Bước tới nội dung

Văn hóa khiếp nhược

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Văn hóa sợ hãi)
Họa phẩm mô tả sự khiếp sợ trước nữ thần La Mã

Văn hóa khiếp nhược (Culture of fear) hay còn gọi là bầu không khí sợ hãi là một khái niệm xã hội học và chính trị học mô tả cảm giác sợ hãi lan tỏa và bao trùm trong một nhóm xã hội hoặc quốc gia, thường là kết quả từ các hành động hoặc chiến lược có chủ đích của những người lãnh đạo hoặc các thể chế quyền lực hòng tạo ra sự sợ sệt, tâm lý hèn kém, nhược tiểu, ươn hèn. Thuật ngữ này bắt đầu trở nên phổ biến thông qua các công trình nghiên cứu của xã hội học gia người Anh Frank Furedi vào cuối thập niên 1990[1][2] và sau đó được nhà xã hội học người Mỹ Barry Glassner phát triển thêm vào giữa thập niên 2000.[3]

Chính trị Văn hóa khiếp nhược

Họa phẩm về sự sợ hãi của nữ tu

Chính trị gia Đức Quốc Xã Hermann Göring từng giải thích cách thức khiến người dân trở nên sợ hãi và ủng hộ một cuộc chiến tranh mà lẽ ra họ sẽ phản đối: Người dân không bao giờ muốn chiến tranh, nhưng họ luôn có thể bị lôi kéo theo ý đồ của những người lãnh đạo. Điều này rất dễ dàng. Tất cả những gì bạn cần làm là nói với họ rằng họ đang bị tấn công, đồng thời lên án những người theo chủ nghĩa hòa bình là thiếu lòng yêu nước và đang đẩy đất nước vào nguy hiểm. Cách thức này hoạt động tương tự ở mọi quốc gia.[4] Trong cuốn sách State and Opposition in Military Brazil (Nhà nước và Đối lập tại Brazil thời quân quản), nhà nghiên cứu Maria Helena Moreira Alves đã chỉ ra rằng một thứ "văn hóa khiếp nhược" đã được triển khai như một phần của chính sách đàn áp chính trị kể từ năm 1964. Bà sử dụng thuật ngữ này để mô tả các phương pháp được bộ máy an ninh quốc gia Brazil áp dụng nhằm đánh đồng việc tham gia chính trị với rủi ro bị bắt giữ và tra tấn.[5]

"Cassação" (tiếng Việt: sự bãi miễn) là một trong những cơ chế như vậy, được sử dụng để trừng phạt các thành viên quân đội bằng cách tuyên bố họ đã chết về mặt pháp lý. Điều này giúp tăng cường khả năng kiểm soát chính trị thông qua việc làm trầm trọng thêm nền văn hóa sợ hãi như một rào cản đối với phe đối lập.[6] Alves nhận thấy những thay đổi trong Luật An ninh Quốc gia năm 1969 đã khởi đầu cho việc sử dụng "bóc lột kinh tế, đàn áp chính trị, thể xác, kiểm soát chính trị và kiểm duyệt nghiêm ngặt" để thiết lập một nền văn hóa khiếp nhược tại Brazil.[7] Ba thành phần tâm lý của văn hóa khiếp nhược bao gồm: sự im lặng thông qua kiểm duyệt, cảm giác bị cô lập và một "niềm tin phổ biến rằng mọi kênh đối lập đều đã bị đóng sầm". Một "cảm giác vô vọng hoàn toàn" chiếm ưu thế, dẫn đến sự "rút lui khỏi các hoạt động đối lập".[8] Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Zbigniew Brzezinski lập luận rằng việc chính phủ Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ "cuộc chiến chống khủng bố" là có chủ đích nhằm tạo ra một nền văn hóa khiếp nhược, vì nó "làm mờ đi lý trí, khuếch đại cảm xúc và giúp các chính trị gia mị dân dễ dàng huy động công chúng ủng hộ các chính sách mà họ muốn theo đuổi".[9][10]

Xã hội Văn hóa khiếp nhược

Frank Furedi một cựu giáo sư Xã hội học, nhận định rằng văn hóa khiếp nhược hiện nay không bắt đầu từ sau Sự kiện 11 tháng 9. Trước đó, ông lập luận, những đợt hoảng loạn công cộng đã lan rộng về mọi thứ, từ thực phẩm biến đổi gen, điện thoại di động đến nóng lên toàn cầu và bệnh lở mồm long móng. Furedi cho rằng nhận thức về rủi ro, các ý tưởng về an toàn và những tranh cãi về y tế, môi trường, công nghệ ít có mối liên hệ với khoa học hay bằng chứng thực nghiệm. Thay vào đó, chúng được định hình bởi những giả định văn hóa về sự tổn thương của con người. Furedi khẳng định: "chúng ta cần một cuộc thảo luận trưởng thành về thế giới hậu 11/9, dựa trên đánh giá có lý trí về mọi bằng chứng sẵn có thay vì những nỗi sợ hãi phi lý về tương lai".[11] Các học giả Anh Gabe Mythen và Sandra Walklate lập luận rằng sau sự kiện 11/9, vụ đánh bom tàu hỏa tại Madrid năm 2004 và vụ đánh bom tại London năm 2005, các cơ quan chính phủ đã phát triển một diễn ngôn về "chủ nghĩa khủng bố mới" trong một môi trường văn hóa đầy sợ hãi và bất định. Các nhà nghiên cứu Anh cho rằng các quá trình này đã làm xói mòn các khái niệm về An toàn công cộng và tạo ra hình ảnh phiến diện về một "kẻ khủng bố khác" không phải da trắng, gây ra những hệ lụy tiêu cực cho các nhóm thiểu số sắc tộc tại Vương quốc Anh.[12]

Trong loạt phim tài liệu năm 2004 của BBC mang tên The Power of Nightmares (Sức mạnh của những cơn ác mộng), với tựa phụ là The Rise of the Politics of Fear (Sự trỗi dậy của nền chính trị sợ hãi), nhà báo Adam Curtis lập luận rằng các chính trị gia sử dụng nỗi sợ hãi để gia tăng quyền lực và sự kiểm soát đối với xã hội. Dù không trực tiếp sử dụng thuật ngữ "văn hóa khiếp nhược", những gì Curtis mô tả trong phim là một sự phản ánh trung thực khái niệm này. Ông xem xét phong trào tân bảo thủ Mỹ và cách họ khắc họa các mối đe dọa, đầu tiên là từ Liên Xô và sau đó là từ những người Hồi giáo cực đoan.[13] Curtis nhấn mạnh rằng đã tồn tại một nỗi sợ hãi mang tính ảo tưởng về chủ nghĩa khủng bố ở phương Tây kể từ sau sự kiện 11/9, và các chính trị gia như George W. Bush hay Tony Blair đã tình cờ tìm thấy một động lực mới để khôi phục quyền lực và uy tín: sử dụng nỗi sợ hãi về một "mạng lưới ác quỷ" có tổ chức để từ đó họ có thể đóng vai trò bảo vệ người dân.[14] Bộ phim của Curtis chỉ trích mạnh mẽ truyền thông, các lực lượng an ninh và chính quyền Bush vì đã mở rộng quyền lực theo cách này.[14] Phim cũng trích dẫn lời của Bill Durodié, lúc đó là Giám đốc Trung tâm Phân tích An ninh Quốc tế thuộc King's College London, cho rằng nếu gọi mạng lưới này là một "sự phát minh" thì quá nặng nề, thay vào đó ông khẳng định nó có lẽ không tồn tại và phần lớn là một "sự (phóng chiếu tâm lý) của những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của chính chúng ta, và những gì chúng ta thấy là một ảo tưởng đã được tạo ra".[15]

Truyền thông Văn hóa khiếp nhược

Việc tiêu thụ các phương tiện truyền thông đại chúng đã có tác động sâu sắc trong việc gieo rắc nỗi sợ hãi về chủ nghĩa khủng bố tại Hoa Kỳ, mặc dù các hành động khủng bố thực tế là một hiện tượng hiếm gặp.[16] Bắt đầu từ thập niên 1960, George Gerbner và các đồng nghiệp đã đẩy mạnh việc nghiên cứu mối quan hệ tồn tại giữa tiêu thụ truyền thông và nỗi sợ tội phạm. Theo Gerbner, truyền hình và các hình thức truyền thông đại chúng khác tạo ra một thế giới quan phản ánh các "thông điệp truyền thông lặp đi lặp lại", thay vì dựa trên thực tế khách quan.[17] Nhiều người dân Mỹ tiếp xúc với một số hình thức truyền thông hàng ngày, trong đó truyền hình và các nền tảng mạng xã hội là những phương thức được sử dụng nhiều nhất để nhận tin tức địa phương và quốc tế. Do đó, đây là cách mà phần lớn mọi người nhận tin tức và chi tiết tập trung vào tội phạm bạo lực và các hành động khủng bố. Với sự trỗi dậy của điện thoại thông minh và mạng xã hội, con người bị bủa vây bởi các cập nhật tin tức liên tục và có thể đọc các câu chuyện liên quan đến khủng bố từ mọi ngóc ngách của địa cầu. Truyền thông tiếp thêm nhiên liệu cho nỗi sợ hãi khủng bố và các mối đe dọa an ninh quốc gia khác, tất cả đều gây ra những hiệu ứng tâm lý tiêu cực cho dân cư, chẳng hạn như bộ ba trầm cảm, lo âu và mất ngủ.[16] Các chính trị gia thường thực hiện các cuộc phỏng vấn và sử dụng mạng xã hội ngay sau các vụ tội phạm bạo lực hoặc khủng bố để củng cố thêm nỗi sợ hãi vào tâm trí cử tri.

Xem thêm Văn hóa khiếp nhược

  • Giám sát lạm dụng
  • Văn hóa ái ngại (Cringe culture)
  • Kêu gọi sợ hãi
  • Gieo rắc nỗi sợ
  • Kinh hoàng và khiếp sợ
  • Hoảng loạn đạo đức
  • Quốc gia cảnh sát
  • Khủng bố nhà nước
  • Nơi làm việc độc hại
  • Báo chí vàng

Chú thích Văn hóa khiếp nhược

  1. Furedi, Frank (1997). The Culture of Fear: Risk-taking and the Morality of Low Expectation. Continuum International Publishing Group.
  2. Furedi, F. (2006). Culture of Fear Revisited. Continuum.
  3. Klaehn, Jeffery (2005). Filtering the news: essays on Herman and Chomsky's propaganda model. Black Rose Books. tr. 23–24.
  4. Gustave Gilbert (1947) Nuremberg Diary.
  5. Alves, Maria (1985). State and Opposition in Military Brazil. Brazil: University of Texas Press. tr. 352.
  6. State and Opposition in Military Brazil. tr. 43.
  7. State and Opposition in Military Brazil. tr. 125.
  8. State and Opposition in Military Brazil. tr. 126.
  9. "Terrorized by 'War on Terror' by Brzezinski". Washingtonpost.com. ngày 25 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2010.
  10. Zbigniew Brzezinski While the true nature of the threat can't be established: it can be less it can be worse. (ngày 25 tháng 3 năm 2007). "Terrorized by 'War on Terror' How a Three-Word Mantra Has Undermined America". Washington Post. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. The "war on terror" has created a culture of fear in America ...
  11. Frank Furedi. "Epidemic of fear". Spiked-online.com. Bản gốc lưu trữ tháng 9 22, 2005. Truy cập tháng 11 23, 2010.
  12. Communicating the terrorist risk: Harnessing a culture of fear? Gabe Mythen Manchester Metropolitan University, UK, Sandra Walklate University of Liverpool, UK
  13. "The Power of Nightmares: Your comments". BBC. London. ngày 3 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2010.
  14. 1 2 Jeffries, Stuart (ngày 12 tháng 5 năm 2005). "The film US TV networks dare not show". The Guardian. London. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2010.
  15. "Exploring The Best Pro hormone Stacks". www.daanspeak.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010.
  16. 1 2 Nellis, Ashley Marie; Savage, Joanne (ngày 10 tháng 9 năm 2012). "Does Watching the News Affect Fear of Terrorism? Thù Importance of Media Exposure on Terrorism Fear". Crime & Delinquency (bằng tiếng Anh). 58 (5): 748–768. doi:10.1177/0011128712452961. S2CID 145162485.
  17. Callanan, Valerie J. (ngày 1 tháng 3 năm 2012). "Media Consumption, Perceptions of Crime Risk and Fear of Crime: Examining Race/Ethnic Differences". Sociological Perspectives (bằng tiếng Anh). 55 (1): 93–115. doi:10.1525/sop.2012.55.1.93. S2CID 145094843.

Tham khảo Văn hóa khiếp nhược

  • The Culture of Fear by Noam Chomsky
  • The Politics of Fear – article by Corey Robin published in La Clé des langues
  • Beyond a Culture of Fear, by K. Lauren de Boer – article published in the EarthLight magazine, #47, fall/winter 2002/2003
  • Sasha Abramsky (2017). Jumping at Shadows: The Triumph of Fear and the End of the American Dream. Bold Type Books. ISBN 978-1568585192.
  • The Formation of the National Security State: the State and the Opposition in Military Brazil, Volume 2 (1982) by Maria Helena Moreira Alves
  • Risk Society, Towards a New Modernity (1989), by Ulrich Beck, ISBN 978-0-8039-8346-5 [the term was coined in German by the same author in Risikogesellschaft. Die organisierte Unverantwortlichkeit (this subtitle means in English: "Organized irresponsibility"), a speech given at St. Gallen College, Switzerland, 16pp., in 1989, then published as full-length book with the title: Risikogesellschaft, Suhrkamp, 1989, 391pp., ISBN 3-518-11365-8]
  • The Culture of Fear (2000), by Barry Glassner ISBN 0-465-01490-9
  • Creating Fear: News and the Construction of a Crisis (2002), by David L. Altheide, Aldine de Gruyter, 223pp., ISBN 978-0-202-30660-5
  • Kingdom of Fear: Loathsome Secrets of a Star-Crossed Child in the Final Days of the American Century (2003), by Hunter S. Thompson, Simon & Schuster, ISBN 0-684-87324-9
  • The Climate of Fear (2004), by Wole Soyinka, BBC Reith Lectures 2004, London, Profile Books, 155pp., ISBN 1-86197-783-2
  • State of Fear (2004), Michael Crichton, ISBN 0-06-621413-0
  • Culture of Fear: Risk taking and the morality of low expectation (1997), by Frank Furedi, ISBN 0-8264-7616-3
  • Politics of Fear: Beyond Left and Right (2005), by Frank Furedi, ISBN 0-8264-8728-9
  • You Have the Power: Choosing Courage in a Culture of Fear (2005), by Frances Moore Lappe and Jeffrey Perkins, ISBN 978-1-58542-424-5
  • Urban Nightmares: The Media, the Right and the Moral Panic over the City (2006), by Steve Macek, ISBN 0-8166-4361-X
  • Cultures of Fear: A Critical Reader (2009), by Uli Linke, Danielle Smith, Anthropology, Culture and Society, ISBN 978-0-7453-2965-9
  • Social Theory of Fear: terror, torture and death in a post Capitalist World (2010), by Geoffrey Skoll, New York, Palgrave MacMillan ISBN 978-0-230-10349-8
  • Witnesses to Terror (2012), by Luke Howie, Baskinstoke, Palgrave MacMillan ISBN 978-0-8232-2434-0
  • Gregg Easterbrook (2019). It's Better Than It Looks: Reasons for Optimism in an Age of Fear. PublicAffairs. ISBN 978-1541774032.
  • Laura Dodsworth (2021). A State of Fear: How the UK government weaponised fear during the Covid-19 pandemic. Pinter & Martin. ISBN 978-1780667201.