last10=Belanger|first10=Karl|last11=Hau|first11=Peter|last12=Brandes|first12=Alba A|last13=Gijtenbeek|first13=Johanna|last14=Marosi|first14=Christine|last15=Vecht|first15=Charles J|last16=Mokhtari|first16=Karima|last17=Wesseling|first17=Pieter|last18=Villa|first18=Salvador|last19=Eisenhauer|first19=Elizabeth|last20=Gorlia|first20=Thierry|last21=Weller|first21=Michael|last22=Lacombe|first22=Denis|last23=Cairncross|first23=J Gregory|last24=Mirimanoff|first24=René-Olivier|title=Effects of radiotherapy with concomitant and adjuvant temozolomide versus radiotherapy alone on survival in glioblastoma in a randomised phase III study: 5-year analysis of the EORTC-NCIC trial|journal=The Lancet Oncology|volume=10|issue=5|date=2009|doi=10.1016/S1470-2045(09)70025-7|pages=459–466|url=https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S1470204509700257|access-date=2025-06-25}}</ref><ref name="Ostrom2019" /> Nếu không điều trị, thời gian sống trung bình sau chẩn đoán thường chỉ khoảng ba tháng.<ref>{{cite book|last=Schapira|first=Anthony H. V.|title=Neurology and Clinical Neuroscience E-Book|publisher=Elsevier Health Sciences|date=2006-12-18|isbn=978-0-323-07053-9|url=https://books.google.com/books?id=EwajBQAAQBAJ&pg=PA1336|access-date=2025-06-25|page=}}</ref> Đây là loại ung thư khởi phát trong não phổ biến nhất, và là loại [[u não]] phổ biến thứ hai sau [[u màng não]], vốn thường là lành tính.<ref name=":0" /><ref>{{cite journal|last=McNeill|first=Katharine A.|title=Epidemiology of Brain Tumors|journal=Neurologic Clinics|volume=34|issue=4|date=2016|doi=10.1016/j.ncl.2016.06.014|pages=981–998|url=https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S0733861916300366|access-date=2025-06-25}}</ref> Ước tính có khoảng 3 trên 100.000 người mắc bệnh mỗi năm.<ref name="Gallego2015" /> Độ tuổi trung bình khi được chẩn đoán là 64, và bệnh xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới.<ref name="Stewart2014" /><ref name="Gallego2015" />


U thần kinh trung ương là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 10 trên toàn cầu, trong đó có đến 90% là u não.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Ostrom |first=Quinn T |last2=Patil |first2=Nirav |last3=Cioffi |first3=Gino |last4=Waite |first4=Kristin |last5=Kruchko |first5=Carol |last6=Barnholtz-Sloan |first6=Jill S |date=2020-10-30 |title=CBTRUS Statistical Report: Primary Brain and Other Central Nervous System Tumors Diagnosed in the United States in 2013–2017 |url=https://doi.org/10.1093/neuonc/noaa200 |magazine=Neuro-Oncology |pages=iv1–iv96 |volume=22 |issue=Supplement_1 |doi=10.1093/neuonc/noaa200 |issn=1522-8517 |pmc=7596247 |pmid=33123732}}</ref> GBM có nguồn gốc từ các [[tế bào thần kinh đệm hình sao]] và chiếm khoảng 49% tổng số các khối u ác tính của hệ thần kinh trung ương, khiến nó trở thành dạng ung thư phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương. Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực phát triển các liệu pháp điều trị mới cho GBM trong nhiều năm qua, thời gian sống trung vị của bệnh nhân GBM trên toàn thế giới vẫn chỉ là khoảng 8 tháng. Việc điều trị tiêu chuẩn bằng xạ trị và hóa trị bắt đầu ngay sau chẩn đoán có thể kéo dài thời gian sống trung vị lên khoảng 14 tháng, với tỷ lệ sống sau 5 năm đạt từ 5–10%. Tỷ lệ sống sau 5 năm đối với mọi loại u não ác tính nguyên phát nói chung là khoảng 20%.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Visser |first=Otto |last2=Ardanaz |first2=Eva |last3=Botta |first3=Laura |last4=Sant |first4=Milena |last5=Tavilla |first5=Andrea |last6=Minicozzi |first6=Pamela |last7=Hackl |first7=M. |last8=Zielonke |first8=N. |last9=Oberaigner |first9=W. |date=2015-10-01 |title=Survival of adults with primary malignant brain tumours in Europe; Results of the EUROCARE-5 study |url=https://www.ejcancer.com/article/S0959-8049(15)00712-1/abstract |magazine=European Journal of Cancer |pages=2231–2241 |language=English |volume=51 |issue=15 |doi=10.1016/j.ejca.2015.07.032 |issn=0959-8049 |pmid=26421825}}</ref> Ngay cả khi các phần có thể phát hiện của khối u đã được loại bỏ bằng phẫu thuật, phần lớn bệnh nhân GBM vẫn bị tái phát.
U thần kinh trung ương là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 10 trên toàn cầu, trong đó có đến 90% là u não.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Ostrom |first=Quinn T |last2=Patil |first2=Nirav |last3=Cioffi |first3=Gino |last4=Waite |first4=Kristin |last5=Kruchko |first5=Carol |last6=Barnholtz-Sloan |first6=Jill S |date=2020-10-30 |title=CBTRUS Statistical Report: Primary Brain and Other Central Nervous System Tumors Diagnosed in the United States in 2013–2017 |url=https://doi.org/10.1093/neuonc/noaa200 |magazine=Neuro-Oncology |pages=iv1–iv96 |volume=22 |issue=Supplement_1 |doi=10.1093/neuonc/noaa200 |issn=1522-8517 |pmc=7596247 |pmid=33123732}}</ref> U nguyên bào thần kinh đệm có nguồn gốc từ các [[tế bào thần kinh đệm hình sao]] và chiếm khoảng 49% tổng số các khối u ác tính của hệ thần kinh trung ương, khiến nó trở thành dạng ung thư phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương. Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực phát triển các liệu pháp điều trị mới cho u nguyên bào thần kinh đệm trong nhiều năm qua, thời gian sống trung vị của bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm trên toàn thế giới vẫn chỉ là khoảng 8 tháng. Việc điều trị tiêu chuẩn bằng xạ trị và hóa trị bắt đầu ngay sau chẩn đoán có thể kéo dài thời gian sống trung vị lên khoảng 14 tháng, với tỷ lệ sống sau 5 năm đạt từ 5–10%. Tỷ lệ sống sau 5 năm đối với mọi loại u não ác tính nguyên phát nói chung là khoảng 20%.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Visser |first=Otto |last2=Ardanaz |first2=Eva |last3=Botta |first3=Laura |last4=Sant |first4=Milena |last5=Tavilla |first5=Andrea |last6=Minicozzi |first6=Pamela |last7=Hackl |first7=M. |last8=Zielonke |first8=N. |last9=Oberaigner |first9=W. |date=2015-10-01 |title=Survival of adults with primary malignant brain tumours in Europe; Results of the EUROCARE-5 study |url=https://www.ejcancer.com/article/S0959-8049(15)00712-1/abstract |magazine=European Journal of Cancer |pages=2231–2241 |language=English |volume=51 |issue=15 |doi=10.1016/j.ejca.2015.07.032 |issn=0959-8049 |pmid=26421825}}</ref> Ngay cả khi các phần có thể phát hiện của khối u đã được loại bỏ bằng phẫu thuật, phần lớn bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm vẫn bị tái phát.


==Triệu chứng==
==Triệu chứng==
Dòng 36: Dòng 36:


== Yếu tố nguy cơ ==
== Yếu tố nguy cơ ==
Nguyên nhân của hầu hết các trường hợp GBM vẫn chưa rõ ràng.<ref name="Stewart2014" /> Yếu tố nguy cơ được biết đến rõ nhất là tiếp xúc với [[bức xạ ion hóa]], trong đó bức xạ từ [[chụp CT]] được xem là một nguyên nhân quan trọng.<ref>{{cite journal|last=Smoll|first=Nicolas R|last2=Brady|first2=Zoe|last3=Scurrah|first3=Katrina J|last4=Lee|first4=Choonsik|last5=Berrington de González|first5=Amy|last6=Mathews|first6=John D|title=Computed tomography scan radiation and brain cancer incidence|journal=Neuro-Oncology|volume=25|issue=7|date=2023-07-06|issn=1522-8517|pmid=36638155|pmc=10326490|doi=10.1093/neuonc/noad012|pages=1368–1376|url=https://academic.oup.com/neuro-oncology/article/25/7/1368/6987226|access-date=2025-06-25}}</ref><ref>{{cite journal|last=Smoll|first=Nicolas R.|last2=Brady|first2=Zoe|last3=Scurrah|first3=Katrina|last4=Mathews|first4=John D.|title=Exposure to ionizing radiation and brain cancer incidence: The Life Span Study cohort|journal=Cancer Epidemiology|volume=42|date=2016|doi=10.1016/j.canep.2016.03.006|pages=60–65|url=https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S1877782116300315|access-date=2025-06-25}}</ref> Khoảng 5% trường hợp mắc là do phát triển từ một số hội chứng di truyền nhất định.<ref name=":1" />
Nguyên nhân của hầu hết các trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm vẫn chưa rõ ràng.<ref name="Stewart2014" /> Yếu tố nguy cơ được biết đến rõ nhất là tiếp xúc với [[bức xạ ion hóa]], trong đó bức xạ từ [[chụp CT]] được xem là một nguyên nhân quan trọng.<ref>{{cite journal|last=Smoll|first=Nicolas R|last2=Brady|first2=Zoe|last3=Scurrah|first3=Katrina J|last4=Lee|first4=Choonsik|last5=Berrington de González|first5=Amy|last6=Mathews|first6=John D|title=Computed tomography scan radiation and brain cancer incidence|journal=Neuro-Oncology|volume=25|issue=7|date=2023-07-06|issn=1522-8517|pmid=36638155|pmc=10326490|doi=10.1093/neuonc/noad012|pages=1368–1376|url=https://academic.oup.com/neuro-oncology/article/25/7/1368/6987226|access-date=2025-06-25}}</ref><ref>{{cite journal|last=Smoll|first=Nicolas R.|last2=Brady|first2=Zoe|last3=Scurrah|first3=Katrina|last4=Mathews|first4=John D.|title=Exposure to ionizing radiation and brain cancer incidence: The Life Span Study cohort|journal=Cancer Epidemiology|volume=42|date=2016|doi=10.1016/j.canep.2016.03.006|pages=60–65|url=https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S1877782116300315|access-date=2025-06-25}}</ref> Khoảng 5% trường hợp mắc là do phát triển từ một số hội chứng di truyền nhất định.<ref name=":1" />
=== Di truyền ===
=== Di truyền ===
Các yếu tố nguy cơ ít gặp bao gồm các [[rối loạn di truyền]] như [[u xơ thần kinh]], [[hội chứng Li–Fraumeni]], [[xơ cứng củ]] và [[hội chứng Turcot]].<ref name=":1" /> Tiền sử đã từng [[xạ trị]] cũng là một yếu tố nguy cơ.<ref name="Stewart2014" /><ref name="Gallego2015" /> Vì lý do chưa rõ, GBM xảy ra phổ biến hơn ở nam giới.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Ohgaki |first=Hiroko |last2=Kleihues |first2=Paul |date=2005-06-01 |title=Population-Based Studies on Incidence, Survival Rates, and Genetic Alterations in Astrocytic and Oligodendroglial Gliomas |url=https://doi.org/10.1093/jnen/64.6.479 |magazine=Journal of Neuropathology & Experimental Neurology |pages=479–489 |volume=64 |issue=6 |doi=10.1093/jnen/64.6.479 |issn=0022-3069}}</ref>
Các yếu tố nguy cơ ít gặp bao gồm các [[rối loạn di truyền]] như [[u xơ thần kinh]], [[hội chứng Li–Fraumeni]], [[xơ cứng củ]] và [[hội chứng Turcot]].<ref name=":1" /> Tiền sử đã từng [[xạ trị]] cũng là một yếu tố nguy cơ.<ref name="Stewart2014" /><ref name="Gallego2015" /> Vì lý do chưa rõ, u nguyên bào thần kinh đệm xảy ra phổ biến hơn ở nam giới.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Ohgaki |first=Hiroko |last2=Kleihues |first2=Paul |date=2005-06-01 |title=Population-Based Studies on Incidence, Survival Rates, and Genetic Alterations in Astrocytic and Oligodendroglial Gliomas |url=https://doi.org/10.1093/jnen/64.6.479 |magazine=Journal of Neuropathology & Experimental Neurology |pages=479–489 |volume=64 |issue=6 |doi=10.1093/jnen/64.6.479 |issn=0022-3069}}</ref>
=== Môi trường ===
=== Môi trường ===
Một số yếu tố liên quan khác bao gồm tiếp xúc với [[thuốc lá]], [[thuốc trừ sâu]], và làm việc trong lĩnh vực [[Nhà máy lọc dầu|lọc hóa dầu]] hoặc [[Cao su tổng hợp|sản xuất cao su tổng hợp]].<ref name=":1" />
Một số yếu tố liên quan khác bao gồm tiếp xúc với [[thuốc lá]], [[thuốc trừ sâu]], và làm việc trong lĩnh vực [[Nhà máy lọc dầu|lọc hóa dầu]] hoặc [[Cao su tổng hợp|sản xuất cao su tổng hợp]].<ref name=":1" />


GBM cũng đã được ghi nhận có liên quan đến một số loại virus như [[SV40]],<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Vilchez |first=Regis A. |last2=Kozinetz |first2=Claudia A. |last3=Arrington |first3=Amy S. |last4=Madden |first4=Charles R. |last5=Butel |first5=Janet S. |date=2003-06-01 |title=Simian virus 40 in human cancers |url=https://www.amjmed.com/article/S0002-9343(03)00087-1/abstract |magazine=The American Journal of Medicine |pages=675–684 |language=English |volume=114 |issue=8 |doi=10.1016/S0002-9343(03)00087-1 |issn=0002-9343}}</ref> [[HHV-6]],<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Crawford |first=John R. |last2=Santi |first2=Maria R. |last3=Thorarinsdottir |first3=Halldora K. |last4=Cornelison |first4=Robert |last5=Rushing |first5=Elisabeth J. |last6=Zhang |first6=Huizhen |last7=Yao |first7=Karen |last8=Jacobson |first8=Steven |last9=MacDonald |first9=Tobey J. |date=2009-09-01 |title=Detection of human herpesvirus-6 variants in pediatric brain tumors: Association of viral antigen in low grade gliomas |url=https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1386653209001929 |magazine=Journal of Clinical Virology |pages=37–42 |volume=46 |issue=1 |doi=10.1016/j.jcv.2009.05.011 |issn=1386-6532 |pmc=2749001 |pmid=19505845}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Chi |first=Jing |last2=Gu |first2=Bin |last3=Zhang |first3=Chun |last4=Peng |first4=Guangyong |last5=Zhou |first5=Feng |last6=Chen |first6=Yun |last7=Zhang |first7=Guofeng |last8=Guo |first8=Yidi |last9=Guo |first9=Dandan |date=2012-11-01 |title=Human Herpesvirus 6 Latent Infection in Patients With Glioma |url=https://doi.org/10.1093/infdis/jis513 |magazine=The Journal of Infectious Diseases |pages=1394–1398 |volume=206 |issue=9 |doi=10.1093/infdis/jis513 |issn=0022-1899}}</ref> và [[cytomegalovirus]] (CMV).<ref>{{Chú thích tạp chí |last=McFaline-Figueroa |first=J. Ricardo |last2=Wen |first2=Patrick Y. |date=2017-02-23 |title=The Viral Connection to Glioblastoma |url=https://doi.org/10.1007/s11908-017-0563-z |magazine=Current Infectious Disease Reports |pages=5 |language=en |volume=19 |issue=2 |doi=10.1007/s11908-017-0563-z |issn=1534-3146}}</ref> Nhiễm [[cytomegalovirus gây ung thư]] thậm chí có thể là điều kiện cần để khởi phát GBM.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=El Baba |first=Ranim |last2=Pasquereau |first2=Sébastien |last3=Haidar Ahmad |first3=Sandy |last4=Monnien |first4=Franck |last5=Abad |first5=Marine |last6=Bibeau |first6=Frédéric |last7=Herbein |first7=Georges |date=2023-06 |title=EZH2-Myc driven glioblastoma elicited by cytomegalovirus infection of human astrocytes |url=https://www.nature.com/articles/s41388-023-02709-3 |magazine=Oncogene |pages=2031–2045 |language=en |volume=42 |issue=24 |doi=10.1038/s41388-023-02709-3 |issn=1476-5594 |pmc=10256614 |pmid=37147437}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Guyon |first=Joris |last2=Haidar Ahmad |first2=Sandy |last3=El Baba |first3=Ranim |last4=Le Quang |first4=Mégane |last5=Bikfalvi |first5=Andreas |last6=Daubon |first6=Thomas |last7=Herbein |first7=Georges |date=2024-07 |title=Generation of glioblastoma in mice engrafted with human cytomegalovirus-infected astrocytes |url=https://www.nature.com/articles/s41417-024-00767-7 |magazine=Cancer Gene Therapy |pages=1070–1080 |language=en |volume=31 |issue=7 |doi=10.1038/s41417-024-00767-7 |issn=1476-5500 |pmc=11257955 |pmid=38553638}}</ref>
U nguyên bào thần kinh đệm cũng đã được ghi nhận có liên quan đến một số loại virus như [[SV40]],<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Vilchez |first=Regis A. |last2=Kozinetz |first2=Claudia A. |last3=Arrington |first3=Amy S. |last4=Madden |first4=Charles R. |last5=Butel |first5=Janet S. |date=2003-06-01 |title=Simian virus 40 in human cancers |url=https://www.amjmed.com/article/S0002-9343(03)00087-1/abstract |magazine=The American Journal of Medicine |pages=675–684 |language=English |volume=114 |issue=8 |doi=10.1016/S0002-9343(03)00087-1 |issn=0002-9343}}</ref> [[HHV-6]],<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Crawford |first=John R. |last2=Santi |first2=Maria R. |last3=Thorarinsdottir |first3=Halldora K. |last4=Cornelison |first4=Robert |last5=Rushing |first5=Elisabeth J. |last6=Zhang |first6=Huizhen |last7=Yao |first7=Karen |last8=Jacobson |first8=Steven |last9=MacDonald |first9=Tobey J. |date=2009-09-01 |title=Detection of human herpesvirus-6 variants in pediatric brain tumors: Association of viral antigen in low grade gliomas |url=https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1386653209001929 |magazine=Journal of Clinical Virology |pages=37–42 |volume=46 |issue=1 |doi=10.1016/j.jcv.2009.05.011 |issn=1386-6532 |pmc=2749001 |pmid=19505845}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Chi |first=Jing |last2=Gu |first2=Bin |last3=Zhang |first3=Chun |last4=Peng |first4=Guangyong |last5=Zhou |first5=Feng |last6=Chen |first6=Yun |last7=Zhang |first7=Guofeng |last8=Guo |first8=Yidi |last9=Guo |first9=Dandan |date=2012-11-01 |title=Human Herpesvirus 6 Latent Infection in Patients With Glioma |url=https://doi.org/10.1093/infdis/jis513 |magazine=The Journal of Infectious Diseases |pages=1394–1398 |volume=206 |issue=9 |doi=10.1093/infdis/jis513 |issn=0022-1899}}</ref> và [[cytomegalovirus]] (CMV).<ref>{{Chú thích tạp chí |last=McFaline-Figueroa |first=J. Ricardo |last2=Wen |first2=Patrick Y. |date=2017-02-23 |title=The Viral Connection to Glioblastoma |url=https://doi.org/10.1007/s11908-017-0563-z |magazine=Current Infectious Disease Reports |pages=5 |language=en |volume=19 |issue=2 |doi=10.1007/s11908-017-0563-z |issn=1534-3146}}</ref> Nhiễm [[cytomegalovirus gây ung thư]] thậm chí có thể là điều kiện cần để khởi phát u nguyên bào thần kinh đệm.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=El Baba |first=Ranim |last2=Pasquereau |first2=Sébastien |last3=Haidar Ahmad |first3=Sandy |last4=Monnien |first4=Franck |last5=Abad |first5=Marine |last6=Bibeau |first6=Frédéric |last7=Herbein |first7=Georges |date=2023-06 |title=EZH2-Myc driven glioblastoma elicited by cytomegalovirus infection of human astrocytes |url=https://www.nature.com/articles/s41388-023-02709-3 |magazine=Oncogene |pages=2031–2045 |language=en |volume=42 |issue=24 |doi=10.1038/s41388-023-02709-3 |issn=1476-5594 |pmc=10256614 |pmid=37147437}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Guyon |first=Joris |last2=Haidar Ahmad |first2=Sandy |last3=El Baba |first3=Ranim |last4=Le Quang |first4=Mégane |last5=Bikfalvi |first5=Andreas |last6=Daubon |first6=Thomas |last7=Herbein |first7=Georges |date=2024-07 |title=Generation of glioblastoma in mice engrafted with human cytomegalovirus-infected astrocytes |url=https://www.nature.com/articles/s41417-024-00767-7 |magazine=Cancer Gene Therapy |pages=1070–1080 |language=en |volume=31 |issue=7 |doi=10.1038/s41417-024-00767-7 |issn=1476-5500 |pmc=11257955 |pmid=38553638}}</ref>


=== Khác ===
=== Khác ===
Một số nghiên cứu đã được thực hiện để xác định liệu việc tiêu thụ [[thịt muối]] có phải là yếu tố nguy cơ hay không. Tính đến năm 2003, chưa có bằng chứng xác nhận mối tương quan này.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Huncharek |first=Michael |last2=Kupelnick |first2=Bruce |last3=Wheeler |first3=Lamar |date=2003 |title=Dietary Cured Meat and the Risk of Adult Glioma: A Meta-Analysis of Nine Observational Studies |url=https://www.dl.begellhouse.com/journals/0ff459a57a4c08d0,6131038a630e9e7e,24aef4e04c306dcd.html |magazine=Journal of Environmental Pathology, Toxicology and Oncology |language=English |volume=22 |issue=2 |doi=10.1615/JEnvPathToxOncol.v22.i2.60 |issn=0731-8898}}</ref> Tương tự, việc tiếp xúc với [[formaldehyde]] và các [[trường điện từ]] trong môi trường sinh hoạt—như từ điện thoại di động hoặc hệ thống dây điện trong nhà—cũng đã được nghiên cứu như các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, tính đến năm 2015, các yếu tố này vẫn chưa được chứng minh là có gây ra GBM.<ref name=":1" /><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Kan |first=Peter |last2=Simonsen |first2=Sara E. |last3=Lyon |first3=Joseph L. |last4=Kestle |first4=John R. W. |date=2008-01-01 |title=Cellular phone use and brain tumor: a meta-analysis |url=https://doi.org/10.1007/s11060-007-9432-1 |magazine=Journal of Neuro-Oncology |pages=71–78 |language=en |volume=86 |issue=1 |doi=10.1007/s11060-007-9432-1 |issn=1573-7373}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Hardell |first=Lennart |last2=Carlberg |first2=Michael |last3=Hansson Mild |first3=Kjell |date=2009-08-01 |title=Epidemiological evidence for an association between use of wireless phones and tumor diseases |url=https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0928468009000091 |magazine=Pathophysiology |pages=113–122 |volume=16 |issue=2 |doi=10.1016/j.pathophys.2009.01.003 |issn=0928-4680}}</ref>
Một số nghiên cứu đã được thực hiện để xác định liệu việc tiêu thụ [[thịt muối]] có phải là yếu tố nguy cơ hay không. Tính đến năm 2003, chưa có bằng chứng xác nhận mối tương quan này.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Huncharek |first=Michael |last2=Kupelnick |first2=Bruce |last3=Wheeler |first3=Lamar |date=2003 |title=Dietary Cured Meat and the Risk of Adult Glioma: A Meta-Analysis of Nine Observational Studies |url=https://www.dl.begellhouse.com/journals/0ff459a57a4c08d0,6131038a630e9e7e,24aef4e04c306dcd.html |magazine=Journal of Environmental Pathology, Toxicology and Oncology |language=English |volume=22 |issue=2 |doi=10.1615/JEnvPathToxOncol.v22.i2.60 |issn=0731-8898}}</ref> Tương tự, việc tiếp xúc với [[formaldehyde]] và các [[trường điện từ]] trong môi trường sinh hoạt—như từ điện thoại di động hoặc hệ thống dây điện trong nhà—cũng đã được nghiên cứu như các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, tính đến năm 2015, các yếu tố này vẫn chưa được chứng minh là có gây ra u nguyên bào thần kinh đệm.<ref name=":1" /><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Kan |first=Peter |last2=Simonsen |first2=Sara E. |last3=Lyon |first3=Joseph L. |last4=Kestle |first4=John R. W. |date=2008-01-01 |title=Cellular phone use and brain tumor: a meta-analysis |url=https://doi.org/10.1007/s11060-007-9432-1 |magazine=Journal of Neuro-Oncology |pages=71–78 |language=en |volume=86 |issue=1 |doi=10.1007/s11060-007-9432-1 |issn=1573-7373}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Hardell |first=Lennart |last2=Carlberg |first2=Michael |last3=Hansson Mild |first3=Kjell |date=2009-08-01 |title=Epidemiological evidence for an association between use of wireless phones and tumor diseases |url=https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0928468009000091 |magazine=Pathophysiology |pages=113–122 |volume=16 |issue=2 |doi=10.1016/j.pathophys.2009.01.003 |issn=0928-4680}}</ref>
== Sinh lý bệnh ==
== Sinh lý bệnh ==
Nguồn gốc tế bào của GBM hiện vẫn chưa được xác định rõ. Do có sự tương đồng về [[nhuộm hóa mô miễn dịch]] giữa các [[tế bào thần kinh đệm]] và GBM, các loại u thần kinh đệm như GBM từ lâu đã được cho là có nguồn gốc từ các tế bào gốc dạng thần kinh đệm nằm trong [[vùng tiền não thất bên]]. Những nghiên cứu gần đây cho thấy [[tế bào thần kinh đệm hình sao]], [[tế bào oligodendrocytes tiền thân]], và [[tế bào gốc thần kinh]] đều có thể đóng vai trò là tế bào khởi phát khối u.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Zong |first=Hui |last2=Verhaak |first2=Roel G. W. |last3=Canoll |first3=Peter |date=2012-05 |title=The cellular origin for malignant glioma and prospects for clinical advancements |url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3368274/ |magazine=Expert Review of Molecular Diagnostics |pages=383–394 |volume=12 |issue=4 |doi=10.1586/erm.12.30 |issn=1744-8352 |pmc=3368274 |pmid=22616703}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Zong |first=Hui |last2=Parada |first2=Luis F. |last3=Baker |first3=Suzanne J. |date=2015-01-29 |title=Cell of origin for malignant gliomas and its implication in therapeutic development |url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4448618/ |magazine=Cold Spring Harbor Perspectives in Biology |pages=a020610 |volume=7 |issue=5 |doi=10.1101/cshperspect.a020610 |issn=1943-0264 |pmc=4448618 |pmid=25635044}}</ref>
Nguồn gốc tế bào của u nguyên bào thần kinh đệm hiện vẫn chưa được xác định rõ. Do có sự tương đồng về [[nhuộm hóa mô miễn dịch]] giữa các [[tế bào thần kinh đệm]] và u nguyên bào thần kinh đệm, các loại u thần kinh đệm như u nguyên bào thần kinh đệm từ lâu đã được cho là có nguồn gốc từ các tế bào gốc dạng thần kinh đệm nằm trong [[vùng tiền não thất bên]]. Những nghiên cứu gần đây cho thấy [[tế bào thần kinh đệm hình sao]], [[tế bào oligodendrocytes tiền thân]], và [[tế bào gốc thần kinh]] đều có thể đóng vai trò là tế bào khởi phát khối u.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Zong |first=Hui |last2=Verhaak |first2=Roel G. W. |last3=Canoll |first3=Peter |date=2012-05 |title=The cellular origin for malignant glioma and prospects for clinical advancements |url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3368274/ |magazine=Expert Review of Molecular Diagnostics |pages=383–394 |volume=12 |issue=4 |doi=10.1586/erm.12.30 |issn=1744-8352 |pmc=3368274 |pmid=22616703}}</ref><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Zong |first=Hui |last2=Parada |first2=Luis F. |last3=Baker |first3=Suzanne J. |date=2015-01-29 |title=Cell of origin for malignant gliomas and its implication in therapeutic development |url=https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4448618/ |magazine=Cold Spring Harbor Perspectives in Biology |pages=a020610 |volume=7 |issue=5 |doi=10.1101/cshperspect.a020610 |issn=1943-0264 |pmc=4448618 |pmid=25635044}}</ref>


GBM thường hình thành trong chất trắng của đại não, phát triển nhanh chóng và có thể đạt kích thước rất lớn trước khi xuất hiện triệu chứng. Vì chức năng chính của tế bào thần kinh đệm trong não là hỗ trợ các nơron, chúng có khả năng phân chia, phình to, và mở rộng các nhánh tế bào dọc theo các nơron và mạch máu. Khi trở nên ác tính, các tế bào này có xu hướng lan theo các đường sẵn có trong não, thường là theo các bó chất trắng, mạch máu và [[khoang quanh mạch máu]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Seker-Polat |first=Fidan |last2=Pinarbasi Degirmenci |first2=Nareg |last3=Solaroglu |first3=Ihsan |last4=Bagci-Onder |first4=Tugba |date=2022-01-17 |title=Tumor Cell Infiltration into the Brain in Glioblastoma: From Mechanisms to Clinical Perspectives |url=https://www.mdpi.com/2072-6694/14/2/443 |magazine=Cancers |pages=443 |language=en |volume=14 |issue=2 |doi=10.3390/cancers14020443 |issn=2072-6694 |pmc=8773542 |pmid=35053605}}</ref> Khối u có thể lan đến [[màng não]] hoặc thành [[Não thất|hệ thống não thất]], dẫn đến hàm lượng protein cao trong [[dịch não tủy]] (> 100 mg/dl), và đôi khi gây [[tăng bạch cầu trong dịch não tủy|tăng tế bào dịch não tủy]] với số lượng từ 10 đến 100 tế bào, chủ yếu là [[Lympho bào|lympho]]. Các tế bào ác tính có thể di chuyển trong dịch não tủy và (hiếm khi) lan đến [[tủy sống]] hoặc gây [[u màng não lan tỏa|u thần kinh đệm màng não]]. Tuy nhiên, việc GBM [[di căn]] ra ngoài [[hệ thần kinh trung ương]] là cực kỳ hiếm gặp. Khoảng 50% các khối u GBM chiếm hơn một thùy não hoặc xảy ra ở cả hai bán cầu não. Những khối u này thường bắt nguồn từ [[đại não]] và có thể lan điển hình qua [[thể chai]], tạo thành dạng u thần kinh đệm hình cánh bướm (bilateral glioma).<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Kazi |first=Aamish Z. |last2=Joshi |first2=Priscilla C. |last3=Kelkar |first3=Abhimanyu B. |last4=Mahajan |first4=Mangal S. |last5=Ghawate |first5=Amit S. |date=2013-10 |title=MRI evaluation of pathologies affecting the corpus callosum: A pictorial essay |url=http://www.thieme-connect.de/DOI/DOI?10.4103/0971-3026.125604 |magazine=Indian Journal of Radiology and Imaging |pages=321–332 |language=en |volume=23 |issue=04 |doi=10.4103/0971-3026.125604 |issn=0971-3026 |pmc=3932574 |pmid=24604936}}</ref>
U nguyên bào thần kinh đệm thường hình thành trong chất trắng của đại não, phát triển nhanh chóng và có thể đạt kích thước rất lớn trước khi xuất hiện triệu chứng. Vì chức năng chính của tế bào thần kinh đệm trong não là hỗ trợ các nơron, chúng có khả năng phân chia, phình to, và mở rộng các nhánh tế bào dọc theo các nơron và mạch máu. Khi trở nên ác tính, các tế bào này có xu hướng lan theo các đường sẵn có trong não, thường là theo các bó chất trắng, mạch máu và [[khoang quanh mạch máu]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Seker-Polat |first=Fidan |last2=Pinarbasi Degirmenci |first2=Nareg |last3=Solaroglu |first3=Ihsan |last4=Bagci-Onder |first4=Tugba |date=2022-01-17 |title=Tumor Cell Infiltration into the Brain in Glioblastoma: From Mechanisms to Clinical Perspectives |url=https://www.mdpi.com/2072-6694/14/2/443 |magazine=Cancers |pages=443 |language=en |volume=14 |issue=2 |doi=10.3390/cancers14020443 |issn=2072-6694 |pmc=8773542 |pmid=35053605}}</ref> Khối u có thể lan đến [[màng não]] hoặc thành [[Não thất|hệ thống não thất]], dẫn đến hàm lượng protein cao trong [[dịch não tủy]] (> 100 mg/dl), và đôi khi gây [[tăng bạch cầu trong dịch não tủy|tăng tế bào dịch não tủy]] với số lượng từ 10 đến 100 tế bào, chủ yếu là [[Lympho bào|lympho]]. Các tế bào ác tính có thể di chuyển trong dịch não tủy và (hiếm khi) lan đến [[tủy sống]] hoặc gây [[u màng não lan tỏa|u thần kinh đệm màng não]]. Tuy nhiên, việc u nguyên bào thần kinh đệm [[di căn]] ra ngoài [[hệ thần kinh trung ương]] là cực kỳ hiếm gặp. Khoảng 50% các khối u nguyên bào thần kinh đệm chiếm hơn một thùy não hoặc xảy ra ở cả hai bán cầu não. Những khối u này thường bắt nguồn từ [[đại não]] và có thể lan điển hình qua [[thể chai]], tạo thành dạng u thần kinh đệm hình cánh bướm (bilateral glioma).<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Kazi |first=Aamish Z. |last2=Joshi |first2=Priscilla C. |last3=Kelkar |first3=Abhimanyu B. |last4=Mahajan |first4=Mangal S. |last5=Ghawate |first5=Amit S. |date=2013-10 |title=MRI evaluation of pathologies affecting the corpus callosum: A pictorial essay |url=http://www.thieme-connect.de/DOI/DOI?10.4103/0971-3026.125604 |magazine=Indian Journal of Radiology and Imaging |pages=321–332 |language=en |volume=23 |issue=04 |doi=10.4103/0971-3026.125604 |issn=0971-3026 |pmc=3932574 |pmid=24604936}}</ref>


=== Phân loại ===
=== Phân loại ===
Dòng 58: Dòng 58:


{| class="wikitable"
{| class="wikitable"
|+Đặc điểm của u nguyên bào thần kinh đệm, IDH hoang dã, WHO độ 4<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Louis |first=David N |last2=Perry |first2=Arie |last3=Wesseling |first3=Pieter |last4=Brat |first4=Daniel J |last5=Cree |first5=Ian A |last6=Figarella-Branger |first6=Dominique |last7=Hawkins |first7=Cynthia |last8=Ng |first8=H K |last9=Pfister |first9=Stefan M |date=2021-08-01 |title=The 2021 WHO Classification of Tumors of the Central Nervous System: a summary |url=https://doi.org/10.1093/neuonc/noab106 |magazine=Neuro-Oncology |pages=1231–1251 |volume=23 |issue=8 |doi=10.1093/neuonc/noab106 |issn=1522-8517 |pmc=8328013 |pmid=34185076}}</ref>
|+Đặc điểm của u nguyên bào thần kinh đệm, IDH hoang dã, độ 4 theo WHO<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Louis |first=David N |last2=Perry |first2=Arie |last3=Wesseling |first3=Pieter |last4=Brat |first4=Daniel J |last5=Cree |first5=Ian A |last6=Figarella-Branger |first6=Dominique |last7=Hawkins |first7=Cynthia |last8=Ng |first8=H K |last9=Pfister |first9=Stefan M |date=2021-08-01 |title=The 2021 WHO Classification of Tumors of the Central Nervous System: a summary |url=https://doi.org/10.1093/neuonc/noab106 |magazine=Neuro-Oncology |pages=1231–1251 |volume=23 |issue=8 |doi=10.1093/neuonc/noab106 |issn=1522-8517 |pmc=8328013 |pmid=34185076}}</ref>
|-
|-
| Các tên gọi
| Các tên gọi
| U nguyên bào thần kinh đệm, GBM
| U nguyên bào thần kinh đệm; u nguyên bào thần kinh đệm đa hình thái; GBM; glioblastoma; glioblastoma multiforme
|-
|-
| Tế bào nguồn gốc
| Tế bào nguồn gốc
Dòng 93: Dòng 93:
|}
|}
=== Biến đổi phân tử ===
=== Biến đổi phân tử ===
Hiện nay có ba phân nhóm phân tử chính của GBM, được xác định dựa trên biểu hiện gen:<ref name=":2">{{Chú thích tạp chí |last=Wang |first=Qianghu |last2=Hu |first2=Baoli |last3=Hu |first3=Xin |last4=Kim |first4=Hoon |last5=Squatrito |first5=Massimo |last6=Scarpace |first6=Lisa |last7=deCarvalho |first7=Ana C. |last8=Lyu |first8=Sali |last9=Li |first9=Pengping |date=2017-07-10 |title=Tumor Evolution of Glioma-Intrinsic Gene Expression Subtypes Associates with Immunological Changes in the Microenvironment |url=https://www.cell.com/cancer-cell/abstract/S1535-6108(17)30253-2 |magazine=Cancer Cell |pages=42–56.e6 |language=English |volume=32 |issue=1 |doi=10.1016/j.ccell.2017.06.003 |issn=1535-6108 |pmc=5599156 |pmid=28697342}}</ref>
Hiện nay có ba phân nhóm phân tử chính của u nguyên bào thần kinh đệm, được xác định dựa trên biểu hiện gen:<ref name=":2">{{Chú thích tạp chí |last=Wang |first=Qianghu |last2=Hu |first2=Baoli |last3=Hu |first3=Xin |last4=Kim |first4=Hoon |last5=Squatrito |first5=Massimo |last6=Scarpace |first6=Lisa |last7=deCarvalho |first7=Ana C. |last8=Lyu |first8=Sali |last9=Li |first9=Pengping |date=2017-07-10 |title=Tumor Evolution of Glioma-Intrinsic Gene Expression Subtypes Associates with Immunological Changes in the Microenvironment |url=https://www.cell.com/cancer-cell/abstract/S1535-6108(17)30253-2 |magazine=Cancer Cell |pages=42–56.e6 |language=English |volume=32 |issue=1 |doi=10.1016/j.ccell.2017.06.003 |issn=1535-6108 |pmc=5599156 |pmid=28697342}}</ref>


* '''Phân nhóm cổ điển''': Khoảng 97% các khối u thuộc phân nhóm này có bản sao bổ sung của gen [[thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì]] (''EGFR''), và phần lớn biểu hiện ''EGFR'' ở mức cao hơn bình thường. Trong khi đó, gen ''[[P53|TP53]]'' (p53), vốn thường bị đột biến trong GBM, lại hiếm khi bị đột biến ở phân nhóm này.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Hayden |first=Erika Check |date=2010-01-01 |title=Genomics boosts brain-cancer work |url=https://www.nature.com/articles/463278a |magazine=Nature |pages=278–278 |language=en |volume=463 |issue=7279 |doi=10.1038/463278a |issn=1476-4687}}</ref> Ngoài ra, sự [[mất tính dị hợp tử]] ở nhiễm sắc thể 10 và [[khuếch đại nhiễm sắc thể]] 7 cũng thường gặp ở phân nhóm này.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Sasmita |first=Andrew Octavian |last2=Wong |first2=Ying Pei |last3=Ling |first3=Anna Pick Kiong |date=2018 |title=Biomarkers and therapeutic advances in glioblastoma multiforme |url=https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/ajco.12756 |magazine=Asia-Pacific Journal of Clinical Oncology |pages=40–51 |language=en |volume=14 |issue=1 |doi=10.1111/ajco.12756 |issn=1743-7563}}</ref>
* '''Phân nhóm cổ điển''': Khoảng 97% các khối u thuộc phân nhóm này có bản sao bổ sung của gen [[thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì]] (''EGFR''), và phần lớn biểu hiện ''EGFR'' ở mức cao hơn bình thường. Trong khi đó, gen ''[[P53|TP53]]'' (p53), vốn thường bị đột biến trong u nguyên bào thần kinh đệm, lại hiếm khi bị đột biến ở phân nhóm này.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Hayden |first=Erika Check |date=2010-01-01 |title=Genomics boosts brain-cancer work |url=https://www.nature.com/articles/463278a |magazine=Nature |pages=278–278 |language=en |volume=463 |issue=7279 |doi=10.1038/463278a |issn=1476-4687}}</ref> Ngoài ra, sự [[mất tính dị hợp tử]] ở nhiễm sắc thể 10 và [[khuếch đại nhiễm sắc thể]] 7 cũng thường gặp ở phân nhóm này.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Sasmita |first=Andrew Octavian |last2=Wong |first2=Ying Pei |last3=Ling |first3=Anna Pick Kiong |date=2018 |title=Biomarkers and therapeutic advances in glioblastoma multiforme |url=https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/ajco.12756 |magazine=Asia-Pacific Journal of Clinical Oncology |pages=40–51 |language=en |volume=14 |issue=1 |doi=10.1111/ajco.12756 |issn=1743-7563}}</ref>
* '''Phân nhóm hướng thần kinh''': Phân nhóm này thường có tỷ lệ đột biến cao ở gen ''[[P53|TP53]]'' và ''[[PDGFRA]]'' – gen mã hóa thụ thể yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu alpha.<ref name=":3">{{Chú thích tạp chí |last=Verhaak |first=Roel G. W. |last2=Hoadley |first2=Katherine A. |last3=Purdom |first3=Elizabeth |last4=Wang |first4=Victoria |last5=Qi |first5=Yuan |last6=Wilkerson |first6=Matthew D. |last7=Miller |first7=C. Ryan |last8=Ding |first8=Li |last9=Golub |first9=Todd |date=2010-01-19 |title=Integrated Genomic Analysis Identifies Clinically Relevant Subtypes of Glioblastoma Characterized by Abnormalities in PDGFRA, IDH1, EGFR, and NF1 |url=https://www.cell.com/cancer-cell/abstract/S1535-6108(09)00432-2 |magazine=Cancer Cell |pages=98–110 |language=English |volume=17 |issue=1 |doi=10.1016/j.ccr.2009.12.020 |issn=1535-6108 |pmc=2818769 |pmid=20129251}}</ref>
* '''Phân nhóm hướng thần kinh''': Phân nhóm này thường có tỷ lệ đột biến cao ở gen ''[[P53|TP53]]'' và ''[[PDGFRA]]'' – gen mã hóa thụ thể yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu alpha.<ref name=":3">{{Chú thích tạp chí |last=Verhaak |first=Roel G. W. |last2=Hoadley |first2=Katherine A. |last3=Purdom |first3=Elizabeth |last4=Wang |first4=Victoria |last5=Qi |first5=Yuan |last6=Wilkerson |first6=Matthew D. |last7=Miller |first7=C. Ryan |last8=Ding |first8=Li |last9=Golub |first9=Todd |date=2010-01-19 |title=Integrated Genomic Analysis Identifies Clinically Relevant Subtypes of Glioblastoma Characterized by Abnormalities in PDGFRA, IDH1, EGFR, and NF1 |url=https://www.cell.com/cancer-cell/abstract/S1535-6108(09)00432-2 |magazine=Cancer Cell |pages=98–110 |language=English |volume=17 |issue=1 |doi=10.1016/j.ccr.2009.12.020 |issn=1535-6108 |pmc=2818769 |pmid=20129251}}</ref>
* '''Phân nhóm trung mô''': Đặc trưng bởi tỷ lệ đột biến cao ở gen ''NF1'' – gen mã hóa protein [[neurofibromin 1]], đồng thời có ít đột biến và mức biểu hiện thấp hơn của gen ''EGFR'' so với các nhóm khác.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Kuehn |first=Bridget M. |date=2010-03-10 |title=Genomics Illuminates a Deadly Brain Cancer |url=https://doi.org/10.1001/jama.2010.236 |magazine=JAMA |pages=925–927 |volume=303 |issue=10 |doi=10.1001/jama.2010.236 |issn=0098-7484}}</ref>
* '''Phân nhóm trung mô''': Đặc trưng bởi tỷ lệ đột biến cao ở gen ''NF1'' – gen mã hóa protein [[neurofibromin 1]], đồng thời có ít đột biến và mức biểu hiện thấp hơn của gen ''EGFR'' so với các nhóm khác.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Kuehn |first=Bridget M. |date=2010-03-10 |title=Genomics Illuminates a Deadly Brain Cancer |url=https://doi.org/10.1001/jama.2010.236 |magazine=JAMA |pages=925–927 |volume=303 |issue=10 |doi=10.1001/jama.2010.236 |issn=0098-7484}}</ref>
Dòng 101: Dòng 101:
Phân tích ban đầu về biểu hiện gen từng xác định một phân nhóm thứ tư gọi là phân nhóm thần kinh,<ref name=":3" /> nhưng các nghiên cứu tiếp theo cho thấy đây không phải là phân nhóm u đặc hiệu, mà có thể là do nhiễm bẩn từ tế bào bình thường.<ref name=":2" />
Phân tích ban đầu về biểu hiện gen từng xác định một phân nhóm thứ tư gọi là phân nhóm thần kinh,<ref name=":3" /> nhưng các nghiên cứu tiếp theo cho thấy đây không phải là phân nhóm u đặc hiệu, mà có thể là do nhiễm bẩn từ tế bào bình thường.<ref name=":2" />


Nhiều biến đổi di truyền khác cũng đã được mô tả trong GBM, phần lớn tập trung vào hai con đường truyền tín hiệu chính là [[protein u nguyên bào võng mạc|Rb]] và [[PI3K/AKT/mTOR]].<ref>{{cite journal |vauthors=Bleeker FE et al. |title=Mutational profiling of kinases in glioblastoma |journal=BMC Cancer |date=September 2014 }}</ref> Lần lượt khoảng 68–78% và 88% các trường hợp GBM có sự biến đổi trong hai con đường này.<ref name=":0" />
Nhiều biến đổi di truyền khác cũng đã được mô tả trong u nguyên bào thần kinh đệm, phần lớn tập trung vào hai con đường truyền tín hiệu chính là [[protein u nguyên bào võng mạc|Rb]] và [[PI3K/AKT/mTOR]].<ref>{{cite journal |vauthors=Bleeker FE et al. |title=Mutational profiling of kinases in glioblastoma |journal=BMC Cancer |date=September 2014 }}</ref> Lần lượt khoảng 68–78% và 88% các trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm có sự biến đổi trong hai con đường này.<ref name=":0" />


Một biến đổi phân tử quan trọng khác là hiện tượng methyl hóa gen [[O-6-methylguanine-DNA methyltransferase|MGMT]] – một enzyme sửa chữa DNA theo cơ chế "tự sát". Methyl hóa cản trở quá trình [[phiên mã]] và biểu hiện của gen MGMT. Vì enzyme MGMT chỉ có thể sửa một vị trí tổn thương do alkyl hóa DNA trước khi bị bất hoạt, nên khả năng sửa chữa DNA là rất thấp nếu vùng khởi động MGMT bị methyl hóa.<ref name=":5">{{Chú thích tạp chí |last=Molenaar |first=Remco J. |last2=Verbaan |first2=Dagmar |last3=Lamba |first3=Simona |last4=Zanon |first4=Carlo |last5=Jeuken |first5=Judith W.M. |last6=Boots-Sprenger |first6=Sandra H.E. |last7=Wesseling |first7=Pieter |last8=Hulsebos |first8=Theo J.M. |last9=Troost |first9=Dirk |date=2014-09-01 |title=The combination of IDH1 mutations and MGMT methylation status predicts survival in glioblastoma better than either IDH1 or MGMT alone |url=https://doi.org/10.1093/neuonc/nou005 |magazine=Neuro-Oncology |pages=1263–1273 |volume=16 |issue=9 |doi=10.1093/neuonc/nou005 |issn=1522-8517 |pmc=4136888 |pmid=24510240}}</ref><ref name=":6">{{Chú thích tạp chí |last=Molenaar |first=Remco J. |last2=Radivoyevitch |first2=Tomas |last3=Maciejewski |first3=Jaroslaw P. |last4=van Noorden |first4=Cornelis J. F. |last5=Bleeker |first5=Fonnet E. |date=2014-12-01 |title=The driver and passenger effects of isocitrate dehydrogenase 1 and 2 mutations in oncogenesis and survival prolongation |url=https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304419X14000493 |magazine=Biochimica et Biophysica Acta (BBA) - Reviews on Cancer |pages=326–341 |volume=1846 |issue=2 |doi=10.1016/j.bbcan.2014.05.004 |issn=0304-419X}}</ref> Quá trình methyl hóa MGMT có liên quan đến đáp ứng điều trị tốt hơn với các thuốc hóa trị gây tổn thương DNA như [[temozolomide]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Hegi |first=Monika E. |last2=Diserens |first2=Annie-Claire |last3=Gorlia |first3=Thierry |last4=Hamou |first4=Marie-France |last5=Tribolet |first5=Nicolas de |last6=Weller |first6=Michael |last7=Kros |first7=Johan M. |last8=Hainfellner |first8=Johannes A. |last9=Mason |first9=Warren |date=2005-03-10 |title=MGMT Gene Silencing and Benefit from Temozolomide in Glioblastoma |url=https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa043331 |magazine=New England Journal of Medicine |pages=997–1003 |volume=352 |issue=10 |doi=10.1056/NEJMoa043331 |issn=0028-4793}}</ref>
Một biến đổi phân tử quan trọng khác là hiện tượng methyl hóa gen [[O-6-methylguanine-DNA methyltransferase|MGMT]] – một enzyme sửa chữa DNA theo cơ chế "tự sát". Methyl hóa cản trở quá trình [[phiên mã]] và biểu hiện của gen MGMT. Vì enzyme MGMT chỉ có thể sửa một vị trí tổn thương do alkyl hóa DNA trước khi bị bất hoạt, nên khả năng sửa chữa DNA là rất thấp nếu vùng khởi động MGMT bị methyl hóa.<ref name=":5">{{Chú thích tạp chí |last=Molenaar |first=Remco J. |last2=Verbaan |first2=Dagmar |last3=Lamba |first3=Simona |last4=Zanon |first4=Carlo |last5=Jeuken |first5=Judith W.M. |last6=Boots-Sprenger |first6=Sandra H.E. |last7=Wesseling |first7=Pieter |last8=Hulsebos |first8=Theo J.M. |last9=Troost |first9=Dirk |date=2014-09-01 |title=The combination of IDH1 mutations and MGMT methylation status predicts survival in glioblastoma better than either IDH1 or MGMT alone |url=https://doi.org/10.1093/neuonc/nou005 |magazine=Neuro-Oncology |pages=1263–1273 |volume=16 |issue=9 |doi=10.1093/neuonc/nou005 |issn=1522-8517 |pmc=4136888 |pmid=24510240}}</ref><ref name=":6">{{Chú thích tạp chí |last=Molenaar |first=Remco J. |last2=Radivoyevitch |first2=Tomas |last3=Maciejewski |first3=Jaroslaw P. |last4=van Noorden |first4=Cornelis J. F. |last5=Bleeker |first5=Fonnet E. |date=2014-12-01 |title=The driver and passenger effects of isocitrate dehydrogenase 1 and 2 mutations in oncogenesis and survival prolongation |url=https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0304419X14000493 |magazine=Biochimica et Biophysica Acta (BBA) - Reviews on Cancer |pages=326–341 |volume=1846 |issue=2 |doi=10.1016/j.bbcan.2014.05.004 |issn=0304-419X}}</ref> Quá trình methyl hóa MGMT có liên quan đến đáp ứng điều trị tốt hơn với các thuốc hóa trị gây tổn thương DNA như [[temozolomide]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Hegi |first=Monika E. |last2=Diserens |first2=Annie-Claire |last3=Gorlia |first3=Thierry |last4=Hamou |first4=Marie-France |last5=Tribolet |first5=Nicolas de |last6=Weller |first6=Michael |last7=Kros |first7=Johan M. |last8=Hainfellner |first8=Johannes A. |last9=Mason |first9=Warren |date=2005-03-10 |title=MGMT Gene Silencing and Benefit from Temozolomide in Glioblastoma |url=https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa043331 |magazine=New England Journal of Medicine |pages=997–1003 |volume=352 |issue=10 |doi=10.1056/NEJMoa043331 |issn=0028-4793}}</ref>


Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích toàn bộ hệ gen cho thấy GBM có sự đa dạng di truyền đáng kể.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Furnari |first=Frank B. |last2=Fenton |first2=Tim |last3=Bachoo |first3=Robert M. |last4=Mukasa |first4=Akitake |last5=Stommel |first5=Jayne M. |last6=Stegh |first6=Alexander |last7=Hahn |first7=William C. |last8=Ligon |first8=Keith L. |last9=Louis |first9=David N. |date=2007-11-01 |title=Malignant astrocytic glioma: genetics, biology, and paths to treatment |url=http://genesdev.cshlp.org/content/21/21/2683 |magazine=Genes & Development |pages=2683–2710 |language=en |volume=21 |issue=21 |doi=10.1101/gad.1596707 |issn=0890-9369 |pmid=17974913}}</ref>
Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích toàn bộ hệ gen cho thấy u nguyên bào thần kinh đệm có sự đa dạng di truyền đáng kể.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Furnari |first=Frank B. |last2=Fenton |first2=Tim |last3=Bachoo |first3=Robert M. |last4=Mukasa |first4=Akitake |last5=Stommel |first5=Jayne M. |last6=Stegh |first6=Alexander |last7=Hahn |first7=William C. |last8=Ligon |first8=Keith L. |last9=Louis |first9=David N. |date=2007-11-01 |title=Malignant astrocytic glioma: genetics, biology, and paths to treatment |url=http://genesdev.cshlp.org/content/21/21/2683 |magazine=Genes & Development |pages=2683–2710 |language=en |volume=21 |issue=21 |doi=10.1101/gad.1596707 |issn=0890-9369 |pmid=17974913}}</ref>


Ít nhất ba con đường sinh u nguyên bào thần kinh đệm khác nhau đã được xác định nhờ các nghiên cứu phân tử:
Ít nhất ba con đường sinh u nguyên bào thần kinh đệm khác nhau đã được xác định nhờ các nghiên cứu phân tử:
Dòng 114: Dòng 114:


=== Tế bào gốc ung thư ===
=== Tế bào gốc ung thư ===
Các tế bào GBM có đặc điểm giống [[tế bào mẹ nguyên sơ]] (còn gọi là [[tế bào gốc ung thư]] u nguyên bào thần kinh đệm) đã được phát hiện trong các mẫu u GBM. Sự hiện diện của chúng, kết hợp với tính chất lan rộng và xâm lấn khuếch tán của GBM, khiến việc loại bỏ hoàn toàn qua phẫu thuật trở nên rất khó khăn. Điều này được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến kháng điều trị thông thường và tỷ lệ tái phát cao của bệnh.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Murat |first=Anastasia |last2=Migliavacca |first2=Eugenia |last3=Gorlia |first3=Thierry |last4=Lambiv |first4=Wanyu L. |last5=Shay |first5=Tal |last6=Hamou |first6=Marie-France |last7=de Tribolet |first7=Nicolas |last8=Regli |first8=Luca |last9=Wick |first9=Wolfgang |date=2008-06-20 |title=Stem Cell–Related “Self-Renewal” Signature and High Epidermal Growth Factor Receptor Expression Associated With Resistance to Concomitant Chemoradiotherapy in Glioblastoma |url=https://ascopubs.org/doi/10.1200/JCO.2007.15.7164 |magazine=Journal of Clinical Oncology |pages=3015–3024 |volume=26 |issue=18 |doi=10.1200/JCO.2007.15.7164 |issn=0732-183X}}</ref> Tế bào gốc ung thư của GBM có một số đặc điểm tương đồng với tế bào mẹ nguyên sơ thần kinh, có cùng biểu hiện thụ thể bề mặt [[CD133]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Gilbertson |first=Richard J. |last2=Rich |first2=Jeremy N. |date=2007-10 |title=Making a tumour's bed: glioblastoma stem cells and the vascular niche |url=https://www.nature.com/articles/nrc2246 |magazine=Nature Reviews Cancer |pages=733–736 |language=en |volume=7 |issue=10 |doi=10.1038/nrc2246 |issn=1474-1768}}</ref> Ngoài ra, [[CD44]] cũng có thể được sử dụng như một dấu hiệu nhận diện tế bào gốc ung thư ở một số phân nhóm tế bào u GBM.<ref>{{Chú thích |last=Brown |first=Daniel V. |title=Multilayered Heterogeneity of Glioblastoma Stem Cells: Biological and Clinical Significance |date=2019 |work=Stem Cells Heterogeneity in Cancer |pages=1–21 |editor-last=Birbrair |editor-first=Alexander |url=https://doi.org/10.1007/978-3-030-14366-4_1 |access-date=2025-06-26 |place=Cham |publisher=Springer International Publishing |language=en |doi=10.1007/978-3-030-14366-4_1 |isbn=978-3-030-14366-4 |last2=Stylli |first2=Stanley S. |last3=Kaye |first3=Andrew H. |last4=Mantamadiotis |first4=Theo}}</ref> Tế bào gốc ung thư của GBM dường như có khả năng kháng xạ trị và hóa trị cao hơn, ít nhất một phần là do sự tăng cường của các cơ chế [[sửa chữa DNA]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Annovazzi |first=Laura |last2=Mellai |first2=Marta |last3=Schiffer |first3=Davide |date=2017-05-26 |title=Chemotherapeutic Drugs: DNA Damage and Repair in Glioblastoma |url=https://www.mdpi.com/2072-6694/9/6/57 |magazine=Cancers |pages=57 |language=en |volume=9 |issue=6 |doi=10.3390/cancers9060057 |issn=2072-6694 |pmc=5483876 |pmid=28587121}}</ref>
Các tế bào u nguyên bào thần kinh đệm có đặc điểm giống [[tế bào mẹ nguyên sơ]] (còn gọi là [[tế bào gốc ung thư]] u nguyên bào thần kinh đệm) đã được phát hiện trong các mẫu u nguyên bào thần kinh đệm. Sự hiện diện của chúng, kết hợp với tính chất lan rộng và xâm lấn khuếch tán của u nguyên bào thần kinh đệm, khiến việc loại bỏ hoàn toàn qua phẫu thuật trở nên rất khó khăn. Điều này được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến kháng điều trị thông thường và tỷ lệ tái phát cao của bệnh.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Murat |first=Anastasia |last2=Migliavacca |first2=Eugenia |last3=Gorlia |first3=Thierry |last4=Lambiv |first4=Wanyu L. |last5=Shay |first5=Tal |last6=Hamou |first6=Marie-France |last7=de Tribolet |first7=Nicolas |last8=Regli |first8=Luca |last9=Wick |first9=Wolfgang |date=2008-06-20 |title=Stem Cell–Related “Self-Renewal” Signature and High Epidermal Growth Factor Receptor Expression Associated With Resistance to Concomitant Chemoradiotherapy in Glioblastoma |url=https://ascopubs.org/doi/10.1200/JCO.2007.15.7164 |magazine=Journal of Clinical Oncology |pages=3015–3024 |volume=26 |issue=18 |doi=10.1200/JCO.2007.15.7164 |issn=0732-183X}}</ref> Tế bào gốc ung thư của u nguyên bào thần kinh đệm có một số đặc điểm tương đồng với tế bào mẹ nguyên sơ thần kinh, có cùng biểu hiện thụ thể bề mặt [[CD133]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Gilbertson |first=Richard J. |last2=Rich |first2=Jeremy N. |date=2007-10 |title=Making a tumour's bed: glioblastoma stem cells and the vascular niche |url=https://www.nature.com/articles/nrc2246 |magazine=Nature Reviews Cancer |pages=733–736 |language=en |volume=7 |issue=10 |doi=10.1038/nrc2246 |issn=1474-1768}}</ref> Ngoài ra, [[CD44]] cũng có thể được sử dụng như một dấu hiệu nhận diện tế bào gốc ung thư ở một số phân nhóm tế bào u nguyên bào thần kinh đệm.<ref>{{Chú thích |last=Brown |first=Daniel V. |title=Multilayered Heterogeneity of Glioblastoma Stem Cells: Biological and Clinical Significance |date=2019 |work=Stem Cells Heterogeneity in Cancer |pages=1–21 |editor-last=Birbrair |editor-first=Alexander |url=https://doi.org/10.1007/978-3-030-14366-4_1 |access-date=2025-06-26 |place=Cham |publisher=Springer International Publishing |language=en |doi=10.1007/978-3-030-14366-4_1 |isbn=978-3-030-14366-4 |last2=Stylli |first2=Stanley S. |last3=Kaye |first3=Andrew H. |last4=Mantamadiotis |first4=Theo}}</ref> Tế bào gốc ung thư của u nguyên bào thần kinh đệm dường như có khả năng kháng xạ trị và hóa trị cao hơn, ít nhất một phần là do sự tăng cường của các cơ chế [[sửa chữa DNA]].<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Annovazzi |first=Laura |last2=Mellai |first2=Marta |last3=Schiffer |first3=Davide |date=2017-05-26 |title=Chemotherapeutic Drugs: DNA Damage and Repair in Glioblastoma |url=https://www.mdpi.com/2072-6694/9/6/57 |magazine=Cancers |pages=57 |language=en |volume=9 |issue=6 |doi=10.3390/cancers9060057 |issn=2072-6694 |pmc=5483876 |pmid=28587121}}</ref>


=== Chuyển hóa ===
=== Chuyển hóa ===
Gen ''IDH1'' mã hóa enzyme isocitrate dehydrogenase 1 và không bị đột biến trong GBM. Vì vậy, các khối u này có đặc tính xâm lấn mạnh hơn so với các u sao bào có đột biến ''IDH1''.
Gen ''IDH1'' mã hóa enzyme isocitrate dehydrogenase 1 và không bị đột biến trong u nguyên bào thần kinh đệm. Vì vậy, các khối u này có đặc tính xâm lấn mạnh hơn so với các u sao bào có đột biến ''IDH1''.

=== Kênh ion ===
=== Kênh ion ===
Ngoài ra, GBM biểu hiện nhiều thay đổi trong các gen mã hóa [[kênh ion]], bao gồm việc tăng cường các [[kênh kali gBK]] và [[kênh chloride ClC-3]]. Việc tăng cường các kênh ion này được cho là giúp tế bào u GBM tăng cường vận chuyển ion qua màng tế bào, từ đó thúc đẩy sự di chuyển của H<sub>2</sub>O thông qua quá trình thẩm thấu. Điều này giúp tế bào u thay đổi thể tích một cách nhanh chóng, hỗ trợ hiệu quả cho đặc tính xâm lấn mạnh của GBM. Khả năng thích ứng nhanh về thể tích tế bào giúp các tế bào u dễ dàng di chuyển qua mạng lưới gian bào phức tạp của mô não.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Molenaar |first=Remco J. |date=2011 |title=Ion Channels in Glioblastoma |url=https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.5402/2011/590249 |magazine=International Scholarly Research Notices |pages=590249 |language=en |volume=2011 |issue=1 |doi=10.5402/2011/590249 |issn=2356-7872 |pmc=3263536 |pmid=22389824}}</ref>
Ngoài ra, u nguyên bào thần kinh đệm biểu hiện nhiều thay đổi trong các gen mã hóa [[kênh ion]], bao gồm việc tăng cường các [[kênh kali gBK]] và [[kênh chloride ClC-3]]. Việc tăng cường các kênh ion này được cho là giúp tế bào u nguyên bào thần kinh đệm tăng cường vận chuyển ion qua màng tế bào, từ đó thúc đẩy sự di chuyển của H<sub>2</sub>O thông qua quá trình thẩm thấu. Điều này giúp tế bào u thay đổi thể tích một cách nhanh chóng, hỗ trợ hiệu quả cho đặc tính xâm lấn mạnh của u nguyên bào thần kinh đệm. Khả năng thích ứng nhanh về thể tích tế bào giúp các tế bào u dễ dàng di chuyển qua mạng lưới gian bào phức tạp của mô não.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Molenaar |first=Remco J. |date=2011 |title=Ion Channels in Glioblastoma |url=https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.5402/2011/590249 |magazine=International Scholarly Research Notices |pages=590249 |language=en |volume=2011 |issue=1 |doi=10.5402/2011/590249 |issn=2356-7872 |pmc=3263536 |pmid=22389824}}</ref>


=== MicroRNA (miRNA) ===
=== MicroRNA (miRNA) ===
Tính đến năm 2012, [[can thiệp RNA]] – chủ yếu là [[microRNA]] – đang được nghiên cứu trong nuôi cấy mô, mẫu bệnh học và các mô hình tiền lâm sàng trên động vật đối với GBM.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Møller |first=Heidi G. |last2=Rasmussen |first2=Andreas P. |last3=Andersen |first3=Hjalte H. |last4=Johnsen |first4=Kasper B. |last5=Henriksen |first5=Michael |last6=Duroux |first6=Meg |date=2013-02-01 |title=A Systematic Review of MicroRNA in Glioblastoma Multiforme: Micro-modulators in the Mesenchymal Mode of Migration and Invasion |url=https://doi.org/10.1007/s12035-012-8349-7 |magazine=Molecular Neurobiology |pages=131–144 |language=en |volume=47 |issue=1 |doi=10.1007/s12035-012-8349-7 |issn=1559-1182 |pmc=3538124 |pmid=23054677}}</ref> Ngoài ra, các quan sát thực nghiệm cho thấy [[microRNA-451]] đóng vai trò điều hòa chính trong con đường tín hiệu [[LKB1]]/[[AMPK]] ở các tế bào u glioma được nuôi cấy.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Godlewski |first=Jakub |last2=Nowicki |first2=Michal O. |last3=Bronisz |first3=Agnieszka |last4=Nuovo |first4=Gerard |last5=Palatini |first5=Jeff |last6=Lay |first6=Michael De |last7=Brocklyn |first7=James Van |last8=Ostrowski |first8=Michael C. |last9=Chiocca |first9=E. Antonio |date=2010-03-12 |title=MicroRNA-451 Regulates LKB1/AMPK Signaling and Allows Adaptation to Metabolic Stress in Glioma Cells |url=https://www.cell.com/molecular-cell/abstract/S1097-2765(10)00169-3 |magazine=Molecular Cell |pages=620–632 |language=English |volume=37 |issue=5 |doi=10.1016/j.molcel.2010.02.018 |issn=1097-2765 |pmc=3125113 |pmid=20227367}}</ref> Cũng có bằng chứng cho thấy sự cụm lại (clustering) của các microRNA có thể kiểm soát các cơ chế điều hòa biểu sinh của bệnh.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Bhaskaran |first=Vivek |last2=Nowicki |first2=Michal O. |last3=Idriss |first3=Mahmoud |last4=Jimenez |first4=Miguel A. |last5=Lugli |first5=Gianmarco |last6=Hayes |first6=Josie L. |last7=Mahmoud |first7=Ahmad Bakur |last8=Zane |first8=Rachel E. |last9=Passaro |first9=Carmela |date=2019-01-25 |title=The functional synergism of microRNA clustering provides therapeutically relevant epigenetic interference in glioblastoma |url=https://www.nature.com/articles/s41467-019-08390-z |magazine=Nature Communications |pages=442 |language=en |volume=10 |issue=1 |doi=10.1038/s41467-019-08390-z |issn=2041-1723 |pmc=6347618 |pmid=30683859}}</ref>
Tính đến năm 2012, [[can thiệp RNA]] – chủ yếu là [[microRNA]] – đang được nghiên cứu trong nuôi cấy mô, mẫu bệnh học và các mô hình tiền lâm sàng trên động vật đối với u nguyên bào thần kinh đệm.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Møller |first=Heidi G. |last2=Rasmussen |first2=Andreas P. |last3=Andersen |first3=Hjalte H. |last4=Johnsen |first4=Kasper B. |last5=Henriksen |first5=Michael |last6=Duroux |first6=Meg |date=2013-02-01 |title=A Systematic Review of MicroRNA in Glioblastoma Multiforme: Micro-modulators in the Mesenchymal Mode of Migration and Invasion |url=https://doi.org/10.1007/s12035-012-8349-7 |magazine=Molecular Neurobiology |pages=131–144 |language=en |volume=47 |issue=1 |doi=10.1007/s12035-012-8349-7 |issn=1559-1182 |pmc=3538124 |pmid=23054677}}</ref> Ngoài ra, các quan sát thực nghiệm cho thấy [[microRNA-451]] đóng vai trò điều hòa chính trong con đường tín hiệu [[LKB1]]/[[AMPK]] ở các tế bào u glioma được nuôi cấy.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Godlewski |first=Jakub |last2=Nowicki |first2=Michal O. |last3=Bronisz |first3=Agnieszka |last4=Nuovo |first4=Gerard |last5=Palatini |first5=Jeff |last6=Lay |first6=Michael De |last7=Brocklyn |first7=James Van |last8=Ostrowski |first8=Michael C. |last9=Chiocca |first9=E. Antonio |date=2010-03-12 |title=MicroRNA-451 Regulates LKB1/AMPK Signaling and Allows Adaptation to Metabolic Stress in Glioma Cells |url=https://www.cell.com/molecular-cell/abstract/S1097-2765(10)00169-3 |magazine=Molecular Cell |pages=620–632 |language=English |volume=37 |issue=5 |doi=10.1016/j.molcel.2010.02.018 |issn=1097-2765 |pmc=3125113 |pmid=20227367}}</ref> Cũng có bằng chứng cho thấy sự cụm lại (clustering) của các microRNA có thể kiểm soát các cơ chế điều hòa biểu sinh của bệnh.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Bhaskaran |first=Vivek |last2=Nowicki |first2=Michal O. |last3=Idriss |first3=Mahmoud |last4=Jimenez |first4=Miguel A. |last5=Lugli |first5=Gianmarco |last6=Hayes |first6=Josie L. |last7=Mahmoud |first7=Ahmad Bakur |last8=Zane |first8=Rachel E. |last9=Passaro |first9=Carmela |date=2019-01-25 |title=The functional synergism of microRNA clustering provides therapeutically relevant epigenetic interference in glioblastoma |url=https://www.nature.com/articles/s41467-019-08390-z |magazine=Nature Communications |pages=442 |language=en |volume=10 |issue=1 |doi=10.1038/s41467-019-08390-z |issn=2041-1723 |pmc=6347618 |pmid=30683859}}</ref>
=== Hệ mạch u ===
=== Hệ mạch u ===
GBM đặc trưng bởi các mạch máu bất thường với hình thái và chức năng bị rối loạn.<ref name=":4">{{Chú thích tạp chí |last=Dimberg |first=Anna |date=2014-11-17 |title=The glioblastoma vasculature as a target for cancer therapy |url=https://doi.org/10.1042/BST20140278 |magazine=Biochemical Society Transactions |pages=1647–1652 |volume=42 |issue=6 |doi=10.1042/BST20140278 |issn=0300-5127}}</ref> Tình trạng tăng tính thấm và tuần hoàn kém hiệu quả trong hệ mạch khối u dẫn đến lưu lượng máu rối loạn bên trong khối u, từ đó làm tăng tình trạng [[Giảm oxy huyết|giảm]] [[Giảm oxy huyết|oxy huyết]], kích hoạt các quá trình như [[ức chế miễn dịch]], góp phần thúc đẩy sự tiến triển của ung thư.<ref name=":4" /><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Jain |first=Rakesh K. |date=2013-06-10 |title=Normalizing Tumor Microenvironment to Treat Cancer: Bench to Bedside to Biomarkers |url=https://ascopubs.org/doi/10.1200/JCO.2012.46.3653 |magazine=Journal of Clinical Oncology |pages=2205–2218 |volume=31 |issue=17 |doi=10.1200/JCO.2012.46.3653 |issn=0732-183X |pmc=3731977 |pmid=23669226}}</ref>
U nguyên bào thần kinh đệm đặc trưng bởi các mạch máu bất thường với hình thái và chức năng bị rối loạn.<ref name=":4">{{Chú thích tạp chí |last=Dimberg |first=Anna |date=2014-11-17 |title=The glioblastoma vasculature as a target for cancer therapy |url=https://doi.org/10.1042/BST20140278 |magazine=Biochemical Society Transactions |pages=1647–1652 |volume=42 |issue=6 |doi=10.1042/BST20140278 |issn=0300-5127}}</ref> Tình trạng tăng tính thấm và tuần hoàn kém hiệu quả trong hệ mạch khối u dẫn đến lưu lượng máu rối loạn bên trong khối u, từ đó làm tăng tình trạng [[Giảm oxy huyết|giảm]] [[Giảm oxy huyết|oxy huyết]], kích hoạt các quá trình như [[ức chế miễn dịch]], góp phần thúc đẩy sự tiến triển của ung thư.<ref name=":4" /><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Jain |first=Rakesh K. |date=2013-06-10 |title=Normalizing Tumor Microenvironment to Treat Cancer: Bench to Bedside to Biomarkers |url=https://ascopubs.org/doi/10.1200/JCO.2012.46.3653 |magazine=Journal of Clinical Oncology |pages=2205–2218 |volume=31 |issue=17 |doi=10.1200/JCO.2012.46.3653 |issn=0732-183X |pmc=3731977 |pmid=23669226}}</ref>


== Chẩn đoán ==
== Chẩn đoán ==
[[File:BrainCAConMark.png|thumb|Hình chụp CT GBM ở thùy trán phải trên]]
[[File:BrainCAConMark.png|thumb|Hình chụp CT u nguyên bào thần kinh đệm ở thùy trán phải trên]]
[[File:Glioblastoma - MR sagittal with contrast.jpg|thumb|Hình chụp MRI mặt phẳng đứng giữa có tiêm thuốc cản quang, cho thấy u nguyên bào thần kinh đệm WHO độ 4 ở một bé trai 15 tuổi]]
[[File:Glioblastoma - MR sagittal with contrast.jpg|thumb|Hình chụp MRI mặt phẳng đứng giữa có tiêm thuốc cản quang, cho thấy u nguyên bào thần kinh đệm độ 4 theo WHO ở một bé trai 15 tuổi]]
[[File:Diagnosis of diffuse glioma.png|thumb|Thuật toán chẩn đoán u thần kinh đệm lan tỏa<ref name=":7">{{Chú thích tạp chí |last=Weller |first=Michael |last2=van den Bent |first2=Martin |last3=Preusser |first3=Matthias |last4=Le Rhun |first4=Emilie |last5=Tonn |first5=Jörg C. |last6=Minniti |first6=Giuseppe |last7=Bendszus |first7=Martin |last8=Balana |first8=Carmen |last9=Chinot |first9=Olivier |date=2021-03 |title=EANO guidelines on the diagnosis and treatment of diffuse gliomas of adulthood |url=https://www.nature.com/articles/s41571-020-00447-z |magazine=Nature Reviews Clinical Oncology |pages=170–186 |language=en |volume=18 |issue=3 |doi=10.1038/s41571-020-00447-z |issn=1759-4782 |pmc=7904519 |pmid=33293629}}</ref>]]
[[File:Diagnosis of diffuse glioma.png|thumb|Thuật toán chẩn đoán u thần kinh đệm lan tỏa<ref name=":7">{{Chú thích tạp chí |last=Weller |first=Michael |last2=van den Bent |first2=Martin |last3=Preusser |first3=Matthias |last4=Le Rhun |first4=Emilie |last5=Tonn |first5=Jörg C. |last6=Minniti |first6=Giuseppe |last7=Bendszus |first7=Martin |last8=Balana |first8=Carmen |last9=Chinot |first9=Olivier |date=2021-03 |title=EANO guidelines on the diagnosis and treatment of diffuse gliomas of adulthood |url=https://www.nature.com/articles/s41571-020-00447-z |magazine=Nature Reviews Clinical Oncology |pages=170–186 |language=en |volume=18 |issue=3 |doi=10.1038/s41571-020-00447-z |issn=1759-4782 |pmc=7904519 |pmid=33293629}}</ref>]]


Trên hình chụp MRI, GBM thường xuất hiện dưới dạng tổn thương ngấm thuốc hình nhẫn. Tuy nhiên, hình ảnh này không đặc hiệu, vì các tổn thương khác như [[áp xe]], [[di căn]], [[đa xơ cứng giả khối (tumefactive MS)|đa xơ cứng dạng u]] và một số thực thể khác cũng có thể biểu hiện tương tự.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Smirniotopoulos |first=James G. |last2=Murphy |first2=Frances M. |last3=Rushing |first3=Elizabeth J. |last4=Rees |first4=John H. |last5=Schroeder |first5=Jason W. |date=2007-03 |title=Patterns of Contrast Enhancement in the Brain and Meninges |url=https://pubs.rsna.org/doi/10.1148/rg.272065155 |magazine=RadioGraphics |pages=525–551 |volume=27 |issue=2 |doi=10.1148/rg.272065155 |issn=0271-5333}}</ref> Việc chẩn đoán xác định GBM nghi ngờ trên phim CT hoặc MRI cần có [[sinh thiết định vị (stereotactic biopsy)|sinh thiết định vị]] hoặc [[phẫu thuật mở sọ]] để cắt bỏ khối u kèm xác nhận mô học. Vì cấp độ ung thư được xác định dựa trên vùng ác tính nhất của khối u, sinh thiết hoặc cắt bỏ khối u một phần có thể dẫn đến đánh giá phân độ tổn thương thấp hơn thực tế. Đánh giá lưu lượng máu khối u bằng kỹ thuật MRI tưới máu não và đo nồng độ chất chuyển hóa khối u bằng [[cộng hưởng từ phổ (MR spectroscopy)|cộng hưởng từ phổ]] có thể hỗ trợ chẩn đoán trong một số trường hợp bằng cách cho thấy tăng thể tích máu não tương đối và tăng đỉnh choline, nhưng mô bệnh học vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và xác định đặc điểm phân tử.{{cần dẫn nguồn|tháng 10 năm 2021}}
Trên hình chụp MRI, u nguyên bào thần kinh đệm thường xuất hiện dưới dạng tổn thương ngấm thuốc hình nhẫn. Tuy nhiên, hình ảnh này không đặc hiệu, vì các tổn thương khác như [[áp xe]], [[di căn]], [[đa xơ cứng giả khối (tumefactive MS)|đa xơ cứng dạng u]] và một số thực thể khác cũng có thể biểu hiện tương tự.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Smirniotopoulos |first=James G. |last2=Murphy |first2=Frances M. |last3=Rushing |first3=Elizabeth J. |last4=Rees |first4=John H. |last5=Schroeder |first5=Jason W. |date=2007-03 |title=Patterns of Contrast Enhancement in the Brain and Meninges |url=https://pubs.rsna.org/doi/10.1148/rg.272065155 |magazine=RadioGraphics |pages=525–551 |volume=27 |issue=2 |doi=10.1148/rg.272065155 |issn=0271-5333}}</ref> Việc chẩn đoán xác định u nguyên bào thần kinh đệm nghi ngờ trên phim CT hoặc MRI cần có [[sinh thiết định vị (stereotactic biopsy)|sinh thiết định vị]] hoặc [[phẫu thuật mở sọ]] để cắt bỏ khối u kèm xác nhận mô học. Vì cấp độ ung thư được xác định dựa trên vùng ác tính nhất của khối u, sinh thiết hoặc cắt bỏ khối u một phần có thể dẫn đến đánh giá phân độ tổn thương thấp hơn thực tế. Đánh giá lưu lượng máu khối u bằng kỹ thuật MRI tưới máu não và đo nồng độ chất chuyển hóa khối u bằng [[cộng hưởng từ phổ (MR spectroscopy)|cộng hưởng từ phổ]] có thể hỗ trợ chẩn đoán trong một số trường hợp bằng cách cho thấy tăng thể tích máu não tương đối và tăng đỉnh choline, nhưng mô bệnh học vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và xác định đặc điểm phân tử.{{cần dẫn nguồn|tháng 10 năm 2021}}


Việc phân biệt giữa GBM và u sao bào bậc cao là rất quan trọng. GBM phát sinh một cách tự phát, không tiến triển từ u thần kinh đệm độ thấp như ở các u sao bào bậc cao.<ref name=":0" /> GBM có tiên lượng kém hơn, sinh học khối u khác biệt, và có thể có đáp ứng điều trị khác nhau, do đó việc phân biệt chính xác ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tiên lượng và phương pháp điều trị.<ref name=":5" /><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Eibl |first=Robert H. |last2=Schneemann |first2=Markus |date=2023-02-25 |title=Liquid biopsy and glioblastoma |url=https://www.explorationpub.com/Journals/etat/Article/1002121 |magazine=Exploration of Targeted Anti-tumor Therapy |pages=28–41 |language=en |volume=4 |issue=1 |doi=10.37349/etat.2023.00121 |issn=2692-3114 |pmc=10017188 |pmid=36937320}}</ref> U sao bào thường mang đột biến ở ''[[IDH1]]'' hoặc ''[[IDH2]]'', trong khi GBM thì không. Do đó, đột biến IDH là chỉ dấu phân tử có giá trị trong việc phân biệt hai loại u này – hình thái mô học của chúng rất giống nhau và phân biệt dựa trên hình ảnh đơn thuần là không đáng tin cậy.<ref name=":6" /> Các GBM mang kiểu gen IDH hoang dã thường biểu hiện mức độ [[OLIG2]] thấp hơn so với u sao bào bậc thấp có đột biến IDH.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Mo |first=Huan |last2=Magaki |first2=Shino |last3=Deisch |first3=Jeremy K |last4=Raghavan |first4=Ravi |date=2022-09-01 |title=Isocitrate Dehydrogenase Mutations Are Associated with Different Expression and DNA Methylation Patterns of OLIG2 in Adult Gliomas |url=https://doi.org/10.1093/jnen/nlac059 |magazine=Journal of Neuropathology & Experimental Neurology |pages=707–716 |volume=81 |issue=9 |doi=10.1093/jnen/nlac059 |issn=0022-3069 |pmc=9614687 |pmid=35856894}}</ref> Ở bệnh nhân trên 55 tuổi có GBM điển hình về mô học, không có u thần kinh đệm bậc thấp từ trước, vị trí u không nằm ở đường giữa và biểu hiện [[ATRX]] nhân được bảo tồn, thì âm tính với IDH1 R132H qua [[Hóa mô miễn dịch|nhuộm hóa mô miễn dịch]] là đủ để phân loại là GBM mang kiểu gen IDH hoang dã.<ref name=":7" /> Trong các trường hợp còn lại của u thần kinh đệm lan tỏa, nếu không có nhuộm dương tính với IDH1 R132H thì cần tiến hành giải trình tự DNA IDH1 và IDH2 để phát hiện hoặc loại trừ các đột biến không điển hình.<ref name=":7" /> Với các u sao bào lan tỏa IDH hoang dã không có hoại tử hoặc tăng sinh vi mạch, cần xét nghiệm khuếch đại EGFR, đột biến vùng khởi động TERT và bất thường di truyền +7/–10 để đặc trưng hóa chúng là GBM mang kiểu gen IDH hoang dã.<ref name=":7" />
Việc phân biệt giữa u nguyên bào thần kinh đệm và u sao bào bậc cao là rất quan trọng. U nguyên bào thần kinh đệm phát sinh một cách tự phát, không tiến triển từ u thần kinh đệm độ thấp như ở các u sao bào bậc cao.<ref name=":0" /> U nguyên bào thần kinh đệm có tiên lượng kém hơn, sinh học khối u khác biệt, và có thể có đáp ứng điều trị khác nhau, do đó việc phân biệt chính xác ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tiên lượng và phương pháp điều trị.<ref name=":5" /><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Eibl |first=Robert H. |last2=Schneemann |first2=Markus |date=2023-02-25 |title=Liquid biopsy and glioblastoma |url=https://www.explorationpub.com/Journals/etat/Article/1002121 |magazine=Exploration of Targeted Anti-tumor Therapy |pages=28–41 |language=en |volume=4 |issue=1 |doi=10.37349/etat.2023.00121 |issn=2692-3114 |pmc=10017188 |pmid=36937320}}</ref> U sao bào thường mang đột biến ở ''[[IDH1]]'' hoặc ''[[IDH2]]'', trong khi u nguyên bào thần kinh đệm thì không. Do đó, đột biến IDH là chỉ dấu phân tử có giá trị trong việc phân biệt hai loại u này – hình thái mô học của chúng rất giống nhau và phân biệt dựa trên hình ảnh đơn thuần là không đáng tin cậy.<ref name=":6" /> Các u nguyên bào thần kinh đệm mang kiểu gen IDH hoang dã thường biểu hiện mức độ [[OLIG2]] thấp hơn so với u sao bào bậc thấp có đột biến IDH.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Mo |first=Huan |last2=Magaki |first2=Shino |last3=Deisch |first3=Jeremy K |last4=Raghavan |first4=Ravi |date=2022-09-01 |title=Isocitrate Dehydrogenase Mutations Are Associated with Different Expression and DNA Methylation Patterns of OLIG2 in Adult Gliomas |url=https://doi.org/10.1093/jnen/nlac059 |magazine=Journal of Neuropathology & Experimental Neurology |pages=707–716 |volume=81 |issue=9 |doi=10.1093/jnen/nlac059 |issn=0022-3069 |pmc=9614687 |pmid=35856894}}</ref> Ở bệnh nhân trên 55 tuổi có u nguyên bào thần kinh đệm điển hình về mô học, không có u thần kinh đệm bậc thấp từ trước, vị trí u không nằm ở đường giữa và biểu hiện [[ATRX]] nhân được bảo tồn, thì âm tính với IDH1 R132H qua [[Hóa mô miễn dịch|nhuộm hóa mô miễn dịch]] là đủ để phân loại là u nguyên bào thần kinh đệm mang kiểu gen IDH hoang dã.<ref name=":7" /> Trong các trường hợp còn lại của u thần kinh đệm lan tỏa, nếu không có nhuộm dương tính với IDH1 R132H thì cần tiến hành giải trình tự DNA IDH1 và IDH2 để phát hiện hoặc loại trừ các đột biến không điển hình.<ref name=":7" /> Với các u sao bào lan tỏa IDH hoang dã không có hoại tử hoặc tăng sinh vi mạch, cần xét nghiệm khuếch đại EGFR, đột biến vùng khởi động TERT và bất thường di truyền +7/–10 để đặc trưng hóa chúng là u nguyên bào thần kinh đệm mang kiểu gen IDH hoang dã.<ref name=":7" />


<gallery mode="packed" heights="170">
<gallery mode="packed" heights="170">
File:Histopathology of glioblastoma, high magnification, annotated.jpg|[[Mô bệnh học|Giải phẫu mô bệnh học]] của GBM, cho thấy đặc điểm của u sao bào bậc cao: đa hình nhân rõ rệt, nhiều hình ảnh phân bào (tại mũi tên trắng) và tế bào đa nhân (tại mũi tên đen), với các tế bào phân bố không theo cấu trúc rõ ràng trên nền mô sợi màu hồng khi nhuộm H&E.
File:Histopathology of glioblastoma, high magnification, annotated.jpg|[[Mô bệnh học|Giải phẫu mô bệnh học]] của u nguyên bào thần kinh đệm, cho thấy đặc điểm của u sao bào bậc cao: đa hình nhân rõ rệt, nhiều hình ảnh phân bào (tại mũi tên trắng) và tế bào đa nhân (tại mũi tên đen), với các tế bào phân bố không theo cấu trúc rõ ràng trên nền mô sợi màu hồng khi nhuộm H&E.
File:Glioblastoma (1).jpg|Giải phẫu mô bệnh học độ phóng đại thấp, cho thấy hoại tử được bao quanh bởi các hàng tế bào u – đặc điểm điển hình giúp phân biệt GBM với u sao bào không biệt hóa.
File:Glioblastoma (1).jpg|Giải phẫu mô bệnh học độ phóng đại thấp, cho thấy hoại tử được bao quanh bởi các hàng tế bào u – đặc điểm điển hình giúp phân biệt u nguyên bào thần kinh đệm với u sao bào không biệt hóa.
</gallery>
</gallery>
== Phòng ngừa ==
== Phòng ngừa ==
Dòng 143: Dòng 144:


== Điều trị ==
== Điều trị ==
[[File:Management of IDH wild type glioblastoma.png|thumb|Phác đồ điều trị u nguyên bào thần kinh đệm IDH hoang dã độ 4 theo WHO. KPS: thang điểm đánh giá hoạt động chức năng Karnofsky.<ref name=":7" />]]

Việc điều trị u nguyên bào thần kinh đệm gặp nhiều khó khăn do các yếu tố phức tạp sau:<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Lawson |first=H. Christopher |last2=Sampath |first2=Prakash |last3=Bohan |first3=Eileen |last4=Park |first4=Michael C. |last5=Hussain |first5=Namath |last6=Olivi |first6=Alessandro |last7=Weingart |first7=Jon |last8=Kleinberg |first8=Lawrence |last9=Brem |first9=Henry |date=2007-05-01 |title=Interstitial chemotherapy for malignant gliomas: the Johns Hopkins experience |url=https://doi.org/10.1007/s11060-006-9303-1 |magazine=Journal of Neuro-Oncology |pages=61–70 |language=en |volume=83 |issue=1 |doi=10.1007/s11060-006-9303-1 |issn=1573-7373 |pmc=4086528 |pmid=17171441}}</ref>

* Các tế bào khối u kháng với các liệu pháp điều trị thông thường.
* Não dễ bị tổn thương bởi liệu pháp điều trị thông thường.
* Não có khả năng tự phục hồi rất hạn chế.
* Nhiều loại thuốc không thể vượt qua [[hàng rào máu não]] để tác động đến khối u.

Việc điều trị các khối u não nguyên phát bao gồm chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng và các liệu pháp nhằm kéo dài thời gian sống.

=== Điều trị triệu chứng ===
=== Điều trị triệu chứng ===

Điều trị hỗ trợ nhằm mục đích làm giảm triệu chứng và cải thiện chức năng thần kinh của bệnh nhân. Các thuốc hỗ trợ chính là [[thuốc chống co giật]] và [[corticosteroid]]:

* Trước đây, khoảng 90% bệnh nhân bị u nguyên bào thần kinh đệm được điều trị bằng thuốc chống co giật, mặc dù ước tính chỉ khoảng 40% thật sự cần điều trị này. Các bác sĩ phẫu thuật thần kinh khuyến cáo không nên dùng thuốc chống co giật dự phòng, mà chỉ kê đơn khi bệnh nhân đã có cơn co giật.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Stevens |first=Glen H. J. |date=2006-07-01 |title=Antiepileptic therapy in patients with central nervous system malignancies |url=https://doi.org/10.1007/s11910-006-0024-9 |magazine=Current Neurology and Neuroscience Reports |pages=311–318 |language=en |volume=6 |issue=4 |doi=10.1007/s11910-006-0024-9 |issn=1534-6293}}</ref> Những bệnh nhân dùng [[phenytoin]] cùng lúc với xạ trị có thể gặp các phản ứng da nghiêm trọng như [[hồng ban đa dạng]] hoặc [[hội chứng Stevens–Johnson]].
* [[Corticosteroid]] – thường dùng là [[dexamethasone]] – có thể làm giảm phù quanh khối u (thông qua tái sắp xếp [[hàng rào máu não]]), giúp giảm áp lực nội sọ và phù ngoại biên, từ đó cải thiện tình trạng đau đầu hoặc lơ mơ.

=== Phẫu thuật ===
=== Phẫu thuật ===
[[File:Glioblastom (WHO Grad IV) im MRI preoperativ und postoperativ.png|thumb|U nguyên bào thần kinh đệm trước (trái) và sau phẫu thuật cắt bỏ (phải).]]

Phẫu thuật là giai đoạn đầu tiên trong điều trị u nguyên bào thần kinh đệm. Một khối u nguyên bào thần kinh đệm trung bình chứa khoảng 10<sup>11</sup> tế bào, và sau phẫu thuật con số này thường được giảm xuống còn khoảng 10<sup>9</sup> tế bào (tức giảm được khoảng 99%). Lợi ích của phẫu thuật bao gồm cắt bỏ mô khối u để xác định mô bệnh học chính xác, giảm triệu chứng do phù ngoại biên, và loại bỏ khối u trước khi nó kháng lại xạ trị và hóa trị.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Das |first=Sunit |last2=Marsden |first2=Philip A. |date=2013-10-17 |title=Angiogenesis in Glioblastoma |url=https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMcibr1309402 |magazine=New England Journal of Medicine |pages=1561–1563 |volume=369 |issue=16 |doi=10.1056/NEJMcibr1309402 |issn=0028-4793 |pmc=5378489 |pmid=24131182}}</ref>

Càng loại bỏ được nhiều mô u thì tiên lượng càng tốt. Các phân tích hồi cứu cho thấy nếu cắt bỏ được 98% thể tích khối u trở lên thì bệnh nhân có thời gian sống và chất lượng sống tốt hơn đáng kể so với trường hợp loại bỏ ít hơn.<ref>{{Chú thích web |url=https://thejns.org/view/journals/j-neurosurg/95/2/article-p190.xml |access-date=2025-06-30 |website=thejns.org |doi=10.3171/jns.2001.95.2.0190}}</ref> Tỷ lệ cắt bỏ có thể được cải thiện nếu sử dụng thuốc nhuộm huỳnh quang [[Acid aminolevulinic|5-aminolevulinic acid]] để dẫn đường trong phẫu thuật.<ref>{{cite journal|last=Stummer|first=Walter|last2=Pichlmeier|first2=Uwe|last3=Meinel|first3=Thomas|last4=Wiestler|first4=Otmar Dieter|last5=Zanella|first5=Friedhelm|last6=Reulen|first6=Hans-Jürgen|title=Fluorescence-guided surgery with 5-aminolevulinic acid for resection of malignant glioma: a randomised controlled multicentre phase III trial|journal=The Lancet Oncology|volume=7|issue=5|date=2006|doi=10.1016/S1470-2045(06)70665-9|pages=392–401|url=https://linkinghub.elsevier.com/retrieve/pii/S1470204506706659|access-date=2025-06-30}}</ref><ref>{{cite journal|last=Schatlo|first=Bawarjan|last2=Fandino|first2=Javier|last3=Smoll|first3=Nicolas R.|last4=Wetzel|first4=Oliver|last5=Remonda|first5=Luca|last6=Marbacher|first6=Serge|last7=Perrig|first7=Wolfgang|last8=Landolt|first8=Hans|last9=Fathi|first9=Ali-Reza|title=Outcomes after combined use of intraoperative MRI and 5-aminolevulinic acid in high-grade glioma surgery|journal=Neuro-Oncology|volume=17|issue=12|date=2015|issn=1522-8517|pmid=25858636|pmc=4633924|doi=10.1093/neuonc/nov049|doi-access=free|pages=1560–1567|url=https://academic.oup.com/neuro-oncology/article-pdf/17/12/1560/7639654/nov049.pdf|access-date=2025-06-30}}</ref> Tuy nhiên, ngay cả khi đã cắt bỏ hoàn toàn phần khối u có thể thấy được, các tế bào u nguyên bào thần kinh đệm vẫn đã xâm nhập rộng khắp não bộ tại thời điểm chẩn đoán. Vì vậy, đa số bệnh nhân vẫn tái phát, thường là gần vị trí ban đầu hoặc ở các vùng khác trong não. Do đó, sau phẫu thuật, bệnh nhân thường được tiếp tục điều trị bằng xạ trị và hóa trị nhằm làm tổn thương DNA của các tế bào khối u đang phân chia nhanh chóng và kìm hãm sự tái phát.<ref>{{cite journal|last=Rominiyi|first=Ola|last2=Collis|first2=Spencer J.|title=DDRugging glioblastoma: understanding and targeting the DNA damage response to improve future therapies|journal=Molecular Oncology|volume=16|issue=1|date=2022|issn=1574-7891|pmid=34036721|pmc=8732357|doi=10.1002/1878-0261.13020|doi-access=free|pages=11–41|url=https://onlinelibrary.wiley.com/doi/pdfdirect/10.1002/1878-0261.13020|access-date=2025-06-30}}</ref>

Khoảng 60–85% bệnh nhân bị u nguyên bào thần kinh đệm gặp phải suy giảm nhận thức liên quan đến ung thư sau phẫu thuật, bao gồm các vấn đề về chức năng điều hành, khả năng nói, tập trung và tốc độ xử lý thông tin.<ref>{{cite journal|last=Sinha|first=Rohitashwa|last2=Stephenson|first2=Jade Marie|last3=Price|first3=Stephen John|title=A systematic review of cognitive function in patients with glioblastoma undergoing surgery|journal=Neuro-Oncology Practice|date=2019-04-23|issn=2054-2577|pmid=32626582|pmc=7318858|doi=10.1093/nop/npz018|doi-access=free|url=https://academic.oup.com/nop/article-pdf/7/2/131/32930886/npz018.pdf|access-date=2025-06-30|page=}}</ref><ref name=":8">{{cite journal|last=JC|first=Pendergrass|last2=SD|first2=Targum|last3=JE|first3=Harrison|title=Cognitive Impairment Associated with Cancer: A Brief Review|journal=Innovations in clinical neuroscience|publisher=Innov Clin Neurosci|volume=15|issue=1-2|issn=2158-8333|pmid=29497579|url=https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29497579/|access-date=2025-06-30|page=}}</ref><ref>{{cite journal|last=Janelsins|first=Michelle C.|last2=Kesler|first2=Shelli R.|last3=Ahles|first3=Tim A.|last4=Morrow|first4=Gary R.|title=Prevalence, mechanisms, and management of cancer-related cognitive impairment|journal=International Review of Psychiatry|volume=26|issue=1|date=2014|issn=0954-0261|pmid=24716504|pmc=4084673|doi=10.3109/09540261.2013.864260|doi-access=free|pages=102–113|url=https://europepmc.org/articles/pmc4084673?pdf=render|access-date=2025-06-30}}</ref> Các triệu chứng này có thể được cải thiện thông qua các phương pháp như liệu pháp hành vi nhận thức<ref name=":9">{{Chú thích tạp chí |last=Lange |first=M. |last2=Joly |first2=F. |last3=Vardy |first3=J. |last4=Ahles |first4=T. |last5=Dubois |first5=M. |last6=Tron |first6=L. |last7=Winocur |first7=G. |last8=Ruiter |first8=M. B. De |last9=Castel |first9=H. |date=2019-12-01 |title=Cancer-related cognitive impairment: an update on state of the art, detection, and management strategies in cancer survivors |url=https://www.annalsofoncology.org/article/S0923-7534(20)32562-X/fulltext |magazine=Annals of Oncology |pages=1925–1940 |language=English |volume=30 |issue=12 |doi=10.1093/annonc/mdz410 |issn=0923-7534 |pmc=8109411 |pmid=31617564}}</ref><ref name=":8" /> hoặc tập thể dục, yoga và thiền định.<ref name=":9" /><ref name=":8" /><ref>{{Chú thích tạp chí |last=Biegler |first=Kelly A. |last2=Chaoul |first2=M. Alejandro |last3=Cohen |first3=Lorenzo |date=2009-01-01 |title=Cancer, cognitive impairment, and meditation |url=https://medicaljournalssweden.se/actaoncologica/article/view/25340 |magazine=Acta Oncologica |pages=18–26 |language=en |volume=48 |issue=1 |doi=10.1080/02841860802415535 |issn=1651-226X}}</ref>
=== Xạ trị ===
=== Xạ trị ===
[[File:Glioblastoma radiation treatment plan (A).png|thumb|Kế hoạch xạ trị cho u nguyên bào thần kinh đệm. GTV: thể tích khối u thô, CTV: thể tích bia lâm sàng, PTV: thể tích bia lập kế hoạch.]]

Sau phẫu thuật, xạ trị trở thành phương pháp điều trị chính đối với u nguyên bào thần kinh đệm. Xạ trị thường được thực hiện đồng thời với thuốc hóa trị [[temozolomide]].<ref name=":10" /> Một thử nghiệm lâm sàng quan trọng vào đầu thập niên 1970 cho thấy: trong 303 bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm được chia ngẫu nhiên điều trị bằng xạ trị hoặc điều trị y khoa tối ưu, nhóm được xạ trị có thời gian sống trung vị hơn gấp đôi so với nhóm không xạ trị.<ref>{{Chú thích web |url=https://thejns.org/view/journals/j-neurosurg/49/3/article-p333.xml |access-date=2025-06-30 |website=thejns.org |doi=10.3171/jns.1978.49.3.0333}}</ref> Nhiều nghiên cứu sau đó tiếp tục dựa trên nền tảng điều trị bằng phẫu thuật kết hợp với xạ trị. Xạ trị toàn não không mang lại lợi ích rõ rệt so với kỹ thuật xạ trị chính xác hơn như xạ trị tương thích 3 chiều.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Showalter |first=Timothy N. |last2=Andrel |first2=Jocelyn |last3=Andrews |first3=David W. |last4=Curran |first4=Walter J. |last5=Daskalakis |first5=Constantine |last6=Werner-Wasik |first6=Maria |date=2007-11-01 |title=Multifocal Glioblastoma Multiforme: Prognostic Factors and Patterns of Progression |url=https://www.redjournal.org/article/S0360-3016(07)00561-5/abstract |magazine=International Journal of Radiation Oncology, Biology, Physics |pages=820–824 |language=English |volume=69 |issue=3 |doi=10.1016/j.ijrobp.2007.03.045 |issn=0360-3016 |pmid=17499453}}</ref> Liều xạ trị tổng cộng trong khoảng 60–65 Gy được xem là tối ưu.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Fulton |first=D. S. |last2=Urtasun |first2=R. C. |last3=Scott-Brown |first3=I. |last4=Johnson |first4=E. S. |last5=Mielke |first5=B. |last6=Curry |first6=B. |last7=Huyser-Wierenga |first7=D. |last8=Hanson |first8=J. |last9=Feldstein |first9=M. |date=1992-09-01 |title=Increasing radiation dose intensity using hyperfractionation in patients with malignant glioma |url=https://doi.org/10.1007/BF00170946 |magazine=Journal of Neuro-Oncology |pages=63–72 |language=en |volume=14 |issue=1 |doi=10.1007/BF00170946 |issn=1573-7373}}</ref>

Các khối u GBM thường có những vùng mô bị [[giảm oxy huyết]], là yếu tố làm giảm hiệu quả của xạ trị. Nhiều phương pháp sử dụng thuốc nhạy xạ trong hóa trị đã được nghiên cứu, nhưng cho đến năm 2016 vẫn chưa đạt được kết quả đáng kể. Tính đến năm 2010, các nghiên cứu mới đã tiến hành thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng việc sử dụng các [[chất tăng khuếch tán oxy]], chẳng hạn như [[trans sodium crocetinate]], để làm chất nhạy xạ,<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Sheehan |first=Jason P |first2=Shaffrey ,Mark E |first3=Gupta ,Brinda |first4=Larner ,James |first5=Rich ,Jeremy N |last6=and Park |first6=Deric M |date=2010-11-09 |title=Improving the Radiosensitivity of Radioresistant and Hypoxic Glioblastoma |url=https://doi.org/10.2217/fon.10.123 |magazine=Future Oncology |pages=1591–1601 |volume=6 |issue=10 |doi=10.2217/fon.10.123 |issn=1479-6694 |pmid=21062158}}</ref> và đến năm 2015, một thử nghiệm lâm sàng về phương pháp này vẫn đang được tiến hành.<ref>{{Chú thích tạp chí |last=Diffusion Pharmaceuticals Inc |date=2017-06-16 |title=Open-label Phase 1&#x2F;2 (Safety Lead-in) Study of Trans Sodium Crocetinate (TSC) With Concomitant Treatment of Fractionated Radiation Therapy and Temozolomide in Newly Diagnosed Glioblastoma (GBM) Patients to Evaluate Safety and Efficacy |url=https://clinicaltrials.gov/study/NCT01465347}}</ref> Liệu pháp xạ trị kích hoạt boron bằng neutron đã được thử nghiệm như một phương pháp điều trị thay thế cho u nguyên bào thần kinh đệm, nhưng chưa được sử dụng phổ biến.

=== Hóa trị ===
=== Hóa trị ===
=== Liệu pháp miễn dịch ===
=== Liệu pháp miễn dịch ===

Phiên bản lúc 02:58, ngày 30 tháng 6 năm 2025

U nguyên bào thần kinh đệm
Tên khácU nguyên bào thần kinh đệm đa hình thái
Hình chụp MRI có tiêm thuốc cản quang theo mặt phẳng đứng ngang cho thấy khối u nguyên bào thần kinh đệm ở một bé trai 15 tuổi
Khoa/NgànhUng thư thần kinh, phẫu thuật thần kinh
Triệu chứngBan đầu không đặc hiệu, đau đầu, thay đổi tính cách, buồn nôn, triệu chứng giống tai biến mạch máu não[1]
Khởi phátKhoảng 64 tuổi[2][3]
Nguyên nhânThường không rõ[2]
Yếu tố nguy cơRối loạn di truyền (như u xơ thần kinh, hội chứng Li–Fraumeni), tiền sử xạ trị[2][3]
Phương pháp chẩn đoánChụp CT, chụp cộng hưởng từ, sinh thiết[1]
Phòng ngừaChưa rõ[3]
Điều trịPhẫu thuật, hóa trị, xạ trị[3]
ThuốcTemozolomide, thuốc corticosteroid[1][4]
Tiên lượngTuổi thọ trung bình khoảng 12 tháng sau điều trị (tỷ lệ sống 5 năm <10%)[2][5]
Dịch tễ3 trên 100.000 người mỗi năm[3]


U nguyên bào thần kinh đệm (trước đây gọi là u nguyên bào thần kinh đệm đa hình tháiglioblastoma multiformeGBM) là dạng ung thư khởi phát trong não phổ biến nhất và ác tính nhất, với tiên lượng sống sót rất kém.[6][7][8] Các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của bệnh thường không đặc hiệu.[1] Có thể bao gồm đau đầu, thay đổi tính cách, buồn nôn, và các triệu chứng tương tự như đột quỵ.[1] Triệu chứng thường tiến triển nhanh và có thể dẫn đến hôn mê.[2]

Nguyên nhân của đa số các trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm hiện vẫn chưa được biết rõ.[2] Các yếu tố nguy cơ hiếm gặp bao gồm các rối loạn di truyền như u xơ thần kinh và hội chứng Li–Fraumeni, cũng như tiền sử xạ trị.[2][3] U nguyên bào thần kinh đệm chiếm khoảng 15% tổng số các ca u não.[1] U này được cho là phát sinh từ các tế bào thần kinh đệm hình sao.[9] Việc chẩn đoán thường dựa trên kết hợp giữa chụp CT, chụp cộng hưởng từ, và sinh thiết mô.[1]

Hiện chưa có phương pháp nào có thể phòng ngừa u nguyên bào thần kinh đệm.[3] Việc điều trị thường bao gồm phẫu thuật, sau đó là hóa trịxạ trị.[3] Thuốc temozolomide thường được sử dụng như một phần của hóa trị.[3][4][10] Thuốc corticosteroid liều cao có thể được dùng để giảm sưng và làm dịu các triệu chứng.[1] Việc phẫu thuật loại bỏ (giảm áp) khối u có thể kéo dài thời gian sống, nhưng chỉ thêm được vài tháng.[11]

U nguyên bào thần kinh đệm gần như luôn tái phát kể cả khi bệnh nhân đã được điều trị tối đa.[3] Thời gian sống trung bình sau khi chẩn đoán là từ 10 đến 13 tháng, với chưa đến 5–10% bệnh nhân sống được hơn năm năm.[12][13][5] Nếu không điều trị, thời gian sống trung bình sau chẩn đoán thường chỉ khoảng ba tháng.[14] Đây là loại ung thư khởi phát trong não phổ biến nhất, và là loại u não phổ biến thứ hai sau u màng não, vốn thường là lành tính.[6][15] Ước tính có khoảng 3 trên 100.000 người mắc bệnh mỗi năm.[3] Độ tuổi trung bình khi được chẩn đoán là 64, và bệnh xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới.[2][3]

U thần kinh trung ương là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 10 trên toàn cầu, trong đó có đến 90% là u não.[16] U nguyên bào thần kinh đệm có nguồn gốc từ các tế bào thần kinh đệm hình sao và chiếm khoảng 49% tổng số các khối u ác tính của hệ thần kinh trung ương, khiến nó trở thành dạng ung thư phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương. Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực phát triển các liệu pháp điều trị mới cho u nguyên bào thần kinh đệm trong nhiều năm qua, thời gian sống trung vị của bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm trên toàn thế giới vẫn chỉ là khoảng 8 tháng. Việc điều trị tiêu chuẩn bằng xạ trị và hóa trị bắt đầu ngay sau chẩn đoán có thể kéo dài thời gian sống trung vị lên khoảng 14 tháng, với tỷ lệ sống sau 5 năm đạt từ 5–10%. Tỷ lệ sống sau 5 năm đối với mọi loại u não ác tính nguyên phát nói chung là khoảng 20%.[17] Ngay cả khi các phần có thể phát hiện của khối u đã được loại bỏ bằng phẫu thuật, phần lớn bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm vẫn bị tái phát.

Triệu chứng

Các triệu chứng phổ biến bao gồm co giật, đau đầu, buồn nônnôn mửa, mất trí nhớ, thay đổi về tính cách, tâm trạng hoặc khả năng tập trung, cùng với các rối loạn thần kinh khu trú.[18] Các loại triệu chứng thường phụ thuộc vào vị trí của khối u trong não hơn là vào đặc tính bệnh lý của nó. Khối u có thể bắt đầu gây triệu chứng một cách nhanh chóng, nhưng đôi khi lại không biểu hiện triệu chứng cho đến khi u đã đạt kích thước lớn.[19]

Yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân của hầu hết các trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm vẫn chưa rõ ràng.[2] Yếu tố nguy cơ được biết đến rõ nhất là tiếp xúc với bức xạ ion hóa, trong đó bức xạ từ chụp CT được xem là một nguyên nhân quan trọng.[20][21] Khoảng 5% trường hợp mắc là do phát triển từ một số hội chứng di truyền nhất định.[18]

Di truyền

Các yếu tố nguy cơ ít gặp bao gồm các rối loạn di truyền như u xơ thần kinh, hội chứng Li–Fraumeni, xơ cứng củ và hội chứng Turcot.[18] Tiền sử đã từng xạ trị cũng là một yếu tố nguy cơ.[2][3] Vì lý do chưa rõ, u nguyên bào thần kinh đệm xảy ra phổ biến hơn ở nam giới.[22]

Môi trường

Một số yếu tố liên quan khác bao gồm tiếp xúc với thuốc lá, thuốc trừ sâu, và làm việc trong lĩnh vực lọc hóa dầu hoặc sản xuất cao su tổng hợp.[18]

U nguyên bào thần kinh đệm cũng đã được ghi nhận có liên quan đến một số loại virus như SV40,[23] HHV-6,[24][25]cytomegalovirus (CMV).[26] Nhiễm cytomegalovirus gây ung thư thậm chí có thể là điều kiện cần để khởi phát u nguyên bào thần kinh đệm.[27][28]

Khác

Một số nghiên cứu đã được thực hiện để xác định liệu việc tiêu thụ thịt muối có phải là yếu tố nguy cơ hay không. Tính đến năm 2003, chưa có bằng chứng xác nhận mối tương quan này.[29] Tương tự, việc tiếp xúc với formaldehyde và các trường điện từ trong môi trường sinh hoạt—như từ điện thoại di động hoặc hệ thống dây điện trong nhà—cũng đã được nghiên cứu như các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, tính đến năm 2015, các yếu tố này vẫn chưa được chứng minh là có gây ra u nguyên bào thần kinh đệm.[18][30][31]

Sinh lý bệnh

Nguồn gốc tế bào của u nguyên bào thần kinh đệm hiện vẫn chưa được xác định rõ. Do có sự tương đồng về nhuộm hóa mô miễn dịch giữa các tế bào thần kinh đệm và u nguyên bào thần kinh đệm, các loại u thần kinh đệm như u nguyên bào thần kinh đệm từ lâu đã được cho là có nguồn gốc từ các tế bào gốc dạng thần kinh đệm nằm trong vùng tiền não thất bên. Những nghiên cứu gần đây cho thấy tế bào thần kinh đệm hình sao, tế bào oligodendrocytes tiền thân, và tế bào gốc thần kinh đều có thể đóng vai trò là tế bào khởi phát khối u.[32][33]

U nguyên bào thần kinh đệm thường hình thành trong chất trắng của đại não, phát triển nhanh chóng và có thể đạt kích thước rất lớn trước khi xuất hiện triệu chứng. Vì chức năng chính của tế bào thần kinh đệm trong não là hỗ trợ các nơron, chúng có khả năng phân chia, phình to, và mở rộng các nhánh tế bào dọc theo các nơron và mạch máu. Khi trở nên ác tính, các tế bào này có xu hướng lan theo các đường sẵn có trong não, thường là theo các bó chất trắng, mạch máu và khoang quanh mạch máu.[34] Khối u có thể lan đến màng não hoặc thành hệ thống não thất, dẫn đến hàm lượng protein cao trong dịch não tủy (> 100 mg/dl), và đôi khi gây tăng tế bào dịch não tủy với số lượng từ 10 đến 100 tế bào, chủ yếu là lympho. Các tế bào ác tính có thể di chuyển trong dịch não tủy và (hiếm khi) lan đến tủy sống hoặc gây u thần kinh đệm màng não. Tuy nhiên, việc u nguyên bào thần kinh đệm di căn ra ngoài hệ thần kinh trung ương là cực kỳ hiếm gặp. Khoảng 50% các khối u nguyên bào thần kinh đệm chiếm hơn một thùy não hoặc xảy ra ở cả hai bán cầu não. Những khối u này thường bắt nguồn từ đại não và có thể lan điển hình qua thể chai, tạo thành dạng u thần kinh đệm hình cánh bướm (bilateral glioma).[35]

Phân loại

Phân loại u não từ trước đến nay chủ yếu dựa trên hình thái mô học ở cấp độ đại thể, được quan sát thông qua các lát cắt nhuộm hematoxylin-eosin. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố bảng Phân loại khối u hệ thần kinh trung ương tiêu chuẩn đầu tiên vào năm 1979[36] và vẫn tiếp tục cập nhật kể từ đó. Phiên bản năm 2007 của bảng phân loại này[37] là bảng cuối cùng còn chủ yếu dựa trên đặc điểm quan sát dưới kính hiển vi. Phiên bản mới năm 2016 của bảng phân loại này[38] đánh dấu một sự thay đổi trong lý thuyết: một số khối u được phân loại không chỉ dựa vào hình thái tế bào mà còn dựa trên thành phần di truyền của chúng.

Đến năm 2021, phiên bản thứ năm của bảng phân loại này được công bố. Cập nhật này đã loại bỏ thuật ngữ "u nguyên bào thần kinh đệm thứ phát" (secondary glioblastoma) và phân loại lại các khối u đó thành u sao bào, đột biến IDH, độ 4. Chỉ những khối u mang kiểu gen IDH hoang dã (IDH wild-type) mới được phân loại là u nguyên bào thần kinh đệm.[39]

Đặc điểm của u nguyên bào thần kinh đệm, IDH hoang dã, độ 4 theo WHO[40]
Các tên gọiU nguyên bào thần kinh đệm; u nguyên bào thần kinh đệm đa hình thái; GBM; glioblastoma; glioblastoma multiforme
Tế bào nguồn gốcTế bào thần kinh đệm hình sao
Tuổi trung vị khi chẩn đoánKhoảng 62 tuổi
Tỷ lệ nam:nữ1,42:1
Thời gian trung vị có triệu chứng trước khi chẩn đoán4 tháng
Thời gian sống sót trung vị
Phẫu thuật + xạ trị9,9 tháng
Phẫu thuật + xạ trị + hóa trị15 tháng
Vị trí uThường ở trên lều tiểu não (supratentorial), hiếm gặp ở tiểu não hoặc tủy sống
Hoại tử và tăng sinh vi mạchRộng rãi
Đột biến phân tử/di truyền liên quanĐột biến vùng khởi động TERT, mất nhiễm sắc thể 10 kết hợp với tăng số lượng nhiễm sắc thể 7; khuếch đại gen EGFR

Biến đổi phân tử

Hiện nay có ba phân nhóm phân tử chính của u nguyên bào thần kinh đệm, được xác định dựa trên biểu hiện gen:[41]

  • Phân nhóm cổ điển: Khoảng 97% các khối u thuộc phân nhóm này có bản sao bổ sung của gen thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR), và phần lớn biểu hiện EGFR ở mức cao hơn bình thường. Trong khi đó, gen TP53 (p53), vốn thường bị đột biến trong u nguyên bào thần kinh đệm, lại hiếm khi bị đột biến ở phân nhóm này.[42] Ngoài ra, sự mất tính dị hợp tử ở nhiễm sắc thể 10 và khuếch đại nhiễm sắc thể 7 cũng thường gặp ở phân nhóm này.[43]
  • Phân nhóm hướng thần kinh: Phân nhóm này thường có tỷ lệ đột biến cao ở gen TP53PDGFRA – gen mã hóa thụ thể yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu alpha.[44]
  • Phân nhóm trung mô: Đặc trưng bởi tỷ lệ đột biến cao ở gen NF1 – gen mã hóa protein neurofibromin 1, đồng thời có ít đột biến và mức biểu hiện thấp hơn của gen EGFR so với các nhóm khác.[45]

Phân tích ban đầu về biểu hiện gen từng xác định một phân nhóm thứ tư gọi là phân nhóm thần kinh,[44] nhưng các nghiên cứu tiếp theo cho thấy đây không phải là phân nhóm u đặc hiệu, mà có thể là do nhiễm bẩn từ tế bào bình thường.[41]

Nhiều biến đổi di truyền khác cũng đã được mô tả trong u nguyên bào thần kinh đệm, phần lớn tập trung vào hai con đường truyền tín hiệu chính là Rb và PI3K/AKT/mTOR.[46] Lần lượt khoảng 68–78% và 88% các trường hợp u nguyên bào thần kinh đệm có sự biến đổi trong hai con đường này.[6]

Một biến đổi phân tử quan trọng khác là hiện tượng methyl hóa gen MGMT – một enzyme sửa chữa DNA theo cơ chế "tự sát". Methyl hóa cản trở quá trình phiên mã và biểu hiện của gen MGMT. Vì enzyme MGMT chỉ có thể sửa một vị trí tổn thương do alkyl hóa DNA trước khi bị bất hoạt, nên khả năng sửa chữa DNA là rất thấp nếu vùng khởi động MGMT bị methyl hóa.[47][48] Quá trình methyl hóa MGMT có liên quan đến đáp ứng điều trị tốt hơn với các thuốc hóa trị gây tổn thương DNA như temozolomide.[49]

Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích toàn bộ hệ gen cho thấy u nguyên bào thần kinh đệm có sự đa dạng di truyền đáng kể.[50]

Ít nhất ba con đường sinh u nguyên bào thần kinh đệm khác nhau đã được xác định nhờ các nghiên cứu phân tử:

  • Con đường thứ nhất liên quan đến sự khuếch đại và hoạt hóa đột biến của các gen mã hóa thụ thể tyrosine kinase (RTK), dẫn đến rối loạn tín hiệu tăng trưởng. Các yếu tố tăng trưởng như EGF, VEGF và PDGF đều được nhận biết bởi các protein xuyên màng thuộc nhóm RTK, vốn cũng có thể đóng vai trò là thụ thể cho hormone, cytokine và các con đường tín hiệu khác.
  • Con đường thứ hai liên quan đến việc hoạt hóa hệ thống tín hiệu nội bào PI3K/AKT/mTOR, đóng vai trò quan trọng trong điều hòa sự sống còn của tế bào.
  • Con đường thứ ba đặc trưng bởi sự bất hoạt của các gen ức chế khối u như TP53 và Rb.[51]

Tế bào gốc ung thư

Các tế bào u nguyên bào thần kinh đệm có đặc điểm giống tế bào mẹ nguyên sơ (còn gọi là tế bào gốc ung thư u nguyên bào thần kinh đệm) đã được phát hiện trong các mẫu u nguyên bào thần kinh đệm. Sự hiện diện của chúng, kết hợp với tính chất lan rộng và xâm lấn khuếch tán của u nguyên bào thần kinh đệm, khiến việc loại bỏ hoàn toàn qua phẫu thuật trở nên rất khó khăn. Điều này được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến kháng điều trị thông thường và tỷ lệ tái phát cao của bệnh.[52] Tế bào gốc ung thư của u nguyên bào thần kinh đệm có một số đặc điểm tương đồng với tế bào mẹ nguyên sơ thần kinh, có cùng biểu hiện thụ thể bề mặt CD133.[53] Ngoài ra, CD44 cũng có thể được sử dụng như một dấu hiệu nhận diện tế bào gốc ung thư ở một số phân nhóm tế bào u nguyên bào thần kinh đệm.[54] Tế bào gốc ung thư của u nguyên bào thần kinh đệm dường như có khả năng kháng xạ trị và hóa trị cao hơn, ít nhất một phần là do sự tăng cường của các cơ chế sửa chữa DNA.[55]

Chuyển hóa

Gen IDH1 mã hóa enzyme isocitrate dehydrogenase 1 và không bị đột biến trong u nguyên bào thần kinh đệm. Vì vậy, các khối u này có đặc tính xâm lấn mạnh hơn so với các u sao bào có đột biến IDH1.

Kênh ion

Ngoài ra, u nguyên bào thần kinh đệm biểu hiện nhiều thay đổi trong các gen mã hóa kênh ion, bao gồm việc tăng cường các kênh kali gBK và kênh chloride ClC-3. Việc tăng cường các kênh ion này được cho là giúp tế bào u nguyên bào thần kinh đệm tăng cường vận chuyển ion qua màng tế bào, từ đó thúc đẩy sự di chuyển của H2O thông qua quá trình thẩm thấu. Điều này giúp tế bào u thay đổi thể tích một cách nhanh chóng, hỗ trợ hiệu quả cho đặc tính xâm lấn mạnh của u nguyên bào thần kinh đệm. Khả năng thích ứng nhanh về thể tích tế bào giúp các tế bào u dễ dàng di chuyển qua mạng lưới gian bào phức tạp của mô não.[56]

MicroRNA (miRNA)

Tính đến năm 2012, can thiệp RNA – chủ yếu là microRNA – đang được nghiên cứu trong nuôi cấy mô, mẫu bệnh học và các mô hình tiền lâm sàng trên động vật đối với u nguyên bào thần kinh đệm.[57] Ngoài ra, các quan sát thực nghiệm cho thấy microRNA-451 đóng vai trò điều hòa chính trong con đường tín hiệu LKB1/AMPK ở các tế bào u glioma được nuôi cấy.[58] Cũng có bằng chứng cho thấy sự cụm lại (clustering) của các microRNA có thể kiểm soát các cơ chế điều hòa biểu sinh của bệnh.[59]

Hệ mạch u

U nguyên bào thần kinh đệm đặc trưng bởi các mạch máu bất thường với hình thái và chức năng bị rối loạn.[60] Tình trạng tăng tính thấm và tuần hoàn kém hiệu quả trong hệ mạch khối u dẫn đến lưu lượng máu rối loạn bên trong khối u, từ đó làm tăng tình trạng giảm oxy huyết, kích hoạt các quá trình như ức chế miễn dịch, góp phần thúc đẩy sự tiến triển của ung thư.[60][61]

Chẩn đoán

Hình chụp CT u nguyên bào thần kinh đệm ở thùy trán phải trên
Hình chụp MRI mặt phẳng đứng giữa có tiêm thuốc cản quang, cho thấy u nguyên bào thần kinh đệm độ 4 theo WHO ở một bé trai 15 tuổi
Thuật toán chẩn đoán u thần kinh đệm lan tỏa[62]

Trên hình chụp MRI, u nguyên bào thần kinh đệm thường xuất hiện dưới dạng tổn thương ngấm thuốc hình nhẫn. Tuy nhiên, hình ảnh này không đặc hiệu, vì các tổn thương khác như áp xe, di căn, đa xơ cứng dạng u và một số thực thể khác cũng có thể biểu hiện tương tự.[63] Việc chẩn đoán xác định u nguyên bào thần kinh đệm nghi ngờ trên phim CT hoặc MRI cần có sinh thiết định vị hoặc phẫu thuật mở sọ để cắt bỏ khối u kèm xác nhận mô học. Vì cấp độ ung thư được xác định dựa trên vùng ác tính nhất của khối u, sinh thiết hoặc cắt bỏ khối u một phần có thể dẫn đến đánh giá phân độ tổn thương thấp hơn thực tế. Đánh giá lưu lượng máu khối u bằng kỹ thuật MRI tưới máu não và đo nồng độ chất chuyển hóa khối u bằng cộng hưởng từ phổ có thể hỗ trợ chẩn đoán trong một số trường hợp bằng cách cho thấy tăng thể tích máu não tương đối và tăng đỉnh choline, nhưng mô bệnh học vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và xác định đặc điểm phân tử.[cần dẫn nguồn]

Việc phân biệt giữa u nguyên bào thần kinh đệm và u sao bào bậc cao là rất quan trọng. U nguyên bào thần kinh đệm phát sinh một cách tự phát, không tiến triển từ u thần kinh đệm độ thấp như ở các u sao bào bậc cao.[6] U nguyên bào thần kinh đệm có tiên lượng kém hơn, sinh học khối u khác biệt, và có thể có đáp ứng điều trị khác nhau, do đó việc phân biệt chính xác ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tiên lượng và phương pháp điều trị.[47][64] U sao bào thường mang đột biến ở IDH1 hoặc IDH2, trong khi u nguyên bào thần kinh đệm thì không. Do đó, đột biến IDH là chỉ dấu phân tử có giá trị trong việc phân biệt hai loại u này – hình thái mô học của chúng rất giống nhau và phân biệt dựa trên hình ảnh đơn thuần là không đáng tin cậy.[48] Các u nguyên bào thần kinh đệm mang kiểu gen IDH hoang dã thường biểu hiện mức độ OLIG2 thấp hơn so với u sao bào bậc thấp có đột biến IDH.[65] Ở bệnh nhân trên 55 tuổi có u nguyên bào thần kinh đệm điển hình về mô học, không có u thần kinh đệm bậc thấp từ trước, vị trí u không nằm ở đường giữa và biểu hiện ATRX nhân được bảo tồn, thì âm tính với IDH1 R132H qua nhuộm hóa mô miễn dịch là đủ để phân loại là u nguyên bào thần kinh đệm mang kiểu gen IDH hoang dã.[62] Trong các trường hợp còn lại của u thần kinh đệm lan tỏa, nếu không có nhuộm dương tính với IDH1 R132H thì cần tiến hành giải trình tự DNA IDH1 và IDH2 để phát hiện hoặc loại trừ các đột biến không điển hình.[62] Với các u sao bào lan tỏa IDH hoang dã không có hoại tử hoặc tăng sinh vi mạch, cần xét nghiệm khuếch đại EGFR, đột biến vùng khởi động TERT và bất thường di truyền +7/–10 để đặc trưng hóa chúng là u nguyên bào thần kinh đệm mang kiểu gen IDH hoang dã.[62]

Phòng ngừa

Hiện chưa có phương pháp nào có thể phòng ngừa được u nguyên bào thần kinh đệm.[3] Khác với một số loại ung thư khác, u thần kinh đệm thường xảy ra một cách đột ngột, không có dấu hiệu cảnh báo từ trước, và không có biện pháp phòng ngừa nào đã được xác nhận.[66]

Điều trị

Phác đồ điều trị u nguyên bào thần kinh đệm IDH hoang dã độ 4 theo WHO. KPS: thang điểm đánh giá hoạt động chức năng Karnofsky.[62]

Việc điều trị u nguyên bào thần kinh đệm gặp nhiều khó khăn do các yếu tố phức tạp sau:[67]

  • Các tế bào khối u kháng với các liệu pháp điều trị thông thường.
  • Não dễ bị tổn thương bởi liệu pháp điều trị thông thường.
  • Não có khả năng tự phục hồi rất hạn chế.
  • Nhiều loại thuốc không thể vượt qua hàng rào máu não để tác động đến khối u.

Việc điều trị các khối u não nguyên phát bao gồm chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng và các liệu pháp nhằm kéo dài thời gian sống.

Điều trị triệu chứng

Điều trị hỗ trợ nhằm mục đích làm giảm triệu chứng và cải thiện chức năng thần kinh của bệnh nhân. Các thuốc hỗ trợ chính là thuốc chống co giậtcorticosteroid:

  • Trước đây, khoảng 90% bệnh nhân bị u nguyên bào thần kinh đệm được điều trị bằng thuốc chống co giật, mặc dù ước tính chỉ khoảng 40% thật sự cần điều trị này. Các bác sĩ phẫu thuật thần kinh khuyến cáo không nên dùng thuốc chống co giật dự phòng, mà chỉ kê đơn khi bệnh nhân đã có cơn co giật.[68] Những bệnh nhân dùng phenytoin cùng lúc với xạ trị có thể gặp các phản ứng da nghiêm trọng như hồng ban đa dạng hoặc hội chứng Stevens–Johnson.
  • Corticosteroid – thường dùng là dexamethasone – có thể làm giảm phù quanh khối u (thông qua tái sắp xếp hàng rào máu não), giúp giảm áp lực nội sọ và phù ngoại biên, từ đó cải thiện tình trạng đau đầu hoặc lơ mơ.

Phẫu thuật

U nguyên bào thần kinh đệm trước (trái) và sau phẫu thuật cắt bỏ (phải).

Phẫu thuật là giai đoạn đầu tiên trong điều trị u nguyên bào thần kinh đệm. Một khối u nguyên bào thần kinh đệm trung bình chứa khoảng 1011 tế bào, và sau phẫu thuật con số này thường được giảm xuống còn khoảng 109 tế bào (tức giảm được khoảng 99%). Lợi ích của phẫu thuật bao gồm cắt bỏ mô khối u để xác định mô bệnh học chính xác, giảm triệu chứng do phù ngoại biên, và loại bỏ khối u trước khi nó kháng lại xạ trị và hóa trị.[69]

Càng loại bỏ được nhiều mô u thì tiên lượng càng tốt. Các phân tích hồi cứu cho thấy nếu cắt bỏ được 98% thể tích khối u trở lên thì bệnh nhân có thời gian sống và chất lượng sống tốt hơn đáng kể so với trường hợp loại bỏ ít hơn.[70] Tỷ lệ cắt bỏ có thể được cải thiện nếu sử dụng thuốc nhuộm huỳnh quang 5-aminolevulinic acid để dẫn đường trong phẫu thuật.[71][72] Tuy nhiên, ngay cả khi đã cắt bỏ hoàn toàn phần khối u có thể thấy được, các tế bào u nguyên bào thần kinh đệm vẫn đã xâm nhập rộng khắp não bộ tại thời điểm chẩn đoán. Vì vậy, đa số bệnh nhân vẫn tái phát, thường là gần vị trí ban đầu hoặc ở các vùng khác trong não. Do đó, sau phẫu thuật, bệnh nhân thường được tiếp tục điều trị bằng xạ trị và hóa trị nhằm làm tổn thương DNA của các tế bào khối u đang phân chia nhanh chóng và kìm hãm sự tái phát.[73]

Khoảng 60–85% bệnh nhân bị u nguyên bào thần kinh đệm gặp phải suy giảm nhận thức liên quan đến ung thư sau phẫu thuật, bao gồm các vấn đề về chức năng điều hành, khả năng nói, tập trung và tốc độ xử lý thông tin.[74][75][76] Các triệu chứng này có thể được cải thiện thông qua các phương pháp như liệu pháp hành vi nhận thức[77][75] hoặc tập thể dục, yoga và thiền định.[77][75][78]

Xạ trị

Kế hoạch xạ trị cho u nguyên bào thần kinh đệm. GTV: thể tích khối u thô, CTV: thể tích bia lâm sàng, PTV: thể tích bia lập kế hoạch.

Sau phẫu thuật, xạ trị trở thành phương pháp điều trị chính đối với u nguyên bào thần kinh đệm. Xạ trị thường được thực hiện đồng thời với thuốc hóa trị temozolomide.[11] Một thử nghiệm lâm sàng quan trọng vào đầu thập niên 1970 cho thấy: trong 303 bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm được chia ngẫu nhiên điều trị bằng xạ trị hoặc điều trị y khoa tối ưu, nhóm được xạ trị có thời gian sống trung vị hơn gấp đôi so với nhóm không xạ trị.[79] Nhiều nghiên cứu sau đó tiếp tục dựa trên nền tảng điều trị bằng phẫu thuật kết hợp với xạ trị. Xạ trị toàn não không mang lại lợi ích rõ rệt so với kỹ thuật xạ trị chính xác hơn như xạ trị tương thích 3 chiều.[80] Liều xạ trị tổng cộng trong khoảng 60–65 Gy được xem là tối ưu.[81]

Các khối u GBM thường có những vùng mô bị giảm oxy huyết, là yếu tố làm giảm hiệu quả của xạ trị. Nhiều phương pháp sử dụng thuốc nhạy xạ trong hóa trị đã được nghiên cứu, nhưng cho đến năm 2016 vẫn chưa đạt được kết quả đáng kể. Tính đến năm 2010, các nghiên cứu mới đã tiến hành thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng việc sử dụng các chất tăng khuếch tán oxy, chẳng hạn như trans sodium crocetinate, để làm chất nhạy xạ,[82] và đến năm 2015, một thử nghiệm lâm sàng về phương pháp này vẫn đang được tiến hành.[83] Liệu pháp xạ trị kích hoạt boron bằng neutron đã được thử nghiệm như một phương pháp điều trị thay thế cho u nguyên bào thần kinh đệm, nhưng chưa được sử dụng phổ biến.

Hóa trị

Liệu pháp miễn dịch

Thủ thuật khác

Tiên lượng

Dịch tễ học

Lịch sử

Nghiên cứu

Liệu pháp gen

Liệu pháp virus diệt ung thư (oncolytic virotherapy)

Phương pháp đưa thuốc qua đường mũi

RNA tăng cường (eRNA)

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h Young, Richard M.; Jamshidi, Aria; Davis, Gregory; Sherman, Jonathan H. (tháng 6 năm 2015). "Current trends in the surgical management and treatment of adult glioblastoma". Annals of Translational Medicine. Quyển 3 số 9. tr. 121. doi:10.3978/j.issn.2305-5839.2015.05.10. ISSN 2305-5839. PMC 4481356. PMID 26207249.
  2. ^ a b c d e f g h i j Stewart, Bernard W.; Wild, Christopher P. (2014). World cancer report 2014. Centre international de recherche sur le cancer, Organisation mondiale de la santé. Lyon: International agency for research on cancer. ISBN 978-92-832-0429-9.
  3. ^ a b c d e f g h i j k l m n Gallego, O. (tháng 8 năm 2015). "Nonsurgical treatment of recurrent glioblastoma". Current Oncology (Toronto, Ont.). Quyển 22 số 4. tr. e273–281. doi:10.3747/co.22.2436. ISSN 1198-0052. PMC 4530825. PMID 26300678.
  4. ^ a b Hart, Michael G; Garside, Ruth; Rogers, Gabriel; Stein, Ken; Grant, Robin (ngày 30 tháng 4 năm 2013). "Temozolomide for high grade glioma". Cochrane Database of Systematic Reviews. 2016 (9). Wiley. doi:10.1002/14651858.cd007415.pub2. ISSN 1465-1858.
  5. ^ a b Ostrom, Quinn T; Cioffi, Gino; Gittleman, Haley; Patil, Nirav; Waite, Kristin; Kruchko, Carol; Barnholtz-Sloan, Jill S (2019). "CBTRUS Statistical Report: Primary Brain and Other Central Nervous System Tumors Diagnosed in the United States in 2012–2016" (PDF). Neuro-Oncology. 21 (Supplement_5). Oxford University Press (OUP): v1 – v100. doi:10.1093/neuonc/noz150. ISSN 1522-8517. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  6. ^ a b c d Bleeker, Fonnet E.; Molenaar, Remco J.; Leenstra, Sieger (tháng 5 năm 2012). "Recent advances in the molecular understanding of glioblastoma". Journal of Neuro-Oncology. Quyển 108 số 1. tr. 11–27. doi:10.1007/s11060-011-0793-0. ISSN 1573-7373. PMC 3337398. PMID 22270850.
  7. ^ Tan, Aaron C.; Ashley, David M.; López, Giselle Y.; Malinzak, Michael; Friedman, Henry S.; Khasraw, Mustafa (2020). "Management of glioblastoma: State of the art and future directions". CA: A Cancer Journal for Clinicians (bằng tiếng Anh). Quyển 70 số 4. tr. 299–312. doi:10.3322/caac.21613. ISSN 1542-4863.
  8. ^ Tran, B.; Rosenthal, M. A. (ngày 1 tháng 4 năm 2010). "Survival comparison between glioblastoma multiforme and other incurable cancers". Journal of Clinical Neuroscience (bằng tiếng English). Quyển 17 số 4. tr. 417–421. doi:10.1016/j.jocn.2009.09.004. ISSN 0967-5868. PMID 20167494.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  9. ^ Stewart, Bernard W.; Wild, Christopher P. (2014). World Cancer Report 2014. Lyon, France: International Agency for Research on Cancer. ISBN 978-92-832-0429-9. OCLC 861207319. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  10. ^ Khosla, Divya. "Concurrent therapy to enhance radiotherapeutic outcomes in glioblastoma". Annals of Translational Medicine. 4 (3). doi:10.3978/j.issn.2305-5839.2016.01.25. PMID 26904576. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  11. ^ a b Van Meir, E. G.; Hadjipanayis, C. G.; Norden, A. D.; Shu, H. K.; Wen, P. Y.; Olson, J. J. (ngày 1 tháng 5 năm 2010). "Exciting New Advances in Neuro-Oncology: The Avenue to a Cure for Malignant Glioma". CA: A Cancer Journal for Clinicians. 60 (3). Wiley: 166–193. doi:10.3322/caac.20069. ISSN 0007-9235.
  12. ^ McKenney, Anna Sophia; Weg, Emily; Bale, Tejus A.; Wild, Aaron T.; Um, Hyemin; Fox, Michael J.; Lin, Andrew; Yang, Jonathan T.; Yao, Peter; Birger, Maxwell L.; Tixier, Florent; Sellitti, Matthew; Moss, Nelson S.; Young, Robert J.; Veeraraghavan, Harini (2023). "Radiomic Analysis to Predict Histopathologically Confirmed Pseudoprogression in Glioblastoma Patients". Advances in Radiation Oncology. 8 (1). Elsevier BV: 100916. doi:10.1016/j.adro.2022.100916. ISSN 2452-1094. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  13. ^ Stupp, Roger; Hegi, Monika E; Mason, Warren P; van den Bent, Martin J; Taphoorn, Martin JB; Janzer, Robert C; Ludwin, Samuel K; Allgeier, Anouk; Fisher, Barbara; Belanger, Karl; Hau, Peter; Brandes, Alba A; Gijtenbeek, Johanna; Marosi, Christine; Vecht, Charles J; Mokhtari, Karima; Wesseling, Pieter; Villa, Salvador; Eisenhauer, Elizabeth; Gorlia, Thierry; Weller, Michael; Lacombe, Denis; Cairncross, J Gregory; Mirimanoff, René-Olivier (2009). "Effects of radiotherapy with concomitant and adjuvant temozolomide versus radiotherapy alone on survival in glioblastoma in a randomised phase III study: 5-year analysis of the EORTC-NCIC trial". The Lancet Oncology. 10 (5): 459–466. doi:10.1016/S1470-2045(09)70025-7. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  14. ^ Schapira, Anthony H. V. (ngày 18 tháng 12 năm 2006). Neurology and Clinical Neuroscience E-Book. Elsevier Health Sciences. ISBN 978-0-323-07053-9. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  15. ^ McNeill, Katharine A. (2016). "Epidemiology of Brain Tumors". Neurologic Clinics. 34 (4): 981–998. doi:10.1016/j.ncl.2016.06.014. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  16. ^ Ostrom, Quinn T; Patil, Nirav; Cioffi, Gino; Waite, Kristin; Kruchko, Carol; Barnholtz-Sloan, Jill S (ngày 30 tháng 10 năm 2020). "CBTRUS Statistical Report: Primary Brain and Other Central Nervous System Tumors Diagnosed in the United States in 2013–2017". Neuro-Oncology. Quyển 22 số Supplement_1. tr. iv1 – iv96. doi:10.1093/neuonc/noaa200. ISSN 1522-8517. PMC 7596247. PMID 33123732.
  17. ^ Visser, Otto; Ardanaz, Eva; Botta, Laura; Sant, Milena; Tavilla, Andrea; Minicozzi, Pamela; Hackl, M.; Zielonke, N.; Oberaigner, W. (ngày 1 tháng 10 năm 2015). "Survival of adults with primary malignant brain tumours in Europe; Results of the EUROCARE-5 study". European Journal of Cancer (bằng tiếng English). Quyển 51 số 15. tr. 2231–2241. doi:10.1016/j.ejca.2015.07.032. ISSN 0959-8049. PMID 26421825.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  18. ^ a b c d e Alifieris, Constantinos; Trafalis, Dimitrios T. (ngày 1 tháng 8 năm 2015). "Glioblastoma multiforme: Pathogenesis and treatment". Pharmacology & Therapeutics. Quyển 152. tr. 63–82. doi:10.1016/j.pharmthera.2015.05.005. ISSN 0163-7258.
  19. ^ Iacob, Gabriel; Dinca, Eduard B. (2009). "Current data and strategy in glioblastoma multiforme". Journal of Medicine and Life. Quyển 2 số 4. tr. 386–393. ISSN 1844-122X. PMC 3019011. PMID 20108752.
  20. ^ Smoll, Nicolas R; Brady, Zoe; Scurrah, Katrina J; Lee, Choonsik; Berrington de González, Amy; Mathews, John D (ngày 6 tháng 7 năm 2023). "Computed tomography scan radiation and brain cancer incidence". Neuro-Oncology. 25 (7): 1368–1376. doi:10.1093/neuonc/noad012. ISSN 1522-8517. PMC 10326490. PMID 36638155. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  21. ^ Smoll, Nicolas R.; Brady, Zoe; Scurrah, Katrina; Mathews, John D. (2016). "Exposure to ionizing radiation and brain cancer incidence: The Life Span Study cohort". Cancer Epidemiology. 42: 60–65. doi:10.1016/j.canep.2016.03.006. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  22. ^ Ohgaki, Hiroko; Kleihues, Paul (ngày 1 tháng 6 năm 2005). "Population-Based Studies on Incidence, Survival Rates, and Genetic Alterations in Astrocytic and Oligodendroglial Gliomas". Journal of Neuropathology & Experimental Neurology. Quyển 64 số 6. tr. 479–489. doi:10.1093/jnen/64.6.479. ISSN 0022-3069.
  23. ^ Vilchez, Regis A.; Kozinetz, Claudia A.; Arrington, Amy S.; Madden, Charles R.; Butel, Janet S. (ngày 1 tháng 6 năm 2003). "Simian virus 40 in human cancers". The American Journal of Medicine (bằng tiếng English). Quyển 114 số 8. tr. 675–684. doi:10.1016/S0002-9343(03)00087-1. ISSN 0002-9343.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  24. ^ Crawford, John R.; Santi, Maria R.; Thorarinsdottir, Halldora K.; Cornelison, Robert; Rushing, Elisabeth J.; Zhang, Huizhen; Yao, Karen; Jacobson, Steven; MacDonald, Tobey J. (ngày 1 tháng 9 năm 2009). "Detection of human herpesvirus-6 variants in pediatric brain tumors: Association of viral antigen in low grade gliomas". Journal of Clinical Virology. Quyển 46 số 1. tr. 37–42. doi:10.1016/j.jcv.2009.05.011. ISSN 1386-6532. PMC 2749001. PMID 19505845.
  25. ^ Chi, Jing; Gu, Bin; Zhang, Chun; Peng, Guangyong; Zhou, Feng; Chen, Yun; Zhang, Guofeng; Guo, Yidi; Guo, Dandan (ngày 1 tháng 11 năm 2012). "Human Herpesvirus 6 Latent Infection in Patients With Glioma". The Journal of Infectious Diseases. Quyển 206 số 9. tr. 1394–1398. doi:10.1093/infdis/jis513. ISSN 0022-1899.
  26. ^ McFaline-Figueroa, J. Ricardo; Wen, Patrick Y. (ngày 23 tháng 2 năm 2017). "The Viral Connection to Glioblastoma". Current Infectious Disease Reports (bằng tiếng Anh). Quyển 19 số 2. tr. 5. doi:10.1007/s11908-017-0563-z. ISSN 1534-3146.
  27. ^ El Baba, Ranim; Pasquereau, Sébastien; Haidar Ahmad, Sandy; Monnien, Franck; Abad, Marine; Bibeau, Frédéric; Herbein, Georges (tháng 6 năm 2023). "EZH2-Myc driven glioblastoma elicited by cytomegalovirus infection of human astrocytes". Oncogene (bằng tiếng Anh). Quyển 42 số 24. tr. 2031–2045. doi:10.1038/s41388-023-02709-3. ISSN 1476-5594. PMC 10256614. PMID 37147437.
  28. ^ Guyon, Joris; Haidar Ahmad, Sandy; El Baba, Ranim; Le Quang, Mégane; Bikfalvi, Andreas; Daubon, Thomas; Herbein, Georges (tháng 7 năm 2024). "Generation of glioblastoma in mice engrafted with human cytomegalovirus-infected astrocytes". Cancer Gene Therapy (bằng tiếng Anh). Quyển 31 số 7. tr. 1070–1080. doi:10.1038/s41417-024-00767-7. ISSN 1476-5500. PMC 11257955. PMID 38553638.
  29. ^ Huncharek, Michael; Kupelnick, Bruce; Wheeler, Lamar (2003). "Dietary Cured Meat and the Risk of Adult Glioma: A Meta-Analysis of Nine Observational Studies". Journal of Environmental Pathology, Toxicology and Oncology (bằng tiếng English). Quyển 22 số 2. doi:10.1615/JEnvPathToxOncol.v22.i2.60. ISSN 0731-8898.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  30. ^ Kan, Peter; Simonsen, Sara E.; Lyon, Joseph L.; Kestle, John R. W. (ngày 1 tháng 1 năm 2008). "Cellular phone use and brain tumor: a meta-analysis". Journal of Neuro-Oncology (bằng tiếng Anh). Quyển 86 số 1. tr. 71–78. doi:10.1007/s11060-007-9432-1. ISSN 1573-7373.
  31. ^ Hardell, Lennart; Carlberg, Michael; Hansson Mild, Kjell (ngày 1 tháng 8 năm 2009). "Epidemiological evidence for an association between use of wireless phones and tumor diseases". Pathophysiology. Quyển 16 số 2. tr. 113–122. doi:10.1016/j.pathophys.2009.01.003. ISSN 0928-4680.
  32. ^ Zong, Hui; Verhaak, Roel G. W.; Canoll, Peter (tháng 5 năm 2012). "The cellular origin for malignant glioma and prospects for clinical advancements". Expert Review of Molecular Diagnostics. Quyển 12 số 4. tr. 383–394. doi:10.1586/erm.12.30. ISSN 1744-8352. PMC 3368274. PMID 22616703.
  33. ^ Zong, Hui; Parada, Luis F.; Baker, Suzanne J. (ngày 29 tháng 1 năm 2015). "Cell of origin for malignant gliomas and its implication in therapeutic development". Cold Spring Harbor Perspectives in Biology. Quyển 7 số 5. tr. a020610. doi:10.1101/cshperspect.a020610. ISSN 1943-0264. PMC 4448618. PMID 25635044.
  34. ^ Seker-Polat, Fidan; Pinarbasi Degirmenci, Nareg; Solaroglu, Ihsan; Bagci-Onder, Tugba (ngày 17 tháng 1 năm 2022). "Tumor Cell Infiltration into the Brain in Glioblastoma: From Mechanisms to Clinical Perspectives". Cancers (bằng tiếng Anh). Quyển 14 số 2. tr. 443. doi:10.3390/cancers14020443. ISSN 2072-6694. PMC 8773542. PMID 35053605.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  35. ^ Kazi, Aamish Z.; Joshi, Priscilla C.; Kelkar, Abhimanyu B.; Mahajan, Mangal S.; Ghawate, Amit S. (tháng 10 năm 2013). "MRI evaluation of pathologies affecting the corpus callosum: A pictorial essay". Indian Journal of Radiology and Imaging (bằng tiếng Anh). Quyển 23 số 04. tr. 321–332. doi:10.4103/0971-3026.125604. ISSN 0971-3026. PMC 3932574. PMID 24604936.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  36. ^ Kleihues, P.; Burger, P. C.; Scheithauer, B. W. (1993), Kleihues, P.; Burger, P. C.; Scheithauer, B. W. (biên tập), "Introduction", Histological Typing of Tumours of the Central Nervous System (bằng tiếng Anh), Berlin, Heidelberg: Springer, tr. 1–3, doi:10.1007/978-3-642-84988-6_1, ISBN 978-3-642-84988-6, truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025
  37. ^ Louis DN, và đồng nghiệp (tháng 8 năm 2007). "The 2007 WHO classification...". Acta Neuropathologica.
  38. ^ Louis, David N.; Perry, Arie; Reifenberger, Guido; von Deimling, Andreas; Figarella-Branger, Dominique; Cavenee, Webster K.; Ohgaki, Hiroko; Wiestler, Otmar D.; Kleihues, Paul (ngày 1 tháng 6 năm 2016). "The 2016 World Health Organization Classification of Tumors of the Central Nervous System: a summary". Acta Neuropathologica (bằng tiếng Anh). Quyển 131 số 6. tr. 803–820. doi:10.1007/s00401-016-1545-1. ISSN 1432-0533.
  39. ^ Louis, David N; Perry, Arie; Wesseling, Pieter; Brat, Daniel J; Cree, Ian A; Figarella-Branger, Dominique; Hawkins, Cynthia; Ng, H K; Pfister, Stefan M (ngày 1 tháng 8 năm 2021). "The 2021 WHO Classification of Tumors of the Central Nervous System: a summary". Neuro-Oncology. Quyển 23 số 8. tr. 1231–1251. doi:10.1093/neuonc/noab106. ISSN 1522-8517. PMC 8328013. PMID 34185076.
  40. ^ Louis, David N; Perry, Arie; Wesseling, Pieter; Brat, Daniel J; Cree, Ian A; Figarella-Branger, Dominique; Hawkins, Cynthia; Ng, H K; Pfister, Stefan M (ngày 1 tháng 8 năm 2021). "The 2021 WHO Classification of Tumors of the Central Nervous System: a summary". Neuro-Oncology. Quyển 23 số 8. tr. 1231–1251. doi:10.1093/neuonc/noab106. ISSN 1522-8517. PMC 8328013. PMID 34185076.
  41. ^ a b Wang, Qianghu; Hu, Baoli; Hu, Xin; Kim, Hoon; Squatrito, Massimo; Scarpace, Lisa; deCarvalho, Ana C.; Lyu, Sali; Li, Pengping (ngày 10 tháng 7 năm 2017). "Tumor Evolution of Glioma-Intrinsic Gene Expression Subtypes Associates with Immunological Changes in the Microenvironment". Cancer Cell (bằng tiếng English). Quyển 32 số 1. tr. 42–56.e6. doi:10.1016/j.ccell.2017.06.003. ISSN 1535-6108. PMC 5599156. PMID 28697342.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  42. ^ Hayden, Erika Check (ngày 1 tháng 1 năm 2010). "Genomics boosts brain-cancer work". Nature (bằng tiếng Anh). Quyển 463 số 7279. tr. 278–278. doi:10.1038/463278a. ISSN 1476-4687.
  43. ^ Sasmita, Andrew Octavian; Wong, Ying Pei; Ling, Anna Pick Kiong (2018). "Biomarkers and therapeutic advances in glioblastoma multiforme". Asia-Pacific Journal of Clinical Oncology (bằng tiếng Anh). Quyển 14 số 1. tr. 40–51. doi:10.1111/ajco.12756. ISSN 1743-7563.
  44. ^ a b Verhaak, Roel G. W.; Hoadley, Katherine A.; Purdom, Elizabeth; Wang, Victoria; Qi, Yuan; Wilkerson, Matthew D.; Miller, C. Ryan; Ding, Li; Golub, Todd (ngày 19 tháng 1 năm 2010). "Integrated Genomic Analysis Identifies Clinically Relevant Subtypes of Glioblastoma Characterized by Abnormalities in PDGFRA, IDH1, EGFR, and NF1". Cancer Cell (bằng tiếng English). Quyển 17 số 1. tr. 98–110. doi:10.1016/j.ccr.2009.12.020. ISSN 1535-6108. PMC 2818769. PMID 20129251.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  45. ^ Kuehn, Bridget M. (ngày 10 tháng 3 năm 2010). "Genomics Illuminates a Deadly Brain Cancer". JAMA. Quyển 303 số 10. tr. 925–927. doi:10.1001/jama.2010.236. ISSN 0098-7484.
  46. ^ Bleeker FE, và đồng nghiệp (tháng 9 năm 2014). "Mutational profiling of kinases in glioblastoma". BMC Cancer.
  47. ^ a b Molenaar, Remco J.; Verbaan, Dagmar; Lamba, Simona; Zanon, Carlo; Jeuken, Judith W.M.; Boots-Sprenger, Sandra H.E.; Wesseling, Pieter; Hulsebos, Theo J.M.; Troost, Dirk (ngày 1 tháng 9 năm 2014). "The combination of IDH1 mutations and MGMT methylation status predicts survival in glioblastoma better than either IDH1 or MGMT alone". Neuro-Oncology. Quyển 16 số 9. tr. 1263–1273. doi:10.1093/neuonc/nou005. ISSN 1522-8517. PMC 4136888. PMID 24510240.
  48. ^ a b Molenaar, Remco J.; Radivoyevitch, Tomas; Maciejewski, Jaroslaw P.; van Noorden, Cornelis J. F.; Bleeker, Fonnet E. (ngày 1 tháng 12 năm 2014). "The driver and passenger effects of isocitrate dehydrogenase 1 and 2 mutations in oncogenesis and survival prolongation". Biochimica et Biophysica Acta (BBA) - Reviews on Cancer. Quyển 1846 số 2. tr. 326–341. doi:10.1016/j.bbcan.2014.05.004. ISSN 0304-419X.
  49. ^ Hegi, Monika E.; Diserens, Annie-Claire; Gorlia, Thierry; Hamou, Marie-France; Tribolet, Nicolas de; Weller, Michael; Kros, Johan M.; Hainfellner, Johannes A.; Mason, Warren (ngày 10 tháng 3 năm 2005). "MGMT Gene Silencing and Benefit from Temozolomide in Glioblastoma". New England Journal of Medicine. Quyển 352 số 10. tr. 997–1003. doi:10.1056/NEJMoa043331. ISSN 0028-4793.
  50. ^ Furnari, Frank B.; Fenton, Tim; Bachoo, Robert M.; Mukasa, Akitake; Stommel, Jayne M.; Stegh, Alexander; Hahn, William C.; Ligon, Keith L.; Louis, David N. (ngày 1 tháng 11 năm 2007). "Malignant astrocytic glioma: genetics, biology, and paths to treatment". Genes & Development (bằng tiếng Anh). Quyển 21 số 21. tr. 2683–2710. doi:10.1101/gad.1596707. ISSN 0890-9369. PMID 17974913.
  51. ^ Greenberg, Mark S. (2016). Handbook of Neurosurgery (bằng tiếng Anh). Georg Thieme Verlag. doi:10.1055/b-006-149702. ISBN 978-1-62623-242-6.
  52. ^ Murat, Anastasia; Migliavacca, Eugenia; Gorlia, Thierry; Lambiv, Wanyu L.; Shay, Tal; Hamou, Marie-France; de Tribolet, Nicolas; Regli, Luca; Wick, Wolfgang (ngày 20 tháng 6 năm 2008). "Stem Cell–Related "Self-Renewal" Signature and High Epidermal Growth Factor Receptor Expression Associated With Resistance to Concomitant Chemoradiotherapy in Glioblastoma". Journal of Clinical Oncology. Quyển 26 số 18. tr. 3015–3024. doi:10.1200/JCO.2007.15.7164. ISSN 0732-183X.
  53. ^ Gilbertson, Richard J.; Rich, Jeremy N. (tháng 10 năm 2007). "Making a tumour's bed: glioblastoma stem cells and the vascular niche". Nature Reviews Cancer (bằng tiếng Anh). Quyển 7 số 10. tr. 733–736. doi:10.1038/nrc2246. ISSN 1474-1768.
  54. ^ Brown, Daniel V.; Stylli, Stanley S.; Kaye, Andrew H.; Mantamadiotis, Theo (2019), Birbrair, Alexander (biên tập), "Multilayered Heterogeneity of Glioblastoma Stem Cells: Biological and Clinical Significance", Stem Cells Heterogeneity in Cancer (bằng tiếng Anh), Cham: Springer International Publishing, tr. 1–21, doi:10.1007/978-3-030-14366-4_1, ISBN 978-3-030-14366-4, truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025
  55. ^ Annovazzi, Laura; Mellai, Marta; Schiffer, Davide (ngày 26 tháng 5 năm 2017). "Chemotherapeutic Drugs: DNA Damage and Repair in Glioblastoma". Cancers (bằng tiếng Anh). Quyển 9 số 6. tr. 57. doi:10.3390/cancers9060057. ISSN 2072-6694. PMC 5483876. PMID 28587121.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  56. ^ Molenaar, Remco J. (2011). "Ion Channels in Glioblastoma". International Scholarly Research Notices (bằng tiếng Anh). Quyển 2011 số 1. tr. 590249. doi:10.5402/2011/590249. ISSN 2356-7872. PMC 3263536. PMID 22389824.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  57. ^ Møller, Heidi G.; Rasmussen, Andreas P.; Andersen, Hjalte H.; Johnsen, Kasper B.; Henriksen, Michael; Duroux, Meg (ngày 1 tháng 2 năm 2013). "A Systematic Review of MicroRNA in Glioblastoma Multiforme: Micro-modulators in the Mesenchymal Mode of Migration and Invasion". Molecular Neurobiology (bằng tiếng Anh). Quyển 47 số 1. tr. 131–144. doi:10.1007/s12035-012-8349-7. ISSN 1559-1182. PMC 3538124. PMID 23054677.
  58. ^ Godlewski, Jakub; Nowicki, Michal O.; Bronisz, Agnieszka; Nuovo, Gerard; Palatini, Jeff; Lay, Michael De; Brocklyn, James Van; Ostrowski, Michael C.; Chiocca, E. Antonio (ngày 12 tháng 3 năm 2010). "MicroRNA-451 Regulates LKB1/AMPK Signaling and Allows Adaptation to Metabolic Stress in Glioma Cells". Molecular Cell (bằng tiếng English). Quyển 37 số 5. tr. 620–632. doi:10.1016/j.molcel.2010.02.018. ISSN 1097-2765. PMC 3125113. PMID 20227367.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  59. ^ Bhaskaran, Vivek; Nowicki, Michal O.; Idriss, Mahmoud; Jimenez, Miguel A.; Lugli, Gianmarco; Hayes, Josie L.; Mahmoud, Ahmad Bakur; Zane, Rachel E.; Passaro, Carmela (ngày 25 tháng 1 năm 2019). "The functional synergism of microRNA clustering provides therapeutically relevant epigenetic interference in glioblastoma". Nature Communications (bằng tiếng Anh). Quyển 10 số 1. tr. 442. doi:10.1038/s41467-019-08390-z. ISSN 2041-1723. PMC 6347618. PMID 30683859.
  60. ^ a b Dimberg, Anna (ngày 17 tháng 11 năm 2014). "The glioblastoma vasculature as a target for cancer therapy". Biochemical Society Transactions. Quyển 42 số 6. tr. 1647–1652. doi:10.1042/BST20140278. ISSN 0300-5127.
  61. ^ Jain, Rakesh K. (ngày 10 tháng 6 năm 2013). "Normalizing Tumor Microenvironment to Treat Cancer: Bench to Bedside to Biomarkers". Journal of Clinical Oncology. Quyển 31 số 17. tr. 2205–2218. doi:10.1200/JCO.2012.46.3653. ISSN 0732-183X. PMC 3731977. PMID 23669226.
  62. ^ a b c d e Weller, Michael; van den Bent, Martin; Preusser, Matthias; Le Rhun, Emilie; Tonn, Jörg C.; Minniti, Giuseppe; Bendszus, Martin; Balana, Carmen; Chinot, Olivier (tháng 3 năm 2021). "EANO guidelines on the diagnosis and treatment of diffuse gliomas of adulthood". Nature Reviews Clinical Oncology (bằng tiếng Anh). Quyển 18 số 3. tr. 170–186. doi:10.1038/s41571-020-00447-z. ISSN 1759-4782. PMC 7904519. PMID 33293629.
  63. ^ Smirniotopoulos, James G.; Murphy, Frances M.; Rushing, Elizabeth J.; Rees, John H.; Schroeder, Jason W. (tháng 3 năm 2007). "Patterns of Contrast Enhancement in the Brain and Meninges". RadioGraphics. Quyển 27 số 2. tr. 525–551. doi:10.1148/rg.272065155. ISSN 0271-5333.
  64. ^ Eibl, Robert H.; Schneemann, Markus (ngày 25 tháng 2 năm 2023). "Liquid biopsy and glioblastoma". Exploration of Targeted Anti-tumor Therapy (bằng tiếng Anh). Quyển 4 số 1. tr. 28–41. doi:10.37349/etat.2023.00121. ISSN 2692-3114. PMC 10017188. PMID 36937320.
  65. ^ Mo, Huan; Magaki, Shino; Deisch, Jeremy K; Raghavan, Ravi (ngày 1 tháng 9 năm 2022). "Isocitrate Dehydrogenase Mutations Are Associated with Different Expression and DNA Methylation Patterns of OLIG2 in Adult Gliomas". Journal of Neuropathology & Experimental Neurology. Quyển 81 số 9. tr. 707–716. doi:10.1093/jnen/nlac059. ISSN 0022-3069. PMC 9614687. PMID 35856894.
  66. ^ "Gliomas Prevention | OSUCCC – James". The James - OSUCCC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
  67. ^ Lawson, H. Christopher; Sampath, Prakash; Bohan, Eileen; Park, Michael C.; Hussain, Namath; Olivi, Alessandro; Weingart, Jon; Kleinberg, Lawrence; Brem, Henry (ngày 1 tháng 5 năm 2007). "Interstitial chemotherapy for malignant gliomas: the Johns Hopkins experience". Journal of Neuro-Oncology (bằng tiếng Anh). Quyển 83 số 1. tr. 61–70. doi:10.1007/s11060-006-9303-1. ISSN 1573-7373. PMC 4086528. PMID 17171441.
  68. ^ Stevens, Glen H. J. (ngày 1 tháng 7 năm 2006). "Antiepileptic therapy in patients with central nervous system malignancies". Current Neurology and Neuroscience Reports (bằng tiếng Anh). Quyển 6 số 4. tr. 311–318. doi:10.1007/s11910-006-0024-9. ISSN 1534-6293.
  69. ^ Das, Sunit; Marsden, Philip A. (ngày 17 tháng 10 năm 2013). "Angiogenesis in Glioblastoma". New England Journal of Medicine. Quyển 369 số 16. tr. 1561–1563. doi:10.1056/NEJMcibr1309402. ISSN 0028-4793. PMC 5378489. PMID 24131182.
  70. ^ thejns.org. doi:10.3171/jns.2001.95.2.0190 https://thejns.org/view/journals/j-neurosurg/95/2/article-p190.xml. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  71. ^ Stummer, Walter; Pichlmeier, Uwe; Meinel, Thomas; Wiestler, Otmar Dieter; Zanella, Friedhelm; Reulen, Hans-Jürgen (2006). "Fluorescence-guided surgery with 5-aminolevulinic acid for resection of malignant glioma: a randomised controlled multicentre phase III trial". The Lancet Oncology. 7 (5): 392–401. doi:10.1016/S1470-2045(06)70665-9. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  72. ^ Schatlo, Bawarjan; Fandino, Javier; Smoll, Nicolas R.; Wetzel, Oliver; Remonda, Luca; Marbacher, Serge; Perrig, Wolfgang; Landolt, Hans; Fathi, Ali-Reza (2015). "Outcomes after combined use of intraoperative MRI and 5-aminolevulinic acid in high-grade glioma surgery" (PDF). Neuro-Oncology. 17 (12): 1560–1567. doi:10.1093/neuonc/nov049. ISSN 1522-8517. PMC 4633924. PMID 25858636. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  73. ^ Rominiyi, Ola; Collis, Spencer J. (2022). "DDRugging glioblastoma: understanding and targeting the DNA damage response to improve future therapies". Molecular Oncology. 16 (1): 11–41. doi:10.1002/1878-0261.13020. ISSN 1574-7891. PMC 8732357. PMID 34036721. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  74. ^ Sinha, Rohitashwa; Stephenson, Jade Marie; Price, Stephen John (ngày 23 tháng 4 năm 2019). "A systematic review of cognitive function in patients with glioblastoma undergoing surgery" (PDF). Neuro-Oncology Practice. doi:10.1093/nop/npz018. ISSN 2054-2577. PMC 7318858. PMID 32626582. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  75. ^ a b c JC, Pendergrass; SD, Targum; JE, Harrison. "Cognitive Impairment Associated with Cancer: A Brief Review". Innovations in clinical neuroscience. 15 (1–2). Innov Clin Neurosci. ISSN 2158-8333. PMID 29497579. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  76. ^ Janelsins, Michelle C.; Kesler, Shelli R.; Ahles, Tim A.; Morrow, Gary R. (2014). "Prevalence, mechanisms, and management of cancer-related cognitive impairment". International Review of Psychiatry. 26 (1): 102–113. doi:10.3109/09540261.2013.864260. ISSN 0954-0261. PMC 4084673. PMID 24716504. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
  77. ^ a b Lange, M.; Joly, F.; Vardy, J.; Ahles, T.; Dubois, M.; Tron, L.; Winocur, G.; Ruiter, M. B. De; Castel, H. (ngày 1 tháng 12 năm 2019). "Cancer-related cognitive impairment: an update on state of the art, detection, and management strategies in cancer survivors". Annals of Oncology (bằng tiếng English). Quyển 30 số 12. tr. 1925–1940. doi:10.1093/annonc/mdz410. ISSN 0923-7534. PMC 8109411. PMID 31617564.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  78. ^ Biegler, Kelly A.; Chaoul, M. Alejandro; Cohen, Lorenzo (ngày 1 tháng 1 năm 2009). "Cancer, cognitive impairment, and meditation". Acta Oncologica (bằng tiếng Anh). Quyển 48 số 1. tr. 18–26. doi:10.1080/02841860802415535. ISSN 1651-226X.
  79. ^ thejns.org. doi:10.3171/jns.1978.49.3.0333 https://thejns.org/view/journals/j-neurosurg/49/3/article-p333.xml. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  80. ^ Showalter, Timothy N.; Andrel, Jocelyn; Andrews, David W.; Curran, Walter J.; Daskalakis, Constantine; Werner-Wasik, Maria (ngày 1 tháng 11 năm 2007). "Multifocal Glioblastoma Multiforme: Prognostic Factors and Patterns of Progression". International Journal of Radiation Oncology, Biology, Physics (bằng tiếng English). Quyển 69 số 3. tr. 820–824. doi:10.1016/j.ijrobp.2007.03.045. ISSN 0360-3016. PMID 17499453.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  81. ^ Fulton, D. S.; Urtasun, R. C.; Scott-Brown, I.; Johnson, E. S.; Mielke, B.; Curry, B.; Huyser-Wierenga, D.; Hanson, J.; Feldstein, M. (ngày 1 tháng 9 năm 1992). "Increasing radiation dose intensity using hyperfractionation in patients with malignant glioma". Journal of Neuro-Oncology (bằng tiếng Anh). Quyển 14 số 1. tr. 63–72. doi:10.1007/BF00170946. ISSN 1573-7373.
  82. ^ Sheehan, Jason P; and Park, Deric M (ngày 9 tháng 11 năm 2010). "Improving the Radiosensitivity of Radioresistant and Hypoxic Glioblastoma". Future Oncology. Quyển 6 số 10. tr. 1591–1601. doi:10.2217/fon.10.123. ISSN 1479-6694. PMID 21062158. {{Chú thích tạp chí}}: |first2= thiếu |last2= (trợ giúp); |first3= thiếu |last3= (trợ giúp); |first4= thiếu |last4= (trợ giúp); |first5= thiếu |last5= (trợ giúp)Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  83. ^ Diffusion Pharmaceuticals Inc (ngày 16 tháng 6 năm 2017). "Open-label Phase 1/2 (Safety Lead-in) Study of Trans Sodium Crocetinate (TSC) With Concomitant Treatment of Fractionated Radiation Therapy and Temozolomide in Newly Diagnosed Glioblastoma (GBM) Patients to Evaluate Safety and Efficacy". {{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần |magazine= (trợ giúp)

Liên kết ngoài