Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Ngoại ngữ”
nKhông có tóm lược sửa đổi Thẻ: Đã bị lùi lại | n Thêm thông tin về tình hình dạy ngoại ngữ ở Việt Nam trong 20 năm qua Thẻ: Đã bị lùi lại Thêm liên kết dưới Liên kết ngoài hoặc Tham khảo Soạn thảo trực quan | ||
| Dòng 15: | Dòng 15: | ||
Ở Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển, hầu hết người dân đều có thể giao tiếp tốt bằng tiếng Anh, một ngoại ngữ của họ, không kém người bản xứ. Có được điều này, không chỉ là vì ba ngôn ngữ [[Nhóm ngôn ngữ German phía Bắc|Bắc Âu]] ở ba nước đó cùng chung [[ngữ tộc German]] với nhau và với tiếng Anh, đặc biệt là về từ vựng và ngữ pháp, mà còn là vì họ có hệ thống các ý tưởng chiến lược được hoạch định trong văn bản nhà nước "Kế hoạch hành động cho chính sách đa ngôn ngữ". Hơn 50 ngoại ngữ được giảng dạy tại các cơ sở đại học của Thụy Điển <ref>{{Chú thích web |url=http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=286136&ChannelID=119 |ngày truy cập=2009-02-14 |tựa đề=Ngoại ngữ ở Thụy Điển |archive-date=2008-12-09 |archive-url=https://web.archive.org/web/20081209100233/http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=286136&ChannelID=119 |url-status=dead }}</ref> | Ở Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển, hầu hết người dân đều có thể giao tiếp tốt bằng tiếng Anh, một ngoại ngữ của họ, không kém người bản xứ. Có được điều này, không chỉ là vì ba ngôn ngữ [[Nhóm ngôn ngữ German phía Bắc|Bắc Âu]] ở ba nước đó cùng chung [[ngữ tộc German]] với nhau và với tiếng Anh, đặc biệt là về từ vựng và ngữ pháp, mà còn là vì họ có hệ thống các ý tưởng chiến lược được hoạch định trong văn bản nhà nước "Kế hoạch hành động cho chính sách đa ngôn ngữ". Hơn 50 ngoại ngữ được giảng dạy tại các cơ sở đại học của Thụy Điển <ref>{{Chú thích web |url=http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=286136&ChannelID=119 |ngày truy cập=2009-02-14 |tựa đề=Ngoại ngữ ở Thụy Điển |archive-date=2008-12-09 |archive-url=https://web.archive.org/web/20081209100233/http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=286136&ChannelID=119 |url-status=dead }}</ref> | ||
== Dạy Ngoại ngữ == | |||
Ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ tại Việt Nam đã trải qua sự phát triển đáng kể, phản ánh nhu cầu ngày càng tăng của người dân đối với việc học ngoại ngữ. | |||
'''Giai đoạn 2005-2015:''' | |||
Trong giai đoạn này, cùng với quá trình hội nhập quốc tế và sự mở rộng của nền kinh tế, nhu cầu học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đã tăng mạnh. Nhiều trung tâm ngoại ngữ bắt đầu xuất hiện tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM, đáp ứng nhu cầu của học sinh, sinh viên và người đi làm. | |||
Kể từ nam 2007, việc hoạt động trung tâm ngoại ngữ ở Việt Nam trở thành loại hình kinh doanh bắt buộc phải xin giấy phép con, điều này giúp cải thiện chất lượng chuyên môn của các trung tâm đào tạo ngoại ngữ tại Việt Nam.<ref>{{Chú thích web|url=https://luatduongtri.vn/doanh-nghiep/giay-phep-trung-tam-ngoai-ngu/|tiêu đề=Giấy phép Trung Tâm Ngoại Ngữ|url-status=live}}</ref> | |||
'''Giai đoạn 2015-2025:''' | |||
Từ năm 2015 trở đi, số lượng trung tâm đào tạo ngoại ngữ tiếp tục gia tăng và mở rộng ra các tỉnh thành khác. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự xuất hiện của các khóa học trực tuyến, giúp người học tiếp cận dễ dàng hơn với các chương trình đào tạo chất lượng. Ngoài tiếng Anh, các ngôn ngữ khác như tiếng Hàn, tiếng Nhật và tiếng Trung cũng trở nên phổ biến hơn, phản ánh mối quan hệ kinh tế và văn hóa ngày càng sâu sắc giữa Việt Nam và các quốc gia này. | |||
'''Yếu tố ảnh hưởng:''' | |||
* '''Kinh tế:''' Sự phát triển kinh tế và đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực thành thạo ngoại ngữ. | |||
* '''Giáo dục:''' Chính phủ đã đưa ngoại ngữ vào chương trình giáo dục quốc gia, khuyến khích việc học ngoại ngữ từ bậc tiểu học. | |||
* '''Công nghệ:''' Sự phát triển của internet và công nghệ số đã tạo điều kiện cho việc học ngoại ngữ trực tuyến, mở rộng phạm vi tiếp cận cho người học. | |||
==Chú thích== | ==Chú thích== | ||
Phiên bản lúc 04:33, ngày 18 tháng 3 năm 2025
Bài này không có nguồn tham khảo nào. |
Ngoại ngữ hay Tiếng nước ngoài được hiểu là ngôn ngữ từ nước ngoài được sử dụng trong nước. Ở Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia duy nhất, không có khái niệm ngôn ngữ thứ hai như ở những nước phương Tây.
Ngoại ngữ không được nhầm lẫn với ngôn ngữ và chữ viết. Ví dụ, tiếng Việt viết bằng chữ Hán với chữ Nôm hay âm Hán Việt, từ Hán Việt không phải là ngoại ngữ hay tiếng nước ngoài, nhưng tiếng Trung, cũng viết bằng chữ Hán, là ngoại ngữ.
Ngoại ngữ ở Việt Nam
Tiếng Anh là ngoại ngữ phổ biến nhất ở Việt Nam. Các ngoại ngữ khác cũng tương đối phổ biến ở Việt Nam hiện nay là tiếng Nhật, tiếng Trung (thường ám chỉ tới Hán ngữ tiêu chuẩn, còn các phương ngữ tiếng Trung khác như tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến, v.v. hay được coi là ngôn ngữ dân tộc thiểu số cho người Hoa, giống như tiếng Khmer cho người Khmer).
Tiếng Pháp, Tiếng Nga và tiếng Đức khá ít phổ biến nhưng cũng được giảng dạy trong một số trường Phổ thông ở Việt Nam.[1]
Tiếng Triều Tiên (hay tiếng Hàn) mặc dù tương đối phổ biến (do ảnh hưởng của làn sóng văn hoá Hàn Quốc và rất nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đang đầu tư nhiều vào Việt Nam, điển hình là Samsung), nhưng phải đến năm 2021 mới được Bộ Giáo dục - Đào tạo đưa vào Kỳ thi Trung học Phổ thông Quốc gia và được xét điểm học bạ trong tuyển sinh Đại học cho các khối D và A1.[2][3]
Đối tượng biết ngoại ngữ
Những người giỏi về ngoại ngữ hiện nay chủ yếu gồm các độ tuổi như là Học sinh, Sinh viên, Giảng viên, Những người đã tốt nghiệp Cao đẳng/Đại học, Tu nghiệp sinh nước ngoài về nước. Phần còn lại chiếm tỷ lệ không cao, đặc biệt là tầm tuổi trở lên 50.[cần dẫn nguồn] Nhìn chung, tỷ lệ người Việt có thể giao tiếp được với người nước ngoài còn khá thấp, do những yếu tố khách quan như 80% dân số ở nông thôn[cần dẫn nguồn], làm nông nghiệp, và ít được học các ngoại ngữ, giao tiếp với người nước ngoài.
Ở Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển, hầu hết người dân đều có thể giao tiếp tốt bằng tiếng Anh, một ngoại ngữ của họ, không kém người bản xứ. Có được điều này, không chỉ là vì ba ngôn ngữ Bắc Âu ở ba nước đó cùng chung ngữ tộc German với nhau và với tiếng Anh, đặc biệt là về từ vựng và ngữ pháp, mà còn là vì họ có hệ thống các ý tưởng chiến lược được hoạch định trong văn bản nhà nước "Kế hoạch hành động cho chính sách đa ngôn ngữ". Hơn 50 ngoại ngữ được giảng dạy tại các cơ sở đại học của Thụy Điển [4]
Dạy Ngoại ngữ
Ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua, các trung tâm đào tạo ngoại ngữ tại Việt Nam đã trải qua sự phát triển đáng kể, phản ánh nhu cầu ngày càng tăng của người dân đối với việc học ngoại ngữ.
Giai đoạn 2005-2015:
Trong giai đoạn này, cùng với quá trình hội nhập quốc tế và sự mở rộng của nền kinh tế, nhu cầu học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đã tăng mạnh. Nhiều trung tâm ngoại ngữ bắt đầu xuất hiện tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM, đáp ứng nhu cầu của học sinh, sinh viên và người đi làm.
Kể từ nam 2007, việc hoạt động trung tâm ngoại ngữ ở Việt Nam trở thành loại hình kinh doanh bắt buộc phải xin giấy phép con, điều này giúp cải thiện chất lượng chuyên môn của các trung tâm đào tạo ngoại ngữ tại Việt Nam.[5]
Giai đoạn 2015-2025:
Từ năm 2015 trở đi, số lượng trung tâm đào tạo ngoại ngữ tiếp tục gia tăng và mở rộng ra các tỉnh thành khác. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự xuất hiện của các khóa học trực tuyến, giúp người học tiếp cận dễ dàng hơn với các chương trình đào tạo chất lượng. Ngoài tiếng Anh, các ngôn ngữ khác như tiếng Hàn, tiếng Nhật và tiếng Trung cũng trở nên phổ biến hơn, phản ánh mối quan hệ kinh tế và văn hóa ngày càng sâu sắc giữa Việt Nam và các quốc gia này.
Yếu tố ảnh hưởng:
- Kinh tế: Sự phát triển kinh tế và đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực thành thạo ngoại ngữ.
- Giáo dục: Chính phủ đã đưa ngoại ngữ vào chương trình giáo dục quốc gia, khuyến khích việc học ngoại ngữ từ bậc tiểu học.
- Công nghệ: Sự phát triển của internet và công nghệ số đã tạo điều kiện cho việc học ngoại ngữ trực tuyến, mở rộng phạm vi tiếp cận cho người học.
Chú thích
- ^ "Tiếng Nga, tiếng Trung đang được dạy ở Việt Nam như thế nào?". Vietnamnet. ngày 1 tháng 11 năm 2016.
{{Chú thích web}}: Chú thích có tham số trống không rõ:|url hỏng=(trợ giúp) - ^ "25 em suýt lỡ thi tốt nghiệp THPT vì tiếng Hàn: Bộ GD&ĐT "quyết" số phận". Dân trí. ngày 30 tháng 6 năm 2020.
{{Chú thích web}}: Chú thích có tham số trống không rõ:|url hỏng=(trợ giúp) - ^ "Tiếng Hàn trở thành môn thi tốt nghiệp THPT". VnExpress. ngày 17 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Ngoại ngữ ở Thụy Điển". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2009.
- ^ "Giấy phép Trung Tâm Ngoại Ngữ".