Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Thành phố ngầm Derinkuyu”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
n (Bot) AlphamaEditor, Executed time: 00:00:05.3296220, replaced: accessdate → access-date (2), archiveurl → archive-url, archivedate → archive-date, … → ...
Bổ sung thông tin
Dòng 1: Dòng 1:
{{Short description|Thành phố cổ tại Thổ Nhĩ Kỳ}}
{{Short description|Thành phố cổ tại Thổ Nhĩ Kỳ}}
[[Tập tin:Derinkuyu Underground City 9843 Nevit Enhancer.jpg|thumb|300px|Một lối đi trong thành phố dưới lòng đất.]]
[[Tập tin:Derinkuyu Underground City 9843 Nevit Enhancer.jpg|thumb|300px|Một lối đi trong thành phố dưới lòng đất.]]
'''Thành phố ngầm Derinkuyu''' ([[Tiếng Hy Lạp Cappadocia|Hy Lạp Cappadocia]]: {{lang|el|Μαλακοπή}} ''Malakopi''; {{lang-tr|Derinkuyu Yeraltı Şehri}}) là một thành phố ngầm cổ đại đa tầng ở huyện [[Derinkuyu]], tỉnh [[Nevşehir (tỉnh)|Nevşehir]], [[Thổ Nhĩ Kỳ]]. Nó có độ sâu lên tới {{convert|85|m}}, đủ lớn để cho 20.000 người cùng với gia súc trú ẩncác cửa hàng thực phẩm. Đây là thành phố ngầm được khai quật lớn nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ và là một trong một số khu phức hợp dưới lòng đất được tìm thấy trên khắp [[Cappadocia]].
'''Thành phố ngầm Derinkuyu''' ([[Tiếng Hy Lạp Cappadocia|Hy Lạp Cappadocia]]: {{lang|el|Μαλακοπή}} ''Malakopi''; {{lang-tr|Derinkuyu Yeraltı Şehri}}) là một thành phố ngầm cổ đại đa tầng ở huyện [[Derinkuyu]], tỉnh [[Nevşehir (tỉnh)|Nevşehir]], [[Thổ Nhĩ Kỳ]]. Nó có độ sâu lên tới {{convert|85|m}}, đủ lớn để cho 20.000 người cùng với gia súc và đồ dự trữ. Đây là thành phố ngầm được khai quật lớn nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ và là một trong một số khu phức hợp dưới lòng đất được tìm thấy trên khắp [[Cappadocia]].
==Nét nổi bật==
==Nét nổi bật==
Thành phố ngầm Derinkuyu có thể được đóng lại từ bên trong bằng những cánh cửa lớn bằng đá. Mỗi tầng có thể được đóng một cửa riêng biệt. Nó có thể chứa tới 20.000 người với các tiện nghi được tìm thấy như trong các khu phức hợp dưới lòng đất khác trên khắp Cappadocia,<ref>{{chú thích web|url=https://www.nationalgeographic.com/adventure/article/150325-underground-city-cappadocia-turkey-archaeology|title=Massive Underground City Found in Cappadocia Region of Turkey|date=March 26, 2015|website=National Geographic}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.cappadociaturkey.net/derinkuyu_underground_city.htm|title=Derinkuyu underground city|date=January 26, 2014}}</ref> như là [[máy ép nho]], [[máy ép dầu|dầu]], [[chuồng ngựa]], hầm rượu, nhà kho, nhà ăn, [[nhà nguyện]]. Điểm độc đáo của khu phức hợp Derinkuyu nằm trên tầng hai là một căn phòng rộng rãi với trần hình vòm thùng. thông tin cho rằng, căn phòng này được sử dụng như một trường học tôn giáo và các phòng bên trái là để nghiên cứu.<ref name="Nevsehir Derinkuyu">{{chú thích web|url=http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=113 |title=Derinkuyu Underground City |publisher=Nevşehir Province |url-status=dead |archive-url=https://web.archive.org/web/20070109200133/http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=113 |archive-date=2007-01-09 }}</ref> Bắt đầu từ tầng thứ ba và bốn là một loạt cầu thang thẳng đứng dẫn đến một nhà thờ hình chữ thập ở tầng thứ năm, cũng là tầng sâu nhất ở Derinkuyu. Hầm thông gió lớn {{convert|55|m|adj=on}} dường như đã được sử dụng như một cái giếng. Nó cung cấp tất cả nước cho người dân ở các tầng trên.
Thành phố ngầm Derinkuyu có thể được đóng lại từ bên trong bằng những cánh cửa lớn bằng đá. Mỗi tầng có thể được đóng một cửa riêng biệt.<ref>{{Chú thích web|url=https://dustyoldthing.com/derinkuyu/|tiêu đề=Ancient Underground City Once Housed 20,000 People|ngày=2019-09-02|website=Dusty Old Thing|ngôn ngữ=en|ngày truy cập=2025-02-21}}</ref>
[[Tập tin:Derinkuyu-14-martijnmunneke.jpg|nhỏ|Căn phòng có trần mái vòm, có thể được dùng như một trường học]]
Nó có thể chứa tới 20.000 người với các khu tiện ích được tìm thấy như trong các khu phức hợp dưới lòng đất khác trên khắp Cappadocia,<ref>{{chú thích web|url=https://www.nationalgeographic.com/adventure/article/150325-underground-city-cappadocia-turkey-archaeology|title=Massive Underground City Found in Cappadocia Region of Turkey|date=March 26, 2015|website=National Geographic}}</ref><ref>{{chú thích web|url=http://www.cappadociaturkey.net/derinkuyu_underground_city.htm|title=Derinkuyu underground city|date=January 26, 2014}}</ref> như là máy ép nho, máy ép dầu, [[chuồng ngựa]], hầm rượu, nhà kho, nhà ăn, [[nhà nguyện]]. Điểm độc đáo của khu phức hợp Derinkuyu nằm trên tầng hai là một căn phòng rộng rãi với mái vòm trên trần. Các nhà nghiên cứu cho rằng, căn phòng này được sử dụng như một trường học tôn giáo và các phòng bên trái là để học tập.<ref name="Nevsehir Derinkuyu">{{chú thích web|url=http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=113 |title=Derinkuyu Underground City |publisher=Nevşehir Province |url-status=dead |archive-url=https://web.archive.org/web/20070109200133/http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=113 |archive-date=2007-01-09 }}</ref>
[[Tập tin:Derinkuyu Underground City 9831 Nevit Enhancer.jpg|nhỏ|Giếng thông khí trong thành phố]]
giữa tầng thứ ba và bốn là một loạt cầu thang thẳng đứng dẫn đến một nhà thờ hình chữ thập ở tầng thứ năm, cũng là tầng sâu nhất ở Derinkuyu. một khoảng không lớn {{convert|55|m|adj=on}} dường như mục đích sử dụng một cái giếng. Nó cung cấp tất cả nước cho người dân ở các tầng trên, trong trường hợp không ra ngoài được hay đang trốn tránh quân thù.


==Lịch sử==
==Lịch sử==
Theo Bộ Văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ, hệ thống hang động có thể ban đầu đã được [[người Phrygia]] xây dựng trong khu vực [[đá núi lửa]] mềm ở vùng Cappadocia vào thế kỷ 8-7 trước Công nguyên.<ref name = "TDC">{{chú thích web|url=http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=111|title=Turkish Department of Culture|ngày truy cập=2021-09-09|archive-date=2020-02-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20200218233349/http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=111|url-status=dead}}</ref> Khi [[tiếng Phrygia]] biến mất trong khoảng thời gian [[La Mã cổ đại]], thay thế bằng [[tiếng Hy Lạp|ngôn ngữ Hy Lạp]],<ref>{{chú thích sách|last=Woodard |first=Roger D. |title=The Ancient Languages of Asia Minor |url=https://archive.org/details/ancientlanguages00wood |url-access=limited |publisher=Cambridge University Press |date=2008 |ISBN=0-521-68496-X |page=[https://archive.org/details/ancientlanguages00wood/page/n94 72] |quote=Unquestionably, however, Phrygian is most closely linked with Greek.}}</ref><ref>{{chú thích sách|last1=Swain|first1=Simon|last2=Adams|first2=J. Maxwell|last3=Janse|first3=Mark | author3link =Mark Janse|title=Bilingualism in Ancient Society: Language Contact and the Written Word|publisher=Oxford University Press|location=Oxford |year=2002 |pages=246–266|isbn=0-19-924506-1}}</ref> người dân bây giờ là các [[Kitô hữu]] đã mở rộng hang động của họ khiến cấu trúc sâu thêm nhiều cấp cùng với đó là các nhà nguyện và [[chữ khắc Hy Lạp]].<ref name=" Darke, Diana 2011 139-140 ">{{chú thích sách |last= Darke |first=Diana |title=Eastern Turkey |url= https://archive.org/details/easternturkeybra0000dark |publisher=[[Bradt Travel Guides]] |year=2011 |pages= [https://archive.org/details/easternturkeybra0000dark/page/139 139]–140 |isbn=978-1-84162-339-9 |quote= Khu vực này đã trở thành một tỉnh biên giới quan trọng trong thế kỷ thứ 7 khi các cuộc đột kích của người Ả Rập vào [[Đế quốc Đông La Mã]] diễn ra. Khi người Byzantine thiết lập lại quyền kiểm soát an toàn từ thế kỷ thứ 7 đến 11, những người đã lên trên mặt đất, và đã chạm khắc các nhà thờ vào mặt đá và vách đá ở khu vực [[Göreme]] và [[Soğanlı]], khiến Cappadocia trở nên nổi tiếng như ngày nay. [...] Dù sao thì ở đây họ cũng phát triển rực rỡ, những nhà thờ của họ đáng chú ý vì nằm khoét sâu vào đá, nhưng thú vị đặc biệt là những bức tranh của họ, được bảo quản tương đối tốt, nhiều màu sắc; đây là một trong số ít những nơi còn tồn tại những bức tranh từ thời kỳ tiền biểu tượng. Các biểu tượng tiếp tục được vẽ sau khi Cuộc chinh phục của Seljuk đối với khu vực này vào thế kỷ 11 và cuộc chinh phục của Ottoman không can thiệp vào các hoạt động của Cơ đốc giáo ở Cappadocia, nơi vùng nông thôn phần lớn vẫn là người Hy Lạp, với một số ít là [[người Armenia]]. Nhưng sự sa sút bắt đầu xảy ra và Göreme, [[Ihlara]] và Soğanlı đã đánh mất tầm quan trọng ban đầu. Người Hy Lạp cuối cùng đã kết thúc lịch sử lâu dài của họ ở đây với việc trao đổi dân cư hàng loạt giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp vào năm 1923.}}</ref>
Theo Bộ Văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ, hệ thống hang động có thể ban đầu đã được người Phrygia xây dựng trong khu vực [[đá núi lửa]] mềm ở vùng Cappadocia vào thế kỷ 8-7 trước Công nguyên.<ref name = "TDC">{{chú thích web|url=http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=111|title=Turkish Department of Culture|ngày truy cập=2021-09-09|archive-date=2020-02-18|archive-url=https://web.archive.org/web/20200218233349/http://www.nevsehir.gov.tr/ing_nevsehir_detay.php?id=111|url-status=dead}}</ref> Khi [[tiếng Phrygia]] biến mất trong khoảng thời gian [[La Mã cổ đại]], thay thế bằng [[tiếng Hy Lạp|ngôn ngữ Hy Lạp]],<ref>{{chú thích sách|last=Woodard |first=Roger D. |title=The Ancient Languages of Asia Minor |url=https://archive.org/details/ancientlanguages00wood |url-access=limited |publisher=Cambridge University Press |date=2008 |ISBN=0-521-68496-X |page=[https://archive.org/details/ancientlanguages00wood/page/n94 72] |quote=Unquestionably, however, Phrygian is most closely linked with Greek.}}</ref><ref>{{chú thích sách|last1=Swain|first1=Simon|last2=Adams|first2=J. Maxwell|last3=Janse|first3=Mark | author3link =Mark Janse|title=Bilingualism in Ancient Society: Language Contact and the Written Word|publisher=Oxford University Press|location=Oxford |year=2002 |pages=246–266|isbn=0-19-924506-1}}</ref> người dân bấy giờ là các [[Kitô hữu]] đã mở rộng hang động khiến cấu trúc sâu thêm nhiều cấp cùng với đó là các nhà nguyện và chữ khắc Hy Lạp.<ref name=" Darke, Diana 2011 139-140 ">{{chú thích sách |last= Darke |first=Diana |title=Eastern Turkey |url= https://archive.org/details/easternturkeybra0000dark |publisher=[[Bradt Travel Guides]] |year=2011 |pages= [https://archive.org/details/easternturkeybra0000dark/page/139 139]–140 |isbn=978-1-84162-339-9 |quote= Khu vực này đã trở thành một tỉnh biên giới quan trọng trong thế kỷ thứ 7 khi các cuộc đột kích của người Ả Rập vào [[Đế quốc Đông La Mã]] diễn ra. Khi người Byzantine thiết lập lại quyền kiểm soát an toàn từ thế kỷ thứ 7 đến 11, những người đã lên trên mặt đất, và đã chạm khắc các nhà thờ vào mặt đá và vách đá ở khu vực [[Göreme]] và [[Soğanlı]], khiến Cappadocia trở nên nổi tiếng như ngày nay. [...] Dù sao thì ở đây họ cũng phát triển rực rỡ, những nhà thờ của họ đáng chú ý vì nằm khoét sâu vào đá, nhưng thú vị đặc biệt là những bức tranh của họ, được bảo quản tương đối tốt, nhiều màu sắc; đây là một trong số ít những nơi còn tồn tại những bức tranh từ thời kỳ tiền biểu tượng. Các biểu tượng tiếp tục được vẽ sau khi Cuộc chinh phục của Seljuk đối với khu vực này vào thế kỷ 11 và cuộc chinh phục của Ottoman không can thiệp vào các hoạt động của Cơ đốc giáo ở Cappadocia, nơi vùng nông thôn phần lớn vẫn là người Hy Lạp, với một số ít là [[người Armenia]]. Nhưng sự sa sút bắt đầu xảy ra và Göreme, [[Ihlara]] và Soğanlı đã đánh mất tầm quan trọng ban đầu. Người Hy Lạp cuối cùng đã kết thúc lịch sử lâu dài của họ ở đây với việc trao đổi dân cư hàng loạt giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp vào năm 1923.}}</ref>


Thành phố tại Derinkuyu được hình thành hoàn chỉnh vào thời kỳ Đông La Mã, khi nó được sử dụng nhiều để bảo vệ tránh khỏi những [[người Hồi giáo]] [[Ả Rập]] trong các trận [[chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã]] từ năm 780 đến 1180.<ref name=" Horrocks, Geoffrey C. 2010 403 ">{{chú thích sách|last= Horrocks |first=Geoffrey C. |title=Greek: A History of the Language and Its Speakers |url= https://archive.org/details/greekhistorylang00horr |url-access= limited |publisher=John Wiley & Sons |year=2010 |page=[https://archive.org/details/greekhistorylang00horr/page/n424 403] |isbn=978-1-4051-3415-6}}</ref> Nó cũng được kết nối với các thành phố ngầm khác thông qua nhiều kilômét đường hầm. Một số hiện vật được phát hiện trong các khu định cư dưới lòng đất này thuộc về [[Nghệ thuật Byzantine|Trung kỳ Đông La Mã]], giữa thế kỷ thứ 5 và 10. Những thành phố ngầm này tiếp tục được người Thiên chúa giáo bản xứ sử dụng để bảo vệ trước những cuộc xâm lược của đội quân Mông Cổ của [[Thiếp Mộc Nhi|Timur]] vào thế kỷ 14.<ref name=" Kinross, Baron Patrick Balfour 1970 168 ">{{chú thích sách|last= Kinross |first=Baron | authorlink = Patrick Balfour, 3rd Baron Kinross|title= Within the Taurus: a Journey in Asiatic Turkey |publisher= J. Murray |year= 1970 |page=168 |isbn= 978-0-7195-2038-9 |quote= Its inhabitants were [[Cappadocian Greeks]], who may have found a refuge here, perhaps from Roman, from Iconoclast, or later from Turkish and Mongol threats. Urgup itself was the Byzantine Prokopion; the Emperor Nicephoros Phocas is said to have passed this way, after his Cilician campaign; and the neighborhood was populous enough to support, at different times, a number of bishoprics. }}</ref><ref>{{chú thích sách|last=Dawkins|first=R. McG. | authorlink = Richard MacGillivray Dawkins|title=Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa.|year=1916|publisher=Cambridge University Press|url=https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog|access-date=25 October 2014|page=[https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog/page/n39 17]|quote="these excavations are referred to as long ago as the campaigns of Timour Beg, one of whose captains was sent to hunt out the inhabitants of Kaisariyeh, who had taken refuge in their underground dwellings, and was killed by an arrow shot through the hole in one of the doors."}}</ref>
Thành phố tại Derinkuyu được hình thành hoàn chỉnh vào thời kỳ [[Đế quốc Đông La Mã|Đông La Mã]], khi nó được sử dụng nhiều để trốn tránh những [[người Hồi giáo]] [[Ả Rập]] trong các trận [[chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã]] từ năm 780 đến 1180.<ref name=" Horrocks, Geoffrey C. 2010 403 ">{{chú thích sách|last= Horrocks |first=Geoffrey C. |title=Greek: A History of the Language and Its Speakers |url= https://archive.org/details/greekhistorylang00horr |url-access= limited |publisher=John Wiley & Sons |year=2010 |page=[https://archive.org/details/greekhistorylang00horr/page/n424 403] |isbn=978-1-4051-3415-6}}</ref> Nó cũng được kết nối với các thành phố ngầm khác là Kaymakli thông qua một đường hầm dài 8-9km.<ref>{{Chú thích sách|url=https://books.google.com/books?id=xjP8DQAAQBAJ&dq=Derinkuyu+underground&pg=PT20|title=The Evolution Underground|last=Martin|first=Anthony J.|date=2017-02-07|publisher=Simon and Schuster|isbn=978-1-68177-375-9|language=en}}</ref> Một số hiện vật được phát hiện trong các khu định dưới lòng đất này thuộc về [[Nghệ thuật Byzantine|Trung kỳ Đông La Mã]], giữa thế kỷ thứ 5 10.


Sau khi khu vực này rơi vào tay của [[người Ottoman]], các thành phố được sử dụng làm nơi ẩn náu bởi những người bản xứ trước những người cai trị Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ.<ref name="Dawkins 1916 16">{{chú thích sách|last=Dawkins|first=R. McG.| authorlink = Richard MacGillivray Dawkins|title=Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa.|year=1916|publisher=Cambridge University Press|url=https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog|access-date=2014-10-25|page=16|quote="their use as places of refuge in time of danger is indicated by their name {{lang|el|καταφύγια}}, and when the news came of the recent [[Adana massacre|massacres at Adana]] [in 1909], a great part of the population at Axo took refuge in these underground chambers, and for some nights did not venture to sleep above ground."}}</ref>
Những thành phố ngầm này tiếp tục được người Thiên chúa giáo bản xứ sử dụng để bảo vệ trước những cuộc xâm lược của quân Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của [[Thiếp Mộc Nhi|Timur]] vào thế kỷ 14.<ref name="Kinross, Baron Patrick Balfour 1970 168">{{chú thích sách|last= Kinross |first=Baron | authorlink = Patrick Balfour, 3rd Baron Kinross|title= Within the Taurus: a Journey in Asiatic Turkey |publisher= J. Murray |year= 1970 |page=168 |isbn= 978-0-7195-2038-9 |quote= Its inhabitants were [[Cappadocian Greeks]], who may have found a refuge here, perhaps from Roman, from Iconoclast, or later from Turkish and Mongol threats. Urgup itself was the Byzantine Prokopion; the Emperor Nicephoros Phocas is said to have passed this way, after his Cilician campaign; and the neighborhood was populous enough to support, at different times, a number of bishoprics. }}</ref><ref>{{chú thích sách|last=Dawkins|first=R. McG. | authorlink = Richard MacGillivray Dawkins|title=Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa.|year=1916|publisher=Cambridge University Press|url=https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog|access-date=25 October 2014|page=[https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog/page/n39 17]|quote="these excavations are referred to as long ago as the campaigns of Timour Beg, one of whose captains was sent to hunt out the inhabitants of Kaisariyeh, who had taken refuge in their underground dwellings, and was killed by an arrow shot through the hole in one of the doors."}}</ref>


Sau khi khu vực này rơi vào tay của người [[Đế quốc Ottoman|Ottoman]], các thành phố ngầm này được sử dụng làm nơi ẩn náu bởi những người bản xứ trước những sự cai trị của người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ.<ref name="Dawkins 1916 16">{{chú thích sách|last=Dawkins|first=R. McG.| authorlink = Richard MacGillivray Dawkins|title=Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa.|year=1916|publisher=Cambridge University Press|url=https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog|access-date=2014-10-25|page=16|quote="their use as places of refuge in time of danger is indicated by their name {{lang|el|καταφύγια}}, and when the news came of the recent [[Adana massacre|massacres at Adana]] [in 1909], a great part of the population at Axo took refuge in these underground chambers, and for some nights did not venture to sleep above ground."}}</ref>
Vào cuối thế kỷ 20, người dân địa phương, những [[người Hy Lạp Cappadocia]] vẫn đang sử dụng các thành phố ngầm để thoát khỏi các cuộc đàn áp. Ví dụ như [[Richard MacGillivray Dawkins]], một nhà ngôn ngữ học của Cambridge, người đã tiến hành nghiên cứu từ năm 1909 đến 1911 về những người bản địa nói tiếng Hy Lạp Cappadocia trong khu vực, đã ghi lại một sự kiện đã xảy ra vào năm 1909," Khi có tin tức về [[vụ thảm sát Adana|vụ thảm sát]] gần đây tại Adana, một lượng lớn dân cư ở Axo đã trú ẩn trong những căn hầm dưới lòng đất này, và trong một vài đêm họ đã không mạo hiểm ngủ trên mặt đất.

Vào đầu thế kỷ 20, những người gốc Hy Lạp Cappadocia và gốc Armenia vẫn sử dụng các thành phố ngầm để thoát khỏi các cuộc đàn áp [[Diệt chủng Armenia|diệt chủng]]. Richard MacGillivray Dawkins, một nhà ngôn ngữ học từ Cambridge, đã tiến hành nghiên cứu từ năm 1909 đến 1911 về những người bản địa gốc Hy Lạp Cappadocia trong khu vực, đã ghi lại một sự kiện đã xảy ra vào năm 1909," Khi có tin tức về vụ thảm sát tại Adana gần đây, một lượng lớn dân cư ở Axo đã trú ẩn trong những căn hầm dưới lòng đất này, và trong một vài đêm liền họ đã không dám mạo hiểm ngủ trên mặt đất."<ref>{{Chú thích sách|url=https://archive.org/details/moderngreekinas00hallgoog|title=Modern Greek in Asia Minor; a study of the dialects of Siĺli, Cappadocia and Phárasa, with grammar, texts, translations and glossary|last=Dawkins|first=R. M. (Richard McGillivray)|last2=Halliday|first2=W. R. (William Reginald)|date=1916|publisher=Cambridge, University press|others=New York Public Library}}</ref>

Vào năm 1923, khi những người gốc [[Kitô giáo]] trong khu vực bị trục xuất từ Thổ Nhĩ Kỳ sang Hy Lạp theo một thỏa thuận giữa hai nước, những đường hầm này dần bị bỏ hoang.<ref>{{Chú thích web|url=https://en.wikipedia.org/wiki/Special:BookSources/978-3-8391-5661-2|tiêu đề=Book sources - Wikipedia|website=en.wikipedia.org|ngôn ngữ=en|ngày truy cập=2025-02-21}}</ref>

Vào năm 1963, những đường hầm này được khám phá lại sau khi một người dân tìm thấy một căn phòng bí ẩn phái sau tường dưới tầng hầm khi tiến hành sửa nhà. Sau khi tiếp tục đào, các nhà khoa học đã hé lộ được hệ thống đường hầm.<ref>{{Chú thích web|url=https://www.history.com/news/8-mysterious-underground-cities|tiêu đề=8 Mysterious Underground Cities|ngày=2023-08-29|website=HISTORY|ngôn ngữ=en|ngày truy cập=2025-02-21}}</ref>

Năm 1969, thành phố ngầm được mở cửa cho du khách thăm quan, tới 2016 có một nửa diện tích thành phố ngầm có thể được phép truy cập.
==Xem thêm==
==Xem thêm==
* [[Avanos]]
* [[Avanos]]

Phiên bản lúc 02:45, ngày 21 tháng 2 năm 2025

Một lối đi trong thành phố dưới lòng đất.

Thành phố ngầm Derinkuyu (Hy Lạp Cappadocia: Μαλακοπή Malakopi; Bản mẫu:Lang-tr) là một thành phố ngầm cổ đại đa tầng ở huyện Derinkuyu, tỉnh Nevşehir, Thổ Nhĩ Kỳ. Nó có độ sâu lên tới 85 mét (279 ft), đủ lớn để cho 20.000 người cùng với gia súc và đồ dự trữ. Đây là thành phố ngầm được khai quật lớn nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ và là một trong một số khu phức hợp dưới lòng đất được tìm thấy trên khắp Cappadocia.

Nét nổi bật

Thành phố ngầm Derinkuyu có thể được đóng lại từ bên trong bằng những cánh cửa lớn bằng đá. Mỗi tầng có thể được đóng một cửa riêng biệt.[1]

Căn phòng có trần mái vòm, có thể được dùng như một trường học

Nó có thể chứa tới 20.000 người với các khu tiện ích được tìm thấy như trong các khu phức hợp dưới lòng đất khác trên khắp Cappadocia,[2][3] như là máy ép nho, máy ép dầu, chuồng ngựa, hầm rượu, nhà kho, nhà ăn, nhà nguyện. Điểm độc đáo của khu phức hợp Derinkuyu nằm trên tầng hai là một căn phòng rộng rãi với mái vòm trên trần. Các nhà nghiên cứu cho rằng, căn phòng này được sử dụng như một trường học tôn giáo và các phòng bên trái là để học tập.[4]

Giếng thông khí trong thành phố

Ở giữa tầng thứ ba và bốn là một loạt cầu thang thẳng đứng dẫn đến một nhà thờ hình chữ thập ở tầng thứ năm, cũng là tầng sâu nhất ở Derinkuyu. Có một khoảng không lớn 55 mét (180 ft) dường như có mục đích sử dụng là một cái giếng. Nó cung cấp tất cả nước cho người dân ở các tầng trên, trong trường hợp không ra ngoài được hay đang trốn tránh quân thù.

Lịch sử

Theo Bộ Văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ, hệ thống hang động có thể ban đầu đã được người Phrygia xây dựng trong khu vực đá núi lửa mềm ở vùng Cappadocia vào thế kỷ 8-7 trước Công nguyên.[5] Khi tiếng Phrygia biến mất trong khoảng thời gian La Mã cổ đại, thay thế bằng ngôn ngữ Hy Lạp,[6][7] người dân bấy giờ là các Kitô hữu đã mở rộng hang động khiến cấu trúc sâu thêm nhiều cấp cùng với đó là các nhà nguyện và chữ khắc Hy Lạp.[8]

Thành phố tại Derinkuyu được hình thành hoàn chỉnh vào thời kỳ Đông La Mã, khi nó được sử dụng nhiều để trốn tránh những người Hồi giáo Ả Rập trong các trận chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã từ năm 780 đến 1180.[9] Nó cũng được kết nối với các thành phố ngầm khác là Kaymakli thông qua một đường hầm dài 8-9km.[10] Một số hiện vật được phát hiện trong các khu định cư dưới lòng đất này thuộc về Trung kỳ Đông La Mã, giữa thế kỷ thứ 5 và 10.

Những thành phố ngầm này tiếp tục được người Thiên chúa giáo bản xứ sử dụng để bảo vệ trước những cuộc xâm lược của quân Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Timur vào thế kỷ 14.[11][12]

Sau khi khu vực này rơi vào tay của người Ottoman, các thành phố ngầm này được sử dụng làm nơi ẩn náu bởi những người bản xứ trước những sự cai trị của người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ.[13]

Vào đầu thế kỷ 20, những người gốc Hy Lạp Cappadocia và gốc Armenia vẫn sử dụng các thành phố ngầm để thoát khỏi các cuộc đàn áp và diệt chủng. Richard MacGillivray Dawkins, một nhà ngôn ngữ học từ Cambridge, đã tiến hành nghiên cứu từ năm 1909 đến 1911 về những người bản địa gốc Hy Lạp Cappadocia trong khu vực, đã ghi lại một sự kiện đã xảy ra vào năm 1909," Khi có tin tức về vụ thảm sát tại Adana gần đây, một lượng lớn dân cư ở Axo đã trú ẩn trong những căn hầm dưới lòng đất này, và trong một vài đêm liền họ đã không dám mạo hiểm ngủ trên mặt đất."[14]

Vào năm 1923, khi những người gốc Kitô giáo trong khu vực bị trục xuất từ Thổ Nhĩ Kỳ sang Hy Lạp theo một thỏa thuận giữa hai nước, những đường hầm này dần bị bỏ hoang.[15]

Vào năm 1963, những đường hầm này được khám phá lại sau khi một người dân tìm thấy một căn phòng bí ẩn phái sau tường dưới tầng hầm khi tiến hành sửa nhà. Sau khi tiếp tục đào, các nhà khoa học đã hé lộ được hệ thống đường hầm.[16]

Năm 1969, thành phố ngầm được mở cửa cho du khách thăm quan, tới 2016 có một nửa diện tích thành phố ngầm có thể được phép truy cập.

Xem thêm

  • Avanos
  • Các nhà thờ của Göreme
  • Tu viện Eskigümüş
  • Thung lũng Ihlara
  • Thành phố ngầm Kaymaklı
  • Mokissos
  • Thành phố ngầm Özkonak
  • Trao đổi cư dân giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ
  • Tu viện Zelve
  • Thành phố ngầm Nooshabad, Iran
  • Petra

Tham khảo

  1. ^ "Ancient Underground City Once Housed 20,000 People". Dusty Old Thing (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.
  2. ^ "Massive Underground City Found in Cappadocia Region of Turkey". National Geographic. ngày 26 tháng 3 năm 2015.
  3. ^ "Derinkuyu underground city". ngày 26 tháng 1 năm 2014.
  4. ^ "Derinkuyu Underground City". Nevşehir Province. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2007.
  5. ^ "Turkish Department of Culture". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2021.
  6. ^ Woodard, Roger D. (2008). The Ancient Languages of Asia Minor. Cambridge University Press. tr. 72. ISBN 0-521-68496-X. Unquestionably, however, Phrygian is most closely linked with Greek.
  7. ^ Swain, Simon; Adams, J. Maxwell; Janse, Mark (2002). Bilingualism in Ancient Society: Language Contact and the Written Word. Oxford: Oxford University Press. tr. 246–266. ISBN 0-19-924506-1.
  8. ^ Darke, Diana (2011). Eastern Turkey. Bradt Travel Guides. tr. 139–140. ISBN 978-1-84162-339-9. Khu vực này đã trở thành một tỉnh biên giới quan trọng trong thế kỷ thứ 7 khi các cuộc đột kích của người Ả Rập vào Đế quốc Đông La Mã diễn ra. Khi người Byzantine thiết lập lại quyền kiểm soát an toàn từ thế kỷ thứ 7 đến 11, những người đã lên trên mặt đất, và đã chạm khắc các nhà thờ vào mặt đá và vách đá ở khu vực Göreme và Soğanlı, khiến Cappadocia trở nên nổi tiếng như ngày nay. [...] Dù sao thì ở đây họ cũng phát triển rực rỡ, những nhà thờ của họ đáng chú ý vì nằm khoét sâu vào đá, nhưng thú vị đặc biệt là những bức tranh của họ, được bảo quản tương đối tốt, nhiều màu sắc; đây là một trong số ít những nơi còn tồn tại những bức tranh từ thời kỳ tiền biểu tượng. Các biểu tượng tiếp tục được vẽ sau khi Cuộc chinh phục của Seljuk đối với khu vực này vào thế kỷ 11 và cuộc chinh phục của Ottoman không can thiệp vào các hoạt động của Cơ đốc giáo ở Cappadocia, nơi vùng nông thôn phần lớn vẫn là người Hy Lạp, với một số ít là người Armenia. Nhưng sự sa sút bắt đầu xảy ra và Göreme, Ihlara và Soğanlı đã đánh mất tầm quan trọng ban đầu. Người Hy Lạp cuối cùng đã kết thúc lịch sử lâu dài của họ ở đây với việc trao đổi dân cư hàng loạt giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp vào năm 1923.
  9. ^ Horrocks, Geoffrey C. (2010). Greek: A History of the Language and Its Speakers. John Wiley & Sons. tr. 403. ISBN 978-1-4051-3415-6.
  10. ^ Martin, Anthony J. (ngày 7 tháng 2 năm 2017). The Evolution Underground (bằng tiếng Anh). Simon and Schuster. ISBN 978-1-68177-375-9.
  11. ^ Kinross, Baron (1970). Within the Taurus: a Journey in Asiatic Turkey. J. Murray. tr. 168. ISBN 978-0-7195-2038-9. Its inhabitants were Cappadocian Greeks, who may have found a refuge here, perhaps from Roman, from Iconoclast, or later from Turkish and Mongol threats. Urgup itself was the Byzantine Prokopion; the Emperor Nicephoros Phocas is said to have passed this way, after his Cilician campaign; and the neighborhood was populous enough to support, at different times, a number of bishoprics.
  12. ^ Dawkins, R. McG. (1916). Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa. Cambridge University Press. tr. 17. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. these excavations are referred to as long ago as the campaigns of Timour Beg, one of whose captains was sent to hunt out the inhabitants of Kaisariyeh, who had taken refuge in their underground dwellings, and was killed by an arrow shot through the hole in one of the doors.
  13. ^ Dawkins, R. McG. (1916). Modern Greek in Asia Minor. A study of dialect of Silly, Cappadocia and Pharasa. Cambridge University Press. tr. 16. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. their use as places of refuge in time of danger is indicated by their name καταφύγια, and when the news came of the recent massacres at Adana [in 1909], a great part of the population at Axo took refuge in these underground chambers, and for some nights did not venture to sleep above ground.
  14. ^ Dawkins, R. M. (Richard McGillivray); Halliday, W. R. (William Reginald) (1916). Modern Greek in Asia Minor; a study of the dialects of Siĺli, Cappadocia and Phárasa, with grammar, texts, translations and glossary. New York Public Library. Cambridge, University press.
  15. ^ "Book sources - Wikipedia". en.wikipedia.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.
  16. ^ "8 Mysterious Underground Cities". HISTORY (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2025.

Liên kết ngoài