Vụ Bản (huyện)
Vụ Bản | |||
|---|---|---|---|
| Huyện | |||
Một góc thị trấn Gôi | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng | Đồng bằng sông Hồng | ||
| Tỉnh | Nam Định | ||
| Trung tâm hành chính | Thị trấn Gôi | ||
| Phân chia hành chính | 1 thị trấn, 13 xã | ||
| Thành lập | 1861 | ||
| Giải thể | 1 tháng 7 năm 2025 | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 20°20′00″B 106°05′56″Đ / 20,333196°B 106,098834°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 152,81 km² | ||
| Dân số (1/4/2019) | |||
| Tổng cộng | 130.862 người[1] | ||
| Mật độ | 856 người/km² | ||
| Dân tộc | Chủ yếu là người Kinh | ||
| Khác | |||
| Mã hành chính | 359[2] | ||
| Biển số xe | 18-C1 | ||
Vụ Bản là một huyện cũ nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nam Định cũ, Việt Nam.
Địa lý
Huyện Vụ Bản có vị trí địa lý:
Lịch sử
Thời Hùng Vương, huyện Vụ Bản có tên là Bình Chương thuộc bộ Lục Hải, thời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Trước thời Lý - Trần, đất này nằm trong huyện Hiển Khánh. Thời Lý, huyện Thiên Bản nằm trong phủ Ứng Phong; đời Trần huyện Thiên Bản thuộc phủ Kiến Hưng. Năm Vĩnh Lạc thứ năm nhà Minh (1407), đổi làm huyện Yên Bản thuộc phủ Kiến Bình. Năm Vĩnh Lạc thứ mười ba nhà Minh (1415), đổi huyện Độc Lập thành Bình Lập cho sáp nhập vào huyện Yên Bản. Đến đời Lê Thánh Tông lại đổi thành huyện Thiên Bản. Cũng dưới thời Lê Hồng Đức, huyện Thiên Bản thuộc phủ Nghĩa Hưng. Đến thời Nguyễn, Tự Đức năm thứ 14 (1861) đổi tên thành huyện Vụ Bản.
Sau Cách mạng Tháng Tám và điều chỉnh địa giới hành chính thành lập các xã mới, huyện Vụ Bản gồm 28 xã: Bảo Xuyên, Cốc Thành, Cộng Hòa, Đại An, Đồng Minh, Đồng Tâm, Duy Tân, Hưng Đạo, Hùng Vương, Khánh Lão, Kim Thái, Lê Lợi, Liên Hòa, Liên Minh, Liên Phương, Lục Hợp, Minh Tân, Nhất Trí, Quang Trung, Tam Hào, Tân Dân, Tân Thành, Thanh Côi, Thuận Thành, Thụy Hòa, Trùng Khánh, Trung Thành, Vĩnh Hào.
Năm 1948, đổi tên một số xã có tiền tố có chữ "Vụ" và hậu tố có chữ "Bản" như sau:[3]
- Đổi tên xã Bảo Xuyên thành xã Vụ Xuyên.
- Đổi tên xã Cốc Thành thành xã Bản Thành.
- Đổi tên xã Cộng Hòa thành xã Vụ Hòa.
- Đổi tên xã Đại An thành xã Vụ An.
- Đổi tên xã Đồng Minh thành xã Vụ Đồng.
- Đổi tên xã Đồng Tâm thành xã Bản Đông.
- Đổi tên xã Duy Tân thành xã Vụ Tân.
- Đổi tên xã Hưng Đạo thành xã Vụ Hưng.
- Đổi tên xã Hùng Vương thành xã Bản Hùng.
- Đổi tên xã Khánh Lão thành xã Vụ Hiên.
- Đổi tên xã Kim Thái thành xã Vụ Thái.
- Đổi tên xã Lê Lợi thành xã Bản Lợi.
- Đổi tên xã Liên Hòa thành xã Bản Liên.
- Đổi tên xã Liên Minh thành xã Bản Minh.
- Đổi tên xã Liên Phương thành xã Vụ Liên.
- Đổi tên xã Lục Hợp thành xã Vụ Hợp.
- Đổi tên xã Minh Tân thành xã Vụ Minh.
- Đổi tên xã Nhất Trí thành xã Bản Trí.
- Đổi tên xã Quang Trung thành xã Vụ Quang.
- Đổi tên xã Tam Hào thành xã Bản Tam.
- Đổi tên xã Tân Dân thành xã Vụ Dân.
- Đổi tên xã Tân Thành thành xã Bản Tân.
- Đổi tên xã Thanh Côi thành xã Bản Thanh.
- Đổi tên xã Thuận Thành thành xã Vụ Thành.
- Đổi tên xã Thụy Hòa thành xã Vụ Lâm.
- Đổi tên xã Trùng Khánh thành xã Vụ Khánh.
- Đổi tên xã Trung Thành thành xã Vụ Trung.
- Đổi tên xã Vĩnh Hào thành xã Bản Vĩnh.
Sau cuộc Cải cách hành chính năm 1956, 28 xã đổi tên lại như cũ trước năm 1948.
Ngày 19 tháng 8 năm 1964, sáp nhập xóm Hữu Dụng thuộc xã Thanh Côi, vào xã Yên Mỹ, huyện Ý Yên; sáp nhập các xóm Đại Lão, Cầu Nhân và Phú Vinh thuộc xã Khánh Lão, vào xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc; sáp nhập thôn Vàn Tập thuộc xã Cộng Hòa vào xã Minh Tân; sáp nhập xóm Phú Thọ thuộc xã Tam Hào vào xã Thanh Côi; sáp nhập xóm Thượng Linh thuộc xã Lê Lợi vào xã Hùng Vương.[4]
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Vụ Bản thuộc tỉnh Nam Hà do hợp nhất hai tỉnh Hà Nam và Nam Định.
Ngày 13 tháng 6 năm 1967, hợp nhất một số xã và điều chỉnh địa giới hành chính như sau:[5]
- Hợp nhất hai xã Tam Hào và Thanh Côi thành xã Tam Thanh.
- Hợp nhất hai xã Liên Phương và Bảo Xuyên thành xã Liên Bảo.
- Hợp nhất hai xã Duy Tân và Trùng Khánh thành xã Tân Khánh.
- Hợp nhất hai xã Đồng Minh và Thuận Thành thành xã Minh Thuận.
- Hợp nhất hai xã Cốc Thành và Lê Lợi thành xã Thành Lợi.
- Hợp nhất ba xã Khánh Lão, Tân Dân và Thụy Hòa thành xã Hiển Khánh.
- Sáp nhập xã Liên Hòa vào xã Liên Minh.
- Sáp nhập xã Nhất Trí vào xã Đồng Tâm.
- Giải thể xã Hưng Đạo, địa bàn sáp nhập vào hai xã Đại An và Lục Hợp. Đồng thời, đổi tên xã Lục Hợp thành xã Hợp Hưng.
Sau khi điều chỉnh, huyện Vụ Bản còn lại 18 xã: Cộng Hòa, Đại An, Đồng Tâm, Hiển Khánh, Hợp Hưng, Hùng Vương, Kim Thái, Liên Bảo, Liên Minh, Minh Tân, Minh Thuận, Quang Trung, Tam Thanh, Tân Khánh, Tân Thành, Thành Lợi, Trung Thành, Vĩnh Hào.
Ngày 23 tháng 2 năm 1974, giải thể xã Đồng Tâm; chuyển hai thôn Nhất Trí và Đại Đồng của xã Đồng Tâm vào xã Hùng Vương; chuyển thôn Mỹ Trung của xã Đồng Tâm vào xã Thành Lợi. Đồng thời, đổi tên xã Hùng Vương thành xã Đại Thắng.[6]
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Vụ Bản thuộc tỉnh Hà Nam Ninh do hợp nhất hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình.
Ngày 1 tháng 2 năm 1978, chuyển các thôn Thám Thanh, Vụ Nữ, Đức Hòa của xã Hiển Khánh vào xã Hợp Hưng.[7]
Ngày 1 tháng 4 năm 1986, thành lập thị trấn Gôi (thị trấn huyện lỵ của huyện Vụ Bản) trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của xã Tam Thanh.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1104/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Nam Định (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 2024).[8] Theo đó:
- Sáp nhập 2 xã Minh Thuận và Tân Khánh vào xã Minh Tân.
- Sáp nhập 2 xã Tân Thành và Liên Bảo vào xã Thành Lợi.
Huyện Vụ Bản có 1 thị trấn và 13 xã như hiện nay.
Hành chính
Huyện Vụ Bản gồm thị trấn Gôi (huyện lỵ) và 13 xã: Cộng Hòa, Đại An, Đại Thắng, Hiển Khánh, Hợp Hưng, Kim Thái, Liên Minh, Minh Tân, Quang Trung, Tam Thanh, Thành Lợi, Trung Thành, Vĩnh Hào.
Kinh tế - xã hội

Truyền thống
Huyện Vụ Bản là vùng đất có truyền thống hiếu học, nhiều người đã đỗ đạt cao, có danh vọng, đóng góp vào kho tàng văn hoá của dân tộc. Trong suốt thời kỳ khoa cử của chế độ phong kiến Việt Nam, Vụ Bản có 16 vị đỗ Tiến sĩ, Thám hoa, Bảng nhãn, Trạng nguyên. Danh nhân tiêu biểu phải kể đến Trạng nguyên Lương Thế Vinh, là một nhà chính trị xuất sắc, đứng đầu viện hàn lâm đảm trách việc văn thư cho nhà vua, lo việc bang giao với nước ngoài, luận bàn việc nước. Ông từng tham gia dạy học, đặc biệt cũng rất quan tâm đến phát triển kinh tế, mở mang đường sá,...
Con người
Vụ Bản là một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ, khí thiêng sông núi đã hình thành và hun đúc nên truyền thống quý báu của người dân nơi đây. Người dân Vụ Bản hiếu học, cần cù lao động, kiên cường dũng cảm chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm, thủy chung tình nghĩa trong cuộc sống có tinh thần tự lực tự cường và ý thức cộng đồng sâu sắc, luôn kế thừa và phát huy truyền thống cha ông, làm rạng danh quê hương, đất nước. Truyền thống đó như sợi chỉ đỏ nối liền quá khứ với hiện tại, tạo nên sức sống, trí tuệ, khí phách của người dân Vụ Bản. "Địa linh sinh nhân kiệt", nơi đây đã sinh thành nhiều nhân vật nổi tiếng như Nhà sử học Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Phạm Bình Minh, Thượng tướng Song Hào, Nhà thơ Nguyễn Bính, Nhạc sĩ Văn Cao, Giáo sư nông học Bùi Huy Đáp - người có công mở ra hướng mới trong sản xuất nông nghiệp: trồng lúa chiêm xuân,...
Kinh tế - Văn hóa - Nông nghiệp
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện và sự cố gắng nỗ lực của các tầng lớp nhân dân, diện mạo kinh tế - xã hội huyện Vụ Bản đã có nhiều đổi mới trên mọi lĩnh vực. Với vị trí địa lý và mạng lưới giao thông đồng bộ là điều kiện thuận lợi để Vụ Bản phát triển các loại hình dịch vụ, vận tải hàng hoá và giao lưu kinh tế, văn hoá với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Vụ Bản có nguồn nhân lực dồi dào, người dân vốn có truyền thống anh hùng, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù chịu khó trong lao động sản xuất.
Đến cuối năm 2015, có trên 60 nghìn người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 45% dân số, trong đó, số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ gần 60% lực lượng lao động. Đây là tiềm năng to lớn, đáp ứng sức lao động cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện; thế mạnh chủ yếu của nguồn lao động là cần cù, ham học và có tay nghề truyền thống khéo léo.
Hiện nay, về Nông nghiệp: Huyện Vụ Bản đã thực hiện xong công tác dồn điền đổi thửa đối với đất nông nghiệp; xây dựng xong Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp và đang triển khai thực hiện trên địa bàn. Đồng thời, huy động mọi nguồn lực để thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Từng bước triển khai xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn (05/18 xã xây dựng là xã: Vĩnh Hào, Minh Tân, Thành Lợi, Đại Thắng, Trung Thành), gắn liền với cơ giới hóa trong nông nghiệp. Tiếp tục chuyển diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng rau màu và nuôi trồng thủy sản. Tổng diện tích gieo trồng bình quân hàng năm 21.200 ha, trong đó diện tích cấy lúa 16.870 ha, diện tích giống lúa chất lượng cao 8.300 ha, chiếm 50% diện tích. Tổng sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt 95.558 tấn. Giá trị 1 ha canh tác đạt 93,5 triệu đồng/năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,1%/năm. Về phát triển Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp: Đã xây dựng được 01 khu công nghiệp Bảo Minh, với diện tích 165ha, trong tương lai sẽ còn tiếp tục được mở rộng. Đến thời điểm tháng 9/2016, đã có 10 nhà đầu tư thứ cấp đăng ký và đầu tư xây dựng xưởng sản xuất, tỷ lệ lấp đầy 80% diện tích, thu hút khoảng 8.500 công nhân vào làm việc cho thu nhập ổn định với mức lương đảm bảo đạt từ 3,5 đến 4,5 triệu đồng/tháng. 02 cụm Công nghiệp ở xã Quang Trung và xã Trung Thành, các nhà đầu tư đã từng bước đi vào sản xuất đem lại hiệu quả. Các ngành dịch vụ, du lịch, thương mại phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Giáo dục - Đào tạo tiếp tục phát triển; công tác y tế, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ; các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, phát thanh, truyền thanh, bưu chính, viễn thông phát triển rộng khắp, góp phần tích cực, hiệu quả trong việc đưa thông tin về chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; về văn hóa xã hội, khoa học công nghệ; về các phong trào thi đua, các điển hình tiên tiến... đến cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Những thành tựu trong phát triển kinh tế đã làm cho diện mạo quê hương Vụ Bản từng bước hướng tới văn minh, giàu đẹp, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần.
Trong những năm tới, Vụ Bản sẽ tiếp tục phấn đấu vươn lên để có thể sớm trở thành một trong những huyện giàu mạnh, văn minh, vững vàng theo kịp tiến trình hội nhập kinh tế cùng cả nước, xứng đáng với danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân mà Đảng và Nhà nước trao tặng.
Văn hóa
Cụm di tích Phủ Giày thuộc xã Kim Thái, thờ Mẫu Liễu Hạnh là một trong Tứ bất tử và là nhân vật đứng đầu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Tứ Phủ Việt Nam. Cụm di tích này gồm Phủ Thiên Hương được xây từ thời Lê Cảnh Trị; Phủ Vân Cát rộng gần 1ha gồm 7 tòa với 30 gian lớn nhỏ; Lăng bà chúa Liễu được xây dựng bằng đá xanh, diện tích 625 mét vuông, có 60 búp sen hồng.
Huyện có nhiều lễ hội nổi tiếng như: hội Phủ Giầy (từ mùng 1 đến 10 tháng 3 âm lịch, chính hội vào tối mùng 5), chợ Viềng (đêm mùng 7, ngày mùng 8 tết Âm lịch),...

Huyện Vụ Bản thuộc vùng đất cổ, đất đai tương đối ổn định. Dọc phía tây huyện có các dãy núi đất lẫn đá chạy từ Bắc xuống Nam với sáu ngọn núi: Núi Ngăm, núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi và núi Hổ. Dấu vết người nguyên thủy tìm thấy tại các khu vực núi này minh chứng Vụ Bản là một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ. Vụ Bản nằm kẹp giữa sông Đào và sông Sắt. Sông Đào một đầu nối với Sông Hồng, đầu kia đổ ra sông Đáy. Sông Sắt nối liền sông Châu với sông Đáy. Mảnh đất này chính là do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi tụ nên. Đã từ lâu huyện Vụ Bản được nhiều người biết đến với Chợ Viềng xuân và Lễ hội Phủ Dầy.
Huyện Vụ Bản còn có non Côi (núi Gôi) và một vùng đất lầy là dấu vết sông Vị Hoàng đã để lại. Hai di tích này được nhắc đến trong câu sau:
| “ | Anh đi anh nhớ non Côi Nhớ sông Vị Thủy, nhớ người tình chung Quản bao non nước ngại ngùng Lấy ai san sẻ gánh gồng đường xa | ” |
Huyện có nhiều truyền thống văn hóa, có nhiều danh nhân nổi tiếng như: Liễu Hạnh Công chúa,Trạng nguyên và nhà toán học Lương Thế Vinh, nhà thơ Nguyễn Bính, nhà cách mạng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Thuận, nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Văn Ký, nhà thơ Vũ Tú Nam, Bộ trưởng: Nguyễn Cơ Thạch, Trần Huy Liệu, Song Hào, Phạm Bình Minh, Thứ trưởng: Bùi Văn Nam.
Giao thông
Huyện có mạng lưới giao thông vận tải thuận tiện với tuyến đường sắt Bắc Nam và các tuyến Quốc lộ 10, Quốc lộ 21, Quốc lộ 37B, Quốc lộ 38B, Tuyến vành đai 2 thành phố(TL485B) chạy qua.
- Có không gian mở kết nối giữa hai thành phố Nam Định và Ninh Bình, trên tuyến hành lang cao tốc Ninh Bình - Nam Định - Hải Phòng và các huyện phía Nam của tỉnh
- Quốc lộ 10 đi qua các tỉnh vùng duyên hải Bắc Bộ
- Quốc lộ 38B nối từ Hải Dương đến Ninh Bình đi qua.
- Tuyến vành đai 2 bao quanh thành phố và một phần trùng với TL485B nối từ thị trấn Nam Giang đến Quốc lộ 21B
Làng nghề
Các làng nghề thủ công truyền thống, nghề phụ tại các địa phương trong huyện:
- Làng nghề cơ khí, rèn Giáp Nhất (Quang Trung)
- Làng nghề đan cót nan Vĩnh Lại (Vĩnh Hào)
- Làng nghề dệt vải, sợi gạc Quả Linh (Thành Lợi)
- Làng nghề tre nứa ghép Ngõ Trang (Liên Minh)
- Làng nghề gối mây Tiên Hào (Vĩnh Hào)
- Nghề thêu ren ở Minh Tân
- Làng nghề tre nứa ghép Đại Lại (Vĩnh Hào
- Làng nghề sơn mài Hổ Sơn (Liên Minh).
Xem thêm
Tham khảo
- ↑ Xuân Lộc (ngày 24 tháng 9 năm 2019), "UBND huyện tổng kết Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019", Cổng thông tin điện tử huyện Vụ Bản, truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2020[liên kết hỏng]
- ↑ "Tổng cục Thống kê". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Địa chí Nam Định, NXB Chính trị Quốc gia (2003), trang 71, 72
- ↑ Quyết định số 219-NV năm 1964
- ↑ Địa chí Nam Định, NXB Chính trị Quốc gia (2003), trang 72
- ↑ Quyết định số 14-BT năm 1974
- ↑ Quyết định số 22-BT năm 1978
- ↑ "Nghị quyết số 1104/NQ-UBTVQH15 năm 2024 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 – 2025 của tỉnh Nam Định". Cổng thông tin điện tử Chính phủ. ngày 23 tháng 7 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.