Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Thành viên:Trangiabao1881”
←Trang mới: “Biến loạn Ili và sự thành lập của Cộng Hòa Đông Turkestan 1/ Sự thành lập của Cộng Hòa Đông Turkestan Cộng Hòa Đông Turkestan là một thuật ngữ dùng để chỉ một quốc gia ly khai và tồn tại ở khu tự trị Tân Cuơng(Trung Quốc), trước khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa xác lập vào năm 1949. Lúc ấy nhiều nước đã lên tiếng cáo buộc Trung Quốc “diệt chủng người Du…” Thẻ: Soạn thảo trực quan Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao |
(Không có sự khác biệt) |
Phiên bản lúc 17:50, ngày 7 tháng 3 năm 2025
Biến loạn Ili và sự thành lập của Cộng Hòa Đông Turkestan
1/ Sự thành lập của Cộng Hòa Đông Turkestan
Cộng Hòa Đông Turkestan là một thuật ngữ dùng để chỉ một quốc gia ly khai và tồn tại ở khu tự trị Tân Cuơng(Trung Quốc), trước khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa xác lập vào năm 1949. Lúc ấy nhiều nước đã lên tiếng cáo buộc Trung Quốc “diệt chủng người Duy Ngô Nhĩ “ .Tuy nhiên , Trung Quốc đã bác bỏ và tố cáo “ Các quốc gia phuơng Tây hậu thuẫn cho khởi nghĩa Tân Cương đề bài Trung Quốc “
- Cộng Hòa Đông Turkestan đệ Nhất (1933-1934).
Vào những nãm 1930, do nhiều chính sách tàn bạo của người Hán đối với các dân tộc thiểu số(chủ yếu là người Duy Ngô Nhĩ) ở khu vực Tân Cuơng-Tây Tạng và sự mâu thuẫn về tôn giáo-sắc tộc trước đó .Một phần là do chính sách “ Thực dân hóa” của Trung Quốc (Chinese Colonizations) cũng là nguyên nhân chủ yếu cho việc kêu gọi “ Độc lập ở Tân Cuơng “ cùng với đó là người Duy Ngô Nhĩ đã khởi nghĩa ở Kumul ( Cáp Mật) , sau đí là cuộc khởi nghĩa tuyên bố độc lập cà thành lập Cộng Hòa Đông Turkestan(để phân biệt với các nước Tây Turkestan thuộc Liên Xô cũ), về sau gọi là Cộng Hòa Đông Turkestan đệ Nhất hay Cộng Hòa Hồi Giáo Đông Turkestan.[1]
Cộng Hòa Đông Turkestan đệ Nhất chủ yếu được thành lập bởi người Duy Ngô Nhĩ và những người theo Hồi Giáo cực đoan . Trong đó có sục tham gia cảu nhiều thành phán tổ chức Hồi Giáo cực đoan, theo khuynh hướng “ Hồi Giáo Hóa”. Mặc dù Cộng Hòa Đông Turkestan đuọc “cấu thành” bởi các yếu tố Hồi Giáo ,nhưng trên danh nghĩa thì vẫn là của người Duy Ngô Nhĩ. Nhưng đến năm 1934, do một số yếu tố trong việc mâu thuẫn nội bộ nên bị tiêu diệt , có thể kể đến ba yêu tố chính :
1/Sự can thiệp của quân đội Trung Quốc.
Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, dưới sự chỉ huy của Tỉnh trưởng Tân Cương và sự hỗ trợ quân đội của Stalin. Thịnh Thế Tài, đã tiến hành chiến dịch quân sự để đàn áp phong trào ly khai của người Duy Ngô Nhĩ và các dân tộc Hồi giáo. Với sự hỗ trợ từ Liên Xô, quân đội của Thịnh Thế Tài đã đánh bại lực lượng của Cộng hòa Đông Turkestan vào năm 1934. Và nằm dưới sự kiểm soát của Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc . Mặc dù vậy Thịnh Thế Tài vẫn thục hiện các vụ thảm sát chống lại người dân Đông Turkestan từ 1937-1941.
2/ Sự chia rẽ nội bộ.
Chính quyền non trẻ của Cộng hòa Đông Turkestan bị chia rẽ bởi các phe phái khác nhau, bao gồm lực lượng Hồi giáo bảo thủ và các nhóm thế tục, làm suy yếu khả năng chống lại sự tấn công từ bên ngoài.
3/Ảnh hưởng từ Liên Xô.
Liên Xô lúc đầu hỗ trợ một số phong trào ở Tân Cương nhưng sau đó lại giúp chính quyền Trung Quốc để bảo đảm ảnh hưởng của mình trong khu vực. Điều này góp phần vào sự sụp đổ của chính quyền Đông Turkestan.
2/Sự thành lập của Cộng Hòa Đông Turkestan đệ Nhị .
Năm 1944, quân Trung Hoa Dân Quốc đã kiểm soát vùng này với lực lượng 10 vạn quân . Cùng lúc này , Tổng Bí Thư Liên Xô Stalin đã thành công thắng lợi ở mặt trận phía Tây , bắt đầu “ âm mưu “ hậu thuẫn cho các dân tộc bị đàn áp trước đó : người Duy Ngô Nhĩ. Ngay từ đó , chính phủ Liên Xô đã cho các điệp viên do thám vùng biên giới Tân Cương - Trung Quốc . Riêng tại vùng thung lũng Ili chủ yếu là người Bạch Vệ Nga di lưu từ nội chiến Nga(1919-1922). Chính vì vậy , chính phụ Liên Xô sẽ “tận dụng” vùng này để tiến hành loạn.
3/Biến loạn Ili
Biến loạn Ili diễn ra từ Tháng 8/1944 dưới sự hậu thuẫn của Liên Xô tại ba huyện là Ili , Tacheng và Altay . Tuy nhiên trong quan điểm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc vì Tân Cương vẫn là thuộc phần lãnh thỗ nên họ gọi này là “ Cách mạng ba huyện Tân Cương”
Các cuộc nổi dậy vẫn tiếp tục và Cộng Hòa Đông Turkestan tuyên bố tại Ghujia vào tháng 12-1944.
“ Cuộc khởi nghĩa diễn ra khá thành công khi có cả không quân Liên Xô tham chiến, như trong trận sân bay Airambek quân Liên Xô đã ném bom hủy diệt lực lượng Quốc dân Đảng. Đến tháng 1/1945, toàn bộ khu vực Ili đã nằm dưới sự kiểm soát của quân Cộng hòa Đông Turkestan. Sau khi chiếm Ili, họ tiếp tục chia 3 hướng tiến về phía Đông đánh quân Tưởng Giới Thạch, như cách Đức chia 3 ngả đánh Liên Xô năm 1941.
Tuy vậy, khi đánh đến biên giới Thanh Hải-Tân Cương thì đà tiến của quân khởi nghĩa chặn lại. Quân lính người dân tộc Hồi của tướng Mã Bộ Phương và Mã Thành Tường trung thành với Quốc Dân Đảng đã mang quân chặn lính Duy Ngô Nhĩ ở biên giới Thanh Hải, nơi mà không quân Liên Xô khó với tới. Năm 1946, các cuộc tấn công của Liên Xô ở đây bị Quốc dân Đảng chặn thành công, gây thiệt hại nặng. Nhiều chỉ huy cấp tá của Liên Xô thiệt mạng. Phần lớn lực lượng Bạch Vệ Nga, chiến đấu với vũ khí từ thời Thế chiến 1, bị hy sinh gần hết trong năm 1946.
Cùng với đó, chính quyền người Duy Ngô Nhĩ thành lập ở Tân Cương cũng phạm những hành động bạo lực chống lại dân thường người Hán cũng như các dân tộc thiểu số khác như Tajik, Kyrgyz,… làm họ oán hận người Duy Ngô Nhĩ. Ở nhiều nhà tù, các tù nhân người Hán bị giết sạch. Thậm chí như ở Pháp sau Thế chiến 2, các phụ nữ người Duy Ngô Nhĩ lấy chồng Hán ở Tân Cương cũng bị trả thù. Điều này khiến ở nhiều nơi, người dân quay sang ủng hộ Quốc dân Đảng, trong đó có thủ phủ Urumqi của Tân Cương.
Đến năm 1946, sau khi Thế chiến 2 kết thúc, do các thỏa thuận của Liên Xô với Quốc Dân Đảng, 2 bên thống nhất ký một lệnh ngừng bắn ở Đông Turkestan. 2/3 lãnh thổ lúc này đã nằm trong tay Quân nổi dậy Ili, 1/3 còn lại bao gồm thủ phủ Urumqi vẫn bị Quốc Dân Đảng kiểm soát. Hiệp định buộc Quốc Dân Đảng phải thừa nhận quyền tự quyết của các dân tộc Tân Cương, hủy bỏ các đặc quyền người Hán, trả lại lãnh thổ Tân Cương bị cắt cho các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải,… Các hiệp định này đã giúp kết thúc cơ bản cuộc nổi dậy Ili, với thắng lợi chiến thuật giành cho quân khởi nghĩa Duy Ngô Nhĩ. “[2]
Các cuộc nổi dậy do Liên Xô hậu thuẫn khá giống với Mông Cổ với rất nhiều thuơng vong. Nhưng khi đến bàn đàm phán thì cả hai nước đều không chung kết cục.
Lúc đó , chính quyền Trung Hoa Dân Quốc sụp đổ, Tưởng Giơi Thạch buộc phải chạy sang Đài Loan.
“Đứng trước việc đó, Stalin đã chọn các giải quyết khác nhau cho 2 đứa con châu Á mà Liên Xô cùng đỡ đầu. Trong khi ở Mông Cổ, Stalin buộc Mao Trạch Đông phải thừa nhận độc lập Mông Cổ, giữ cho nước này độc lập về sau, thì ở Tân Cương, ông chọn cách trao nó cho Mao Trạch Đông. Nhưng nếu điều này xảy ra, dĩ nhiên các lãnh đạo độc lập Tân Cương không chấp nhận.
Nhưng họ cũng chẳng có cơ hội mà phản đối. Tháng 9 năm 1949, đoàn lãnh đạo cao cấp của Tân Cương, gồm cách lãnh đạo như Ehmetjan Qasim, Ishaq Beg Munonov, Abdulla Crimean-Abasov , Dalelkhan Sugirbayev và Lạc Tử (người Hán) bay trên máy bay Liên Xô từ Kazakhstan đến Bắc Kinh để đàm phán với Mao Trạch Đông về độc lập Tân Cương. Khi bay qua lãnh thổ Liên Xô gần hồ Baikal, chiến máy bay gặp tai nạn và các lãnh đạo Tân Cương thiệt mạng. Vụ tai nạn không bao giờ được điều tra, và Liên Xô chỉ gửi một điện tín duy nhất cho Trung Quốc rằng các lãnh đạo Tân Cương đã gặp tai nạn.
Với cái chết của các lãnh đạo hàng đầu, Cộng hòa Đông Turkestan đệ Nhị không còn có ý định chống lại Mao Trạch Đông. Tháng 10/1949, quyết định sáp nhập Tân Cương vào Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thực hiện mà không gặp trở ngại. Cộng hòa Đông Turkestan đệ nhị kết thúc sự hiện diện trên bản đồ chính trị thế giới. Toàn bộ quân đội Quốc gia Ili được sáp nhập vào Quân giải phóng Nhân dân, mặc dù một số người đào thoát sang Trung Á tiếp tục chiến đấu và cầu viện Liên Xô “[2]
TÀI LIỆU KHÁM THẢO
[1] https://uyghurstudy.org/the-short-history-of-east-turkistan/
[2] https://east-turkistan.net/history-of-east-turkistan/
[3] https://east-turkistan.net/east-turkistan-at-a-glance/