Vương Quang Nhường
Vương Quang Nhường | |
|---|---|
| Tổng trưởng Bộ Tư pháp Quốc gia Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ Tháng 3 năm 1952 – Tháng 6 năm 1952 | |
| Thủ tướng | Trần Văn Hữu |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Khắc Vệ |
| Kế nhiệm | Lê Tấn Nẫm |
| Tổng trưởng Phụ trợ Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Quốc gia Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ Tháng 2 năm 1951 – Tháng 3 năm 1952 | |
| Thủ tướng | Trần Văn Hữu |
| Kế nhiệm | Nguyễn Thành Giung |
| Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Quốc gia Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ Tháng 1 năm 1950 – Tháng 2 năm 1951 | |
| Thủ tướng | Trần Văn Hữu (Tháng 5 năm 1950 – Tháng 2 năm 1951) Nguyễn Phan Long (Tháng 1 – Tháng 4 năm 1950) |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | 1 tháng 1, 1902 Gò Công, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương |
| Mất | Tháng 5 năm 1962 Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa |
| Quốc tịch | |
| Phối ngẫu | Henriette Bùi Quang Chiêu (1935 – 1937) Nguyễn Phúc Lương Nhàn |
| Giáo dục | Tiến sĩ Luật |
| Alma mater | Đại học Paris |
| Nghề nghiệp | Luật sư, nhà báo, nhà giáo dục |
Vương Quang Nhường[1] (1 tháng 1 năm 1902 – Tháng 5 năm 1962) là luật sư, nhà báo và nhà giáo dục người Việt Nam, từng giữ chức Tổng trưởng Phụ trợ Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Tổng trưởng Bộ Tư pháp dưới thời Quốc gia Việt Nam và sau cùng là Chủ tịch Viện Bảo hiến dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa. Ngoài ra, ông còn là con rể của vua Thành Thái bị phế truất và đã giúp cựu hoàng bị lưu đày sang đảo Reunion trở về Việt Nam vào những năm cuối đời.
Tiểu sử
Vương Quang Nhường sinh ngày 1 tháng 1 năm 1902 ở Yên Luông Đông, tỉnh Gò Công, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương.[2]
Ông được gia đình tạo điều kiện học hành ở Việt Nam và sang du học bên Pháp[3] nhằm tiếp thu nền giáo dục bậc cao về ngành công pháp và kinh tế học.[4] Năm 1930, ông đậu bằng tiến sĩ luật tại Đại học Paris với luận án mang tên Xung đột pháp luật ở Đông Dương (Des conflits de Lois en Indochine).[5] Sau khi thực tập tại một công ty luật ở Paris, ông trở về Nam Kỳ vào tháng 8 năm 1931 và được một công ty luật ở Sài Gòn nhận vào làm việc.[6] Năm 1935, ông nhập quốc tịch Pháp.[7]
Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, Vương Quang Nhường làm biện lý ở Sài Gòn và hợp tác với Lãnh sự Nhật Bản và Thống đốc Nam Kỳ. Năm 1947, ông cùng với một số nhân sĩ Việt Nam có uy tín đã ký Tuyên ngôn của trí thức Việt Nam Sài Gòn – Chợ Lớn (Manifeste des intellectuels vietnamiens de la région de Saigon Cholon), kêu gọi người Pháp đàm phán trực tiếp với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1949, ông ký một bản tuyên bố khác kêu gọi Pháp đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh.[6]
Tháng 1 năm 1950, Nguyễn Phan Long trở thành Thủ tướng Quốc gia Việt Nam và bổ nhiệm Vương Quang Nhường làm Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục. Ngoài ra, ông còn được giao nhiệm vụ thuyết phục những người chống cộng đang sinh sống ở các khu vực do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát đứng về phía chính quyền Quốc gia Việt Nam.[6] Sau khi Nguyễn Phan Long từ chức vào tháng 4 cùng năm, ông lên làm Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục trong chính phủ Trần Văn Hữu được thành lập vào tháng sau,[8] và sau đó được bổ nhiệm làm Tổng trưởng Phụ trợ Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục sau khi Trần Văn Hữu cải tổ nội các vào tháng 2 năm 1951.[9] Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1952, ông là Tổng trưởng Bộ Tư pháp trong chính phủ Trần Văn Hữu cải tổ lần thứ hai.[10]
Ngày 5 tháng 6 năm 1950 (có thuyết cho là ngày 4 tháng 6), Vương Quang Nhường bị mấy tay súng Việt Minh phục kích,[11] và bắn lén ba phát vào người gây thương tích nặng.[12] Động cơ chủ yếu của nhóm này muốn cảnh cáo ông không nên hợp tác với phe quốc gia.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa, sau khi ban hành Hiến pháp đầu tiên vào cuối năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm, với sự thỏa thuận của Quốc hội, đã cử ông làm Chủ tịch Viện Bảo hiến. Ít lâu sau ông từ chức rồi sang Pháp định cư với gia đình và cuối đời thì về lại Sài Gòn cho đến khi từ trần vào tháng 5 năm 1962.[13]
Đời tư
Năm 1935, Vương Quang Nhường kết hôn với Henriette Bùi (bác sĩ nữ đầu tiên của Việt Nam), con gái của ông bạn thân Bùi Quang Chiêu.[14] Cuộc hôn nhân này do Bùi Quang Chiêu sắp đặt. Mặc dù Henriette phản đối hôn nhân sắp đặt, nhưng cuối cùng bà cũng đồng ý dưới áp lực của cha mình.[15] Sau khi kết hôn, ông muốn Henriette Bùi dành nhiều thời gian ở nhà hơn rồi về sau do không chịu nổi cảnh bà phải làm việc ở bệnh viện vào ban đêm nên cuối cùng hai người đã ly hôn vào năm 1937.[16]
Sau này, ông cưới Nguyễn Phúc Lương Nhàn, con gái thứ 16 của Cựu hoàng Thành Thái nhà Nguyễn. [17] Năm 1947, nhờ sự giúp đỡ của ông mà vị hoàng đế bị Pháp phế truất và lưu đày ở nước ngoài cuối cùng đã có thể trở về Việt Nam sinh sống nốt phần đời còn lại.[18]
Tham khảo
Trích dẫn
- ↑ Quách Thọ Hoa 1966.
- ↑ Nha Tổng Giám đốc Thông tin Việt Nam 1950, tr. 27,29; Hứa Hoành 1999, chương 23; Huỳnh Minh 1969, tr. 129.
- ↑ Best 2003, tr. 318; Nhà tổng giám đốc thông tin Việt Nam 1950, tr. 27,29.
- ↑ Gouvernement Général de l'indochine 1943, tr. 63.
- ↑ Gouvernement Général de l'indochine 1943, tr. 63; Nhà tổng giám đốc thông tin Việt Nam 1950, tr. 27-29.
- 1 2 3 Goscha 2011, tr. 494.
- ↑ Gouvernement Général de l'indochine 1943, tr. 63; Gouvernement français 1935, tr. 5370.
- ↑ Đoàn Thêm 1966, tr. 71.
- ↑ Đoàn Thêm 1966, tr. 87.
- ↑ Đoàn Thêm 1966, tr. 107,111.
- ↑ Nam Bộ Kháng Chiến 2010, tr. 517.
- ↑ New York Times 1950, tr. 16.
- ↑ Tổng Bộ Tư Pháp 1967.
- ↑ Hứa Hoành 1999, chương 23; Hương Cát 2018; Bousquet & Brocheux 2002, tr. 290.
- ↑ Phụ Nữ Việt Nam 2016; Bousquet & Brocheux 2002, tr. 290.
- ↑ Phụ Nữ Việt Nam 2016.
- ↑ Best 2003, tr. 318; Hứa Hoành 1999, chương 23.
- ↑ Hứa Hoành 1999, chương 23.
Thư mục
- Quách Thọ Hoa, 郭壽華 (1966). 越·寮·柬三國通鑑 [Sách giới thiệu về ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia] (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2022.
- Nha Tổng Giám đốc Thông tin Việt Nam (1950). État du Viêt-Nam: Le gouvernement Trần-Văn-Hữu (bằng tiếng Anh và Pháp). Nhà in Quốc Gia của nhóm Phục Hưng. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2022.
- Best, Antony (2003) [viết lần đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1950]. "Leading personalities in Indo-china, 1950". British Documents on Foreign Affairs: Reports and Papers from the Foreign Office Confidential Print (Part IV From 1946 through 1950, Series E Asia 1950, Volume 10 China, Japan, Siam, Indo-China and Korea January 1950-December 1950) (bằng tiếng Anh). Univetsity Publications of America. ISBN 9781556557682. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2022.
- Gouvernement Général de l'indochine (1943). Souverains et notabilités d'Indochine (bằng tiếng Pháp). Hà Nội: IDEO.
- Hứa Hoành (1999). Những Phú Hộ Lừng Danh Nam Kỳ. Văn Hóa. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2022.
- Hương Cát (ngày 20 tháng 2 năm 2018). "Henriette Bùi Quang Chiêu, nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam". Báo Sức khỏe & Đời sống. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2022.
- Bousquet, Gisèle Luce; Brocheux, Pierre (2002). Viêt Nam Exposé: French Scholarship on Twentieth-century Vietnamese Society (bằng tiếng Anh). University of Michigan Press. ISBN 9780472068050. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2022.
- "Cuộc đời thăng trầm của nữ bác sĩ Việt Nam đầu tiên". Phụ Nữ Việt Nam. ngày 26 tháng 2 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2022.
- "VIETNAMESE AIDE SHOT: Education Minister in Bao Dai's Cabinet in Grave Condition". New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 6 năm 1950. tr. 16. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2022.
- Gouvernement français (ngày 19 tháng 5 năm 1935). "VUONG-QUANG-NHUONG". Journal officiel de la République française: Lois et décrets (bằng tiếng Pháp): 5370. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2022.
- Lịch Sử Nam Bộ Kháng Chiến Tập I 1945-1954. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. 2010.
- Tổng Bộ Tư Pháp (1967). Chế Độ Tư Pháp Việt Nam Cộng Hòa (PDF). Saigon. Bản gốc (pdf) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2022.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - Huỳnh Minh (1969). Gò Công Xưa Và Nay (PDF). Cánh Bằng. Bản gốc (pdf) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2025.
{{Chú thích sách}}: Đã định rõ hơn một tham số trong|accessdate=và|access-date=(trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong|archivedate=và|archive-date=(trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong|archiveurl=và|archive-url=(trợ giúp) - Goscha, Christopher E. (2011). Historical Dictionary of the Indochina War (1945–1954): an international and interdisciplinary approach (PDF) (bằng tiếng Anh). NIAS Press. ISBN 978-87-7694-063-8. Bản gốc (pdf) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2022.
- Đoàn Thêm (1966). Hai Mươi Năm Qua: Việc Từng Ngày (1945-1964). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2022.