Bước tới nội dung

Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem

Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem
Basilica Sanctae Crucis in Hierusalem (tiếng Latinh)
Mặt tiền nhà thờ vào buổi đêm
Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem trên bản đồ Rome
Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem
Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem
Địa điểm Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem tọa lạc tại thủ đô Roma, Ý
41°53′16″B 12°30′59″Đ / 41,88778°B 12,51639°Đ / 41.88778; 12.51639
Địa điểmRoma
Quốc giaÝ
Hệ pháiGiáo hội Công giáo
Truyền thốngGiáo hội Latinh
Trang chínhVương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem
Lịch sử
Cung hiến choThập giá Đích thực
Thánh hiến325
Thánh tích
Kiến trúc
Tình trạngVương cung thánh đường
Phong cáchBaroque, Tân cổ điển
Quản lý
Giáo phậnGiáo phận Roma

Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem (tiếng Ý: Basilica di Santa Croce in Gerusalemme, tiếng Anh: Basilica of the Holy Cross in Jerusalem[1]) là một vương cung thánh đường Công giáo tọa lạc tại Quận 1 của thành phố Roma, thủ đô nước Ý. Được xây dựng bắt đầu từ thế kỷ thứ 4 cạnh bên Cung điện Sessorium - dinh cư của Thánh Helena thân mẫu của Constantine Đại đế, đây là nhà thờ nằm trong bộ Bảy nhà thờ hành hương Roma.

Khác với việc xây dựng nhà thờ để tưởng nhớ các thánh tử đạo theo thông lệ, tòa vương cung thánh đường này được thánh hiến vào khoảng năm 325 để dành riêng cho mục đích lưu giữ bảo tồn cây Thánh Giá Chân Thật, cùng với các thánh tích của cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu mà Thánh Helena đã mang về thành Roma sau cuộc hành hương của bà về Đất Thánh. Nhà thờ có cụm "tại Jerusalem" trong tên gọi chính thức là bởi vì theo truyền thống Hội thánh, nền móng xây dựng vương cung thánh đường này được phủ lên bằng đất thánh hiến từ Đồi Sọ nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh, các khối đất ấy được vận tải bằng thuyền về thành Roma cùng với các thánh tích của cây Thánh Giá.[2] Vì lý do đó, nhà thờ này được người dân thời Trung Cổ gọi với biệt danh đơn giản là Hierusalem (tức thành phố Jerusalem trong tiếng Latinh), và trong truyền thống hành hương sùng kính, việc đến thăm vương cung thánh đường này đồng nghĩa với việc đã đặt chân đến thánh địa Jerusalem.

Diện mạo hiện tại của nhà thờ có từ thế kỷ 18 theo ý muốn của Giáo hoàng Biển Đức XIV, trước đó là Hồng y hiệu tòa của nhà thờ, đã tân trang thay đổi nội thất và ngoại hình của nhà thờ, tạo ra giếng trời hình elip và thay thế mặt tiền thời Trung Cổ bằng mặt tiền tân thời hơn bằng đá travertine, với thiết kể các khối lồi lõm xen kẽ tạo hiệu ứng thị giác Baroque đích thực. Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem thuộc quyền quản lý trực tiếp của Giáo phận Roma, đồng thời là nhà thờ hiệu tòa của Hồng y Juan José Omella, Tổng giám mục Chính tòa Tổng giáo phận Barcelona.

Lịch sử

Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem được xây dựng trên tàn tích của một biệt thự thời Đế quốc La Mã có tên là Horti Variani ad Spem Veterem, do Septimius Severus khởi công và Elagabalus hoàn thành vào thế kỷ thứ 3. Biệt thự này bao gồm Đấu trường Castrense, Trường đua Varianus, Nhà tắm Helena (do Thánh Helena tiến hành trùng tu), và một khu phức hợp nhà ở, bao gồm một hội trường lớn (sau này được sử dụng để xây dựng nhà thờ này) và một hội trường hình chóp.

Biệt thự La Mã này đã bị phá hủy một phần do việc xây dựng Tường thành Aurelianus vào năm 272; vào đầu thế kỷ thứ 4, cung điện được Hoàng thái hậu Helena, mẹ của Constantine Đại đế chọn làm tư dinh và được đặt tên là Cung điện Sessorium. Chính theo sáng kiến của bà, hội trường hình chữ nhật lớn kia, ban đầu được bao phủ bởi trần phẳng, đã được chuyển đổi thành một vương cung thánh đường Kitô giáo, với hai mươi cửa sổ chiếu sáng, và được trang trí bằng đá cẩm thạch tinh xảo ở nền dưới. Tên gọi Sessorium bắt nguồn từ tiếng Latin sedeo, nghĩa là "Tôi ngồi", vì vào cuối thời kỳ đế quốc, Hội đồng Hoàng đế La Mã thường họp trong một căn phòng của cung điện.

Vương cung thánh đường Thánh Giá được Giáo hoàng Grêgôriô Cả xác lập ngai tòa hồng y vào năm 523. Mặc dù nằm ở phía rìa ngoài của thành cổ Roma, nhưng nơi đây đã trở thành địa điểm truyền thống để đến viếng thăm hành hương phổ biến, nhờ tầm quan trọng lịch sử to lớn của các thánh tích mà nó lưu giữ. Suốt thời Trung Cổ, đây là điểm đến quan trọng trong những cuộc hành hương, đặc biệt là các cuộc hành hương mang tính chất thống hối, nhất là trong Mùa Chay. Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, các vị giáo hoàng đích thân đi chân trần – biểu hiện của sự sám hối – và đi bộ trong cuộc rước dọc theo con đường nối từ Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô (nhà thờ chính tòa của Roma, nơi thể chế giáo hoàng đang cư ngụ vào thời điểm đó) đến Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem để cung kính thánh tích Thánh Giá của Chúa Giêsu. Truyền thống này sau đó được Sách Lễ Rôma tiếp nối và đưa vào Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh, bao gồm việc tôn kính Thánh Giá.

Nhà nguyện Thánh tích Cuộc Khổ Nạn

Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem lưu giữ nhiều thánh tích được cho là có liên quan đến Cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Các thánh tích bao gồm ba mảnh gỗ của Thánh Giá Chân Thật, hai chiếc gai của mão gai, một chiếc đinh thánh trong sự kiện đóng đinh Chúa Giêsu và bảng hiệu thánh giá INRI. Ngoài bảng hiệu chỉ được phát hiện vào năm 1492, các thánh tích khác đã được lưu giữ bảo tồn liên tục kể từ thế kỷ thứ 4. Nhiều mảnh gỗ khác của cây thánh giá được lưu giữ trong các vương cung thánh đường quan trọng và nhà thờ chính tòa ở châu Âu, vì vào thời Trung Cổ, các giáo hoàng đã tặng chúng làm quà cho các quân chủlãnh chúa, để tạo ra các liên minh và củng cố sự ổn định chính trị của chế độ giáo hoàng.

Qua nhiều thế kỷ, các thánh tích khác đã được thêm vào thánh tích Cuộc Khổ Nạn, một số có nguồn gốc không rõ ràng, chẳng hạn như các mảnh đá từ Hang BêlemMộ Thánh, cây gỗ thập giá của Kẻ Trộm Lành, và đốt ngón tay của Thánh Tôma. Tất cả các thánh tích này đều có liên quan đến cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô và được thu thập để phục vụ mục đích giáo lý và giảng đạo. Vì lý do tương tự - tức là để hoàn thành bài giáo lý về Cuộc Khổ Nạn - một nhà nguyện mới từ năm 2002 đã được dựng lên, liền kề với Nhà nguyện Thánh tích, nơi du khách có thể tham quan một bản sao kích thước thật của Tấm khăn liệm thành Turin do Tổng giáo phận Turin gửi đến cho vương cung thánh đường này. Trên thực tế, giá trị của các thánh tích đối với khách hành hương không nằm ở việc xác nhận tính xác thực của các sự kiện lịch sử về Cuộc Khổ Nạn, mà là đóng vai trò như những công cụ quý giá cho việc giảng dạy giáo lý. Do đó, sự tôn kính của họ có giá trị tâm linh to lớn, soi sáng cho việc suy ngẫm về những đau khổ của Chúa Kitô và giúp hiểu được giá trị cứu độ của Thánh Giá.

Phép ân xá

Mặc dù không có Cửa Thánh như nhóm Tứ đại vương cung thánh đường tại Roma, nhưng do tầm quan trọng của các thánh tích được lưu giữ nơi đây, Vương cung thánh đường Thánh Giá tại Jerusalem thường xuyên có mặt trong các lệnh ban ân xá cũng như trong danh sách các địa điểm hành hương Năm Thánh mà Tòa Thánh công bố.[3][1]

Các tín hữu hành hương đến nhà thờ này luôn có thể được hưởng ơn toàn xá hoặc tiểu xá (hàng năm, ngay cả khi không phải là Năm Thánh) nhưng phải đáp ứng các điều kiện bắt buộc (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Giáo hoàng, dứt bỏ lòng quyến luyến các tội lỗi)[4] và chỉ vào một số ngày nhất định và trong những trường hợp cụ thể:

  • Ngày 14 tháng 9 (Lễ Suy tôn Thánh Giá)
  • Ngày 19 tháng 1 (Ngày tìm thấy bảng hiệu Thánh Giá hay Titulus Crucis)
  • Chúa nhật IV của Mùa ChayThứ Sáu Tuần Thánh (những ngày đi đàng Thánh Giá)
  • Mỗi thứ Sáu đầu tháng
  • Mỗi khi có một đoàn khách hành hương đến thăm và dừng lại cầu nguyện trước thánh tích
  • Mỗi năm một lần vào một ngày do mỗi tín hữu tự chọn

Danh sách Hồng y hiệu tòa

  • Amicus (1120 – 1121/2)
  • Gerardo Caccianemici (1123–44), về sau trở thành Giáo hoàng Luciô II[5]
  • Ubaldo Caccianemici (1144 – 1170/1171)
  • Ardoino da Piacenza (1178–1182)
  • Albinus (Tháng 3/1185–1189)
  • Leone Brancaleone (1202–1224)
  • Pietro d'Aquila (1294–1298)
  • Teodorico Ranieri (1298–1299)
  • Raymond de Canillac (1350–1361)
  • Gui de Maillesec (1375–1384)
  • Cosma Gentile Migliorati (1389–1404), về sau là Giáo hoàng Innôcentê VII
  • Giovanni Migliorati (1405–1410)
  • Francesco Lando (1411–1424)
  • Niccolò Albergati (1426–1433)
  • Domenico Capranica (1444–1458)[6]
  • Angelo Capranica (1460–1472)[7]
  • Pedro González de Mendoza (1478–1495)[8]
  • Bernardino López de Carvajal (1495–1507), được ủy thác in commendam (1507–1511)[9]
  • Antonio Maria Ciocchi del Monte, in commendam (1511–1527)[10]
  • Francisco de Quiñones (1527–1540)
  • Marcello Cervini (1540–1555), về sau trở thành Giáo hoàng Marcellô II
  • Bartolomé de la Cueva de Albuquerque (1555–1562)[11]
  • Giovanni Antonio Capizucchi (1562–1565)[12]
  • Francisco Pacheco de Toledo (1565–1579)
  • Albert VII, Đại vương công Áo (1580–1598)[13]
  • Francisco de Múxica Guzmán de Avila (1599–1606)
  • Ascanio Colonna (1606)
  • Antonio Zapata y Cisneros (1606–1616)
  • Gaspar de Borja y Velasco (1616–1630)
  • Baltasar Moscoso y Sandoval (1630–1665)
  • Alfonso Litta (1666–1679)
  • Johann Eberhard Neidhardt (1679–1681)
  • Decio Azzolino (1681–1683)
  • trống tòa (1683–1689)
  • Pedro de Salazar (1689–1706)
  • Ulisse Giuseppe Gozzadini (1709–1728)
  • Prospero Lambertini (1728–1740), sau trở thành Giáo hoàng Biển Đức XIV
  • Giuseppe Firrao (1740–1744)
  • Gioacchino Besozzi (1744–1755)
  • Luca Melchiore Tempi (1757–1762)
  • Ludovico Valenti (1762–1763)
  • Nicola Serra (1766–1767)
  • Antonio Eugenio Visconti (1775–1788)
  • František de Paula Hrzán z Harrasova (1788–1804)
  • trống tòa (1804–1816)
  • Alessandro Malvasia (1816–1819)
  • Placido Zurla (1823–1834)
  • Alessandro Giustiniani (1834–1843)
  • Antonio Maria Cagiano de Azevedo (1844–1854)
  • János Scitovszky (1854–1866)[14]
  • Raffaele Monaco La Valletta (1868–1884)
  • Lucido Maria Parocchi]] (1884–1889)
  • Pierre-Lambert Goossens (1889–1906)
  • Benedetto Lorenzelli (1907–1915)
  • Willem Marinus van Rossum (1915–1932)
  • Pietro Fumasoni Biondi (1933–1960)
  • Giuseppe Ferretto (1961)
  • Efrem Forni (1962–1976)
  • Victor Razafimahatratra (1976–1993)
  • Miloslav Vlk (1994–2017)
  • Juan José Omella (2017–nay)

Chú thích

  1. 1 2 "Basilica of the Holy Cross in Jerusalem" (bằng tiếng Anh). Trang web chính thức Năm Thánh 2025 - Bộ Loan báo Tin Mừng.
  2. "Storia di Santa Croce" (PDF). tr. 21. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  3. "Năm Thánh 2025: Quy định về ban ân xá". Vatican News Tiếng Việt. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
  4. SSS, Lm Giuse Phạm Đình Ái. "Các điều kiện để lãnh nhận ân xá". hdgmvietnam.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2025.
  5. Ott, Michael (1910). "Pope Lucius II". The Catholic Encyclopedia. Vol. 9. New York: Robert Appleton Company, 1910. 7 November 2017
  6. Shahan, Thomas (1908). "Domenico Capranica". The Catholic Encyclopedia. Vol. 3. New York: Robert Appleton Company. 7 November 2017
  7. "Miranda, Salvador. "Capranica, Angelo", Cardinals of the Holy Roman Church". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017.
  8. Ott, Michael (1911). "Pedro Gonzalez de Mendoza". The Catholic Encyclopedia. Vol. 10. New York: Robert Appleton Company. 7 November 2017
  9. Shahan, Thomas (1908). "Bernardino Lopez de Carvajal". The Catholic Encyclopedia. Vol. 3. New York: Robert Appleton Company. 7 November 2017
  10. "Miranda, Salvador. "Ciocchi del Monte, Antonio Maria", Cardinals of the Holy Roman Church". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017.
  11. "Miranda, Salvador. "Cueva yY Toledo, Bartolomé de la", Cardinals of the Holy Roman Church, Florida International University". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017.
  12. "Miranda, Salvador. "Capizucchi, Gianantonio", Cardinals of the Holy Roman Church, FIU". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017.
  13. Guilelmus van Gulik and Conradus Eubel, Hierarchia catholica medii et recentioris aevi Volumen tertium, editio altera (ed. L. Schmitz-Kallenberg) (Monasterii 1923), p. 45.
  14. Miranda, Salvador. "Scitovszky, János". Cardinals of the Holy Roman Church, Florida International University.

Tham khảo

  • Raimondo Besozzi (1750). La storia della Basilica di Santa Croce in Gerusalemme. Roma: Generoso Salomoni.
  • Marie-Théodore de Busierre (1846). Les sept basiliques de Rome Tome second. Paris: Jacques Lecoffre. pp. 157–178.
  • Coen, Paolo (1994). Le Sette Chiese: Le basiliche giubilari romane. Rome: Newton Compton. ISBN 978-8-8798-3502-2.
  • Rendina, Claudio (2000). La Grande Enciclopedia di Roma. Rome: Newton Compton. ISBN 978-8-8828-9316-3.
  • Belkin, Kristin Lohse (1998). Rubens. Oxford Oxfordshire: Phaidon. tr. 63–6. ISBN 978-0-7148-3412-2.

Liên kết ngoài

Tư liệu liên quan tới Santa Croce in Gerusalemme tại Wikimedia Commons