Đoan tần
| Thanh Thánh Tổ Đoan tần 清聖祖端嫔 | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Khang Hi Đế tần | |||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | ? | ||||
| Mất | 3 tháng 6, 1720 | ||||
| An táng | 10 tháng 10, 1720 Phi viên tẩm của Cảnh lăng (景陵), Thanh Đông lăng | ||||
| Phối ngẫu | Thanh Thánh Tổ Khang Hi Hoàng đế | ||||
| Hậu duệ | Hoàng nhị nữ | ||||
| |||||
| Tước hiệu | [Cách cách; 格格] [Tiểu Phúc tấn; 小福晋] [Đoan tần; 端嫔] | ||||
| Thân phụ | Đổng Đức Khải | ||||
Đoan tần Đổng thị (chữ Hán: 端嫔董氏, ? – 3 tháng 6 năm 1720), là một phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.
Thân thế
Đoan tần tên là Ô Nãi (乌鼐), xuất thân từ họ Đổng thị ở Phủ Thuận, là người Hán nhập kỳ, thủy tổ nhập kỳ của bà tên là Đổng Văn Tuyển (董文选), đầu triều Thanh được biên vào Bao y kỳ tịch, là người dưới quyền của Kỳ cổ Tá lĩnh thứ 2 thuộc Đệ ngũ Tham lĩnh Bao y Chính Hoàng kỳ. Gia tộc họ Đổng từ đầu triều đã đảm nhiệm chức Kỳ cổ Tá lĩnh, cháu 4 đời của Đổng Văn Tuyển là Đổng Đức Quý (董德贵), với tư cách là Bao y Tá lĩnh tòng chinh, có công được phong Nhị đẳng Khinh xa Đô úy, khiến gia tộc gia nhập vào hàng ngũ quân công thế gia. Con trai của Đổng Đức Quý là Đổng Điện Bang (董殿邦) kế thừa tước vị, làm quan đến chức Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần, lại gia nhập vào hàng ngũ quan viên cấp cao. Cha của Đoan tần tên là Đổng Đức Khải (董德启), tên cũng viết là Đổng Đạt Tề (董达齐), là chú của Đổng Đức Quý, làm quan đến chức Hội kế ty Viên ngoại lang, qua đời vào tháng 10 năm Khang Hi thứ 18 (1679)[1], là quan viên trung cấp của Nội vụ phủ.[2]
Nhập cung
Dựa theo Tấu tiêu đương (奏销档) của Nội vụ phủ triều Khang Hi ghi lại, ngày mồng 6 và mồng 9 tháng 9 năm Khang Hi thứ 2 (1663), Chiêu Thánh Thái hoàng thái hậu tổng cộng đã xem 30 vị Tú nữ Nội vụ phủ, trong đó chọn ra 3 người, và truyền chỉ: "Truyền cho Viên ngoại lang Dụ Kỳ đem 3 người con gái này vào giờ Thìn ngày 20 tháng 9 giao cho nhũ mẫu của Đồ Khắc Thiện, đưa vào chỗ Hãn."[3] Sau khi 3 vị Tú nữ này vào cung, vào ngày mồng 5 tháng 10, một người trong số đó vì giọng nói không tốt mà bị đưa ra khỏi cung đình, 2 người còn lại đều được ban cho cấp bậc "Tảo kháng nữ tử" (nữ tử quét dọn)[4]. Họ lần lượt là "con gái Ô Nãi của Đổng Đức Quý Tá lĩnh Đổng Đức Khải" và "con gái Cách Lan Châu của A Minh A Tá lĩnh Cách Lặc"[5], trong đó người trước chính là Đoan tần. Đoan tần sau khi vào cung, được Thánh Tổ thu làm hậu cung chủ vị vào lúc nào, trong tình huống nào, hiện tại đều không rõ.
Ngày 28 tháng 7 năm Khang Hi thứ 8 (1669), Chiêu Thánh Thái hoàng thái hậu hạ đạt chỉ ý, tăng thêm số lượng gấm vóc được ban cho các vị Thứ phi dưới trướng Thánh Tổ. Trong đó, ngoài Vinh phi và Thứ phi Trương thị đã sinh con cái lần lượt được thăng lên 20 tấm gấm và 18 tấm gấm, còn có 5 vị Cách cách được thăng lên 12 tấm gấm, trong đó có Đoan tần và Cách Lan Châu người cùng vào cung với bà.
Tháng 3 năm Khang Hi thứ 10 (1671), Đoan tần sinh hạ Hoàng nữ thứ 2 cho Thánh Tổ, cấp bậc vị phân của bà cũng thăng lên Tiểu Phúc tấn, là một trong 4 vị Tiểu Phúc tấn dưới trướng Thánh Tổ lúc bấy giờ[6], vị phân cấp bậc thấp hơn Trữ Tú cung Cách cách và 6 vị Cách cách Ngoại Bát kỳ mới vào cung. Năm Khang Hi thứ 12 (1673), con gái do Đoan tần sinh ra chết yểu, sau đó Đoan tần cũng không sinh thêm con cái.
Năm Khang Hi thứ 16 (1677), Đoan tần là lứa hậu cung chủ vị đầu tiên được chính thức sách phong, được phong làm Tần, trong thượng dụ xếp thứ 3 trong 7 Tần. Phong hào Đoan (端) của Đổng thị ban đầu có Mãn văn là 「duwan」, chưa được dịch nghĩa tới sau khi qua đời, thì vào thời Càn Long được dịch lại là「tob」[7], có nghĩa là "Đoan chính".
Năm Khang Hi thứ 20 (1681), có 4 vị Tần được tấn phong làm Phi, Đoan tần lại không nằm trong số đó. Sau đó, Đoan tần ở vị trí Tần hơn 40 năm, hoăng thệ vào ngày 28 tháng 4 năm Khang Hi thứ 59 (1720). Nội vụ phủ khi xử lý tang nghi của bà, cơ bản đã làm theo lệ cũ của Hy tần[8]. Ngày mồng 9 tháng 9 cùng năm, bà được phụng an tại Cảnh lăng Phi viên tẩm.
Trong văn hóa đại chúng
| Năm | Phim | Diễn viên | Nhân vật |
Tham khảo
- ↑ 《口奏绿头牌红白本档案》,康熙十八年十月十二日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
- ↑ 此段董氏谱系,整理自《八旗满洲氏族通谱》《清代谱牒档案(缩微胶卷)》《八旗通志初集》《钦定八旗通志》《爱新觉罗宗谱》。
- ↑ 《绿头牌档》,康熙二年七月初七日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
- ↑ 《口奏档案》,康熙二年十月十五日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
- ↑ 《口奏档案》,康熙二年九月初六日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。谨按,在《奏销档》中,提及端嫔名讳的有数次,其中有一两次将其闺名写为"二姐",其实是因当时选中的三位秀女闺名串写之误。
- ↑ 《口奏绿头牌及白头本档案》,康熙十年七月十一日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
- ↑ 《为列祖列宗册封妃嫔字号事咨覆》,嘉庆六年正月,档案号:03-0197-3622-027,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 《口奏绿头牌白本档案》,康熙五十九年四月二十八日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。