Bước tới nội dung

William của Đan Mạch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
William Henry của Đan Mạch
Công tước xứ Gloucester
Thông tin chung
Sinh24 tháng 7 năm 1689
Cung điện Hampton Court, Luân Đôn
Mất30 tháng 7 năm 1700 (11 tuổi)
Lâu đài Windsor, Berkshire
An táng9 tháng 8 năm 1700
Tu viện Westminster
Tên đầy đủ
William Henry
Vương tộcNhà Oldenborg
Thân phụJørgen của Đan Mạch
Thân mẫuAnne I của Anh Vua hoặc hoàng đế

William Henry của Đan Mạch, Công tước xứ Gloucester[1] (24 tháng 7 năm 1689 - 30 Tháng 7 năm 1700), là con trai của Anne I của Đại AnhJørgen của Đan Mạch, Công tước xứ Cumberland. Cậu là người con duy nhất của họ sống sót sau khi sinh. Được gọi là Công tước xứ Gloucester, William đã được nhìn nhận là người thừa kế đạo Tin Lành vì cậu sinh ra được coi như để củng cố các sự kế vị đạo Tin Lành được thành lập trong "Cách mạng Vinh quang" mà đã lật đổ ông ngoại là vị vua Công giáo James II của năm trước.

Tiểu sử

Sinh vào ngày 30 tháng 7 năm 1689 tại Cung điện Hampton Court, London. Ba ngày sau, đứa trẻ sơ sinh được đặt tên là William Henry theo tên người bác có cùng tên là William, và được Henry Compton, Giám mục London, làm lễ rửa tội. Cha mẹ đỡ đầu của ông là Nhà vua cùng với Hầu tước phu nhân xứ Halifax.[2] William ngay từ khi sinh ra đã được công nhận là người đứng thứ hai trong danh sách kế vị ngai vàng của Anh và Scotland. Một năm trước đó, ông ngoại của ông, Quốc vương James II, đã bị phế truất trong Cách mạng Vinh quang. Quốc vương William III và Nữ vương Mary II, em gái và anh rể của Anne, giờ đây lên ngôi. Vì hai người không có con, do đó Vương nữ Anne được công nhận là người thừa kế của họ, các con của bà sẽ kế vị ngai vàng sau bà.

William ốm yếu từ nhỏ: ba tuần sau khi sinh ông bị co giật, và sau này phát triển thành não úng thủy. Đầu ông to bất thường, từng phải chọc dịch não để giảm áp lực. Ông nói được khi 3 tuổi, đi lại khó khăn, thường bị điều trị bằng các phương pháp y học đương thời. Cậu được nuôi dưỡng tại Kensington, sau chuyển đến Campden House. Mặc dù sức khỏe kém, cậu vẫn là hy vọng kế vị của phe ủng hộ Cách mạng.

Giáo dục

Việc học của William bắt đầu muộn vì chậm nói. Năm 1693, mục sư Samuel Pratt được chọn làm thầy dạy, tập trung vào địa lý, toán, tiếng Latintiếng Pháp, nhưng Gloucester vẫn gắn bó hơn với người hầu Jenkin Lewis vì Lewis hiểu về quân sự và hỗ trợ cậu chỉ huy đội Đội cận vệ ngựa gồm trẻ địa phương.

Xung đột giữa Anne với William và Mary khiến Gloucester phải đến thăm họ thường xuyên để giữ hòa khí. Việc này giúp cậu gần gũi họ hơn, đặc biệt là Mary. Sau khi Mary mất năm 1694, Anne và William hòa giải tạm thời và chuyển đến cung điện St James.

Năm lên bảy, Gloucester được phong Hiệp sĩ Garter. Cậu tham gia săn nai và được mẹ mô tả là khỏe mạnh nhưng không đẹp. Trong vụ xét xử âm mưu chống vua William, Gloucester gửi thư thề trung thành, và cả đội “Horse Guards” của cậu cũng tuyên thệ.

Năm 1697, Quốc hội cấp tiền lập hộ cho Gloucester, làm bùng lại mâu thuẫn giữa Anne và William. William bổ nhiệm giám giáo Gilbert Burnet, khiến Anne bất mãn, nhưng bà được phép chọn các người hầu cấp thấp. Bá tước Marlborough làm thống đốc của cậu.

Burnet dạy Gloucester bằng những bài giảng dài và yêu cầu học thuộc lòng. Các bộ trưởng kiểm tra định kỳ và khen trí nhớ của cậu. Đội “Horse Guards” bị giải tán, và cậu được phong chỉ huy danh dự một trung đoàn Hà Lan. Năm 1699, Gloucester dự phiên tòa xử hai quý tộc bị cáo buộc giết người.

Gia phả

Ghi chú

Tham khảo

  1. Gregg, Edward (ngày 1 tháng 1 năm 2001). Queen Anne (bằng tiếng Anh). Yale University Press. tr. 72. ISBN 978-0-300-09024-6.
  2. "[TCP] An exact catalogue of the nobility of England and lords spiritual, according to their resective precedencies with all their titles of honor (whether by creation, succession, or office), and the particular times of their several promotions : together with their paternal coats of arms, and also those of the Archiepiscopal and Episcopal sees in blazon / by Robert Dale, Gent. ..." ota.bodleian.ox.ac.uk. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.