Y Nhĩ Căn Giác La
| Y Nhĩ Căn Giác La | |||||||
| Tên tiếng Trung | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Phồn thể | 伊爾根覺羅 | ||||||
| Giản thể | 伊尔根觉罗 | ||||||
| |||||||
| Tên tiếng Mãn | |||||||
| Bảng chữ cái tiếng Mãn | | ||||||
Y Nhĩ Căn Giác La (phiên âm tiếng Mãn: Irgen Gioro; tiếng Trung: 伊爾根覺羅; bính âm: Yīěrgēn Juéluó) là một trong tám gia tộc lớn nhất của người Mãn và là gia tộc lớn nhất của thị tộc Giác La.[1]
Là một gia tộc lớn của người Mãn, hậu duệ của Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông thời nhà Kim, thành viên họ Y Nhĩ Căn Giác La phân bổ rộng rãi và được chia tiếp thành các họ tộc nhỏ hơn. Tộc Y Nhĩ Căn Giác La tập trung tại Diệp Hách (Yehe) và Mục Khê (Musi) vào thời nhà Thanh. Ngoài ra, thành viên tộc Y Nhĩ Căn Giác La còn có nguồn gốc từ Ô Lạp (Ula), núi Trường Bạch và các nơi khác.Thuộc tương hoàng kỳ,sau vì một số biến đổi mà một nhánh nhỏ là tương lam kỳ.
Dưới triều Thanh, gia tộc Y Nhĩ Căn Giác La có 40 tá lĩnh (niru, tiếng Trung: 佐領; bính âm: zuǒlǐng), lớn thứ 5[2] trong tất cả các gia tộc Mãn Châu.
Sau cách mạng Tân Hợi, đại đa số hậu duệ gia tộc Y Nhĩ Căn Giác La đã cải tộc sang họ Triệu.
Xem thêm
Tham khảo
- ↑ "揭開努爾哈赤姓氏之謎". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2012.
- ↑ 详见《大清会典》