Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Trống cái”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Cấu tạo: clean up, general fixes using AWB
Trống cái - rev1
Dòng 1: Dòng 1:
[[Hình:Trống trận thời Tây Sơn.jpg|nhỏ|phải|250px|Trống lệnh dùng trong quân đội thời [[Nhà Tây Sơn|Tây Sơn]]]]
[[Tập_tin:Trống_trận_thời_Tây_Sơn.jpg|phải|nhỏ|333x333px|Trống lệnh dùng trong quân đội thời [[Nhà Tây Sơn|Tây Sơn]]]]
'''Trống cái''' là [[nhạc cụ]] bộ gõ, chi gõ, không định âm, có kích thước lớn, xuất hiện ở khắp [[Việt Nam]] từ hàng ngàn năm nay. Dù ở đồng bằng hay miền núi người ta đều nhận ra sự có mặt của trống cái. Nó không chỉ đơn thuần là một nhạc cụ mà đã trở thành một dụng cụ thông tin trong [[trường học]], [[quân đội]], [[Lễ hội Việt Nam|lễ hội]]... từ xưa đến nay.
'''Trống cái''' (trống đại, đại cổ) là [[nhạc cụ]] bộ gõ, chi gõ, không định âm, có kích thước lớn, xuất hiện ở khắp [[Việt Nam]] từ hàng ngàn năm nay. Dù ở đồng bằng hay miền núi người ta đều nhận ra sự có mặt của trống cái.
Nó không chỉ đơn thuần là một nhạc cụ mà đã trở thành một dụng cụ thông tin trong [[trường học]], [[quân đội]], [[Lễ hội Việt Nam|lễ hội]]... từ xưa đến nay.


== Cấu tạo ==
== Cấu tạo ==
Theo định nghĩa "trống cái" là trống lớn (đại cổ). Người ta thường quy ước loại trống có đường kính mặt từ 50, 60 cm trở lên là trống cái.<ref>{{Chú thích web|url=https://dotchuoinon.com/2015/07/14/nhac-cu-co-truyen-vn-trong/|tiêu đề=Nhạc cụ cổ truyền VN – Trống|họ=Túy-Phượng|tên=Trần Lê|ngày=2015-07-14|website=Đọt Chuối Non|ngôn ngữ=en|ngày truy cập=2025-02-16}}</ref>
Loại trống này có [[hình trụ]] khum với hai mặt trống bịt [[da]] trâu, bò có đường kính từ 50, 60&nbsp;cm trở lên. Tang trống bằng gỗ, thân trống có một quai xách để treo trống. Nếu không sử dụng quai này người ta có thể đặt trống trên giá [[gỗ]] hay [[kim loại]]<ref>{{Chú thích web |url=http://www.vnmusicology-inst.vnn.vn/ |ngày truy cập=2021-04-01 |tựa đề=Bản sao đã lưu trữ |archive-date = ngày 22 tháng 6 năm 2012 |archive-url=https://web.archive.org/web/20120622233121/http://www.vnmusicology-inst.vnn.vn/ }}</ref>.


Trống cái của các dân tộc Việt Nam có những đặc điểm sau:
Trống cái không có kích thước chuẩn mực, loại trống nào người ta thấy có đường kính từ 50&nbsp;cm trở lên thì có thể gọi là trống cái (trống lớn) để phân biệt với loại trống nhỏ có kích thước trung bình và loại trống nhỏ (dùng làm đồ chơi như [[trống bỏi]].

* Hai mặt trống bịt [[da]] (thường là da trâu, bò), được cố định bằng đinh. Cũng có một số loại trống cái căng dây xạ như [[trống cơm]], điển hình là ''trống k'thu'' của dân tộc Cơ Tu.<ref>{{Chú thích web|url=https://cadn.com.vn/gia-tri-nhan-van-trong-kho-tang-am-nhac-nguoi-co-tu-post165846.html|tiêu đề=Giá trị nhân văn trong kho tàng âm nhạc người Cơ tu|họ=Nẵng|tên=Báo Công an TP Đà|website=cadn.com.vn|ngôn ngữ=vi-vn|ngày truy cập=2025-02-16}}</ref><ref>{{Chú thích web|url=https://thanhnien.vn/tet-cua-nguoi-dan-dong-bao-mien-nui-co-tu-o-nam-dong-185240212200444765.htm|tiêu đề=Tết của người dân Đồng bào miền núi Cơ Tu ở Nam Đông|họ=thanhnien.vn|ngày=2024-02-12|website=thanhnien.vn|ngôn ngữ=vi|ngày truy cập=2025-02-16}}</ref><ref>{{Chú thích|last=TIỂU VŨ - T.V|title=Tung tung da dá – “Vũ điệu dâng trời” của người Cơ Tu|date=2023-06-03|url=https://www.youtube.com/watch?v=XDzYLOFqXWQ|access-date=2025-02-16}}</ref>
* Tang trống bằng gỗ, [[hình trụ]] khum. Các nghệ nhân làng trống Đọi Tam quan niệm: "da trâu tang mít", dùng gỗ mít làm thân trống sẽ cho ra âm thanh hay.<ref>{{Chú thích web|url=https://giaoducthoidai.vn/nghin-nam-lang-trong-duoi-chan-nui-doi-post695014.html|tiêu đề=Nghìn năm làng trống dưới chân núi Đọi|ngày=2024-08-13|website=Báo Giáo dục và Thời đại Online|ngôn ngữ=vi|ngày truy cập=2025-02-16}}</ref>

Người ta thường treo trống bằng quai xách trên thân, hoặc đặt trên giá [[gỗ]] hay [[kim loại]]<ref>{{Chú thích web|url=http://www.vnmusicology-inst.vnn.vn/|tựa đề=Bản sao đã lưu trữ|archive-url=https://web.archive.org/web/20120622233121/http://www.vnmusicology-inst.vnn.vn/|archive-date=ngày 22 tháng 6 năm 2012|ngày truy cập=2021-04-01}}</ref>.


==Âm thanh==
==Âm thanh==
[[Âm thanh]] trống trầm và vang xa. Người ta có thể dùng một hoặc hai dùi gỗ để đánh trống (tùy theo tính chất của công việc). Cách đánh trống có nhiều cách: đánh giữa mặt trống, rìa mặt trống hay tang trống,... Mỗi cách đều tạo âm sắc riêng. Có thể đánh nhanh hoặc chậm tùy trường hợp.
[[Âm thanh]] trống trầm và vang xa. Người ta có thể dùng một hoặc hai dùi gỗ để đánh trống (tùy theo tính chất của công việc). Cách đánh trống có nhiều cách: đánh giữa mặt trống, rìa mặt trống hay tang trống,... Mỗi cách đều tạo âm sắc riêng. Có thể đánh nhanh hoặc chậm tùy trường hợp.
[[Hình:Cocmualan.JPG|nhỏ|phải|250px|[[Tranh Đông Hồ]] vẽ cảnh [[múa lân - sư - rồng|múa lân]], các nhân vật trong tranh sử dụng một số [[nhạc cụ Việt Nam]] như trống cái, [[kèn bầu]], [[thanh la]]]]
[[Tập_tin:Cocmualan.JPG|phải|nhỏ|250x250px|[[Tranh Đông Hồ]] vẽ cảnh [[Múa lân - sư - rồng|múa lân]], các nhân vật trong tranh sử dụng một số [[nhạc cụ Việt Nam]] như trống cái, [[kèn bầu]], [[thanh la]]]]


==Sử dụng==
==Sử dụng==
Là nhạc cụ [[hòa tấu]] dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng, trong biểu diễn nghệ thuật và thông tin trong cộng đồng (báo động, điểm giờ, cổ động...). Nghi lễ đánh trống khai giảng năm học mới đã trở thành một phần không thể thiếu trong [[văn hóa Việt Nam]] ngày nay.
Là nhạc cụ [[hòa tấu]] dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng, trong biểu diễn nghệ thuật và thông tin trong cộng đồng (báo động, điểm giờ, cổ động...). Nghi lễ đánh trống khai giảng năm học mới đã trở thành một phần không thể thiếu trong [[văn hóa Việt Nam]] ngày nay.


Vào [[thế kỷ 15]] và [[thế kỷ 16|16]] trống cái đã xuất hiện trong các dàn nhạc như ''Đường thượng chi nhạc'' và [[Nhã nhạc cung đình Huế|Nhã nhạc]]. Đến thế kỷ 18 người ta nhận thấy sự có mặt của nó trong dàn nhạc lễ và trong các ban nhạc sân khấu như [[tuồng]], [[chèo]] để tạo không khí kịch tính. Tại [[Tây Nguyên]], trống cái tham gia hòa tấu với dàn nhạc [[cồng chiêng]], còn ở [[Vùng Tây Bắc (Việt Nam)|Tây Bắc]] nó xuất hiện trong đám [[múa lân - sư - rồng|múa sư tử]], [[điệu xòe hoa]] (của [[người Thái]]).
Vào [[thế kỷ 15]] và [[Thế kỷ 16|16]] trống cái đã xuất hiện trong các dàn nhạc như ''Đường thượng chi nhạc'' và [[Nhã nhạc cung đình Huế|Nhã nhạc]]. Đến thế kỷ 18 người ta nhận thấy sự có mặt của nó trong dàn nhạc lễ và trong các ban nhạc sân khấu như [[tuồng]], [[chèo]] để tạo không khí kịch tính. Tại [[Tây Nguyên]], trống cái tham gia hòa tấu với dàn nhạc [[cồng chiêng]], còn ở [[Vùng Tây Bắc (Việt Nam)|Tây Bắc]] nó xuất hiện trong đám [[Múa lân - sư - rồng|múa sư tử]], [[điệu xòe hoa]] (của [[người Thái]]).


Trống cái là nhạc cụ chủ đạo trong [[Hát xoan|Hát Xoan Phú Thọ]], đóng vai trò giữ nhịp.
== Chú thích ==
{{tham khảo}}


== Chú thích ==
<references></references>
{{Nhạc cụ dân gian Việt Nam}}
{{Nhạc cụ dân gian Việt Nam}}

[[Thể loại:Nhạc cụ dân gian Việt Nam]]
[[Thể loại:Nhạc cụ dân gian Việt Nam]]
[[Thể loại:Nhạc cụ kích phát]]
[[Thể loại:Nhạc cụ kích phát]]

Phiên bản lúc 15:45, ngày 16 tháng 2 năm 2025

Trống lệnh dùng trong quân đội thời Tây Sơn

Trống cái (trống đại, đại cổ) là nhạc cụ bộ gõ, chi gõ, không định âm, có kích thước lớn, xuất hiện ở khắp Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Dù ở đồng bằng hay miền núi người ta đều nhận ra sự có mặt của trống cái.

Nó không chỉ đơn thuần là một nhạc cụ mà đã trở thành một dụng cụ thông tin trong trường học, quân đội, lễ hội... từ xưa đến nay.

Cấu tạo

Theo định nghĩa "trống cái" là trống lớn (đại cổ). Người ta thường quy ước loại trống có đường kính mặt từ 50, 60 cm trở lên là trống cái.[1]

Trống cái của các dân tộc Việt Nam có những đặc điểm sau:

  • Hai mặt trống bịt da (thường là da trâu, bò), được cố định bằng đinh. Cũng có một số loại trống cái căng dây xạ như trống cơm, điển hình là trống k'thu của dân tộc Cơ Tu.[2][3][4]
  • Tang trống bằng gỗ, hình trụ khum. Các nghệ nhân làng trống Đọi Tam quan niệm: "da trâu tang mít", dùng gỗ mít làm thân trống sẽ cho ra âm thanh hay.[5]

Người ta thường treo trống bằng quai xách trên thân, hoặc đặt trên giá gỗ hay kim loại[6].

Âm thanh

Âm thanh trống trầm và vang xa. Người ta có thể dùng một hoặc hai dùi gỗ để đánh trống (tùy theo tính chất của công việc). Cách đánh trống có nhiều cách: đánh giữa mặt trống, rìa mặt trống hay tang trống,... Mỗi cách đều tạo âm sắc riêng. Có thể đánh nhanh hoặc chậm tùy trường hợp.

Tranh Đông Hồ vẽ cảnh múa lân, các nhân vật trong tranh sử dụng một số nhạc cụ Việt Nam như trống cái, kèn bầu, thanh la

Sử dụng

Là nhạc cụ hòa tấu dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng, trong biểu diễn nghệ thuật và thông tin trong cộng đồng (báo động, điểm giờ, cổ động...). Nghi lễ đánh trống khai giảng năm học mới đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa Việt Nam ngày nay.

Vào thế kỷ 1516 trống cái đã xuất hiện trong các dàn nhạc như Đường thượng chi nhạcNhã nhạc. Đến thế kỷ 18 người ta nhận thấy sự có mặt của nó trong dàn nhạc lễ và trong các ban nhạc sân khấu như tuồng, chèo để tạo không khí kịch tính. Tại Tây Nguyên, trống cái tham gia hòa tấu với dàn nhạc cồng chiêng, còn ở Tây Bắc nó xuất hiện trong đám múa sư tử, điệu xòe hoa (của người Thái).

Trống cái là nhạc cụ chủ đạo trong Hát Xoan Phú Thọ, đóng vai trò giữ nhịp.

Chú thích

  1. ^ Túy-Phượng, Trần Lê (ngày 14 tháng 7 năm 2015). "Nhạc cụ cổ truyền VN – Trống". Đọt Chuối Non (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  2. ^ Nẵng, Báo Công an TP Đà. "Giá trị nhân văn trong kho tàng âm nhạc người Cơ tu". cadn.com.vn. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  3. ^ thanhnien.vn (ngày 12 tháng 2 năm 2024). "Tết của người dân Đồng bào miền núi Cơ Tu ở Nam Đông". thanhnien.vn. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  4. ^ TIỂU VŨ - T.V (ngày 3 tháng 6 năm 2023), Tung tung da dá – “Vũ điệu dâng trời” của người Cơ Tu, truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025
  5. ^ "Nghìn năm làng trống dưới chân núi Đọi". Báo Giáo dục và Thời đại Online. ngày 13 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2025.
  6. ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2021.