Bước tới nội dung

Tư trị thông giám trường biên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sử biên soạn về đời Tống
STTTên sáchTác giả
Danh tínhThời đại
1Tống sửThoát thoátNguyên
2Tư trị thông giám trường biênLý ĐàoNam Tống
3Tam triều bắc điển hôị minhTừ Mộng HoaNam Tống
4Kiến Viêm dĩ lai niên hệ yếu lụcLý Tâm XuyênNam Tống
5Kiến Viêm dĩ lai triều dã tạp kýLý Tâm XuyênNam Tống
6Đại sự ký giảng nghĩaLã TrọngNam Tống
7Ký niên cương mục yếu lụcTrần QuânNam Tống
6Tiếp tục lưỡng triều cương mục bị yếuThất danhNam Tống
7Trung hưng lưỡng triều thánh chínhThất danhNam Tống

Tục tư trị thông giám trường biên (tiếng Trung: 續資治通鑑長編) là cuốn sử được biên soạn bởi Lý Đào người Nam Tống trong khoảng 40 năm, và được coi là một trong những kiệt tác lớn nhất của nền sử học Trung Hoa. Ban đầu, sách gồm 980 quyển, bao trọn năm đầu niên hiệu Kiến Long (960 SCN) đến năm thứ hai niên hiệu Tĩnh Khang (1127), ghi chép sự kiện chín triều nhà Bắc Tống trong 168 năm.

Cấu trúc tác phẩm và quá trình truyền bản

Nguyên bản và bản 520 quyển

Tục tư trị thông giám trường biên có cả thảy 980 quyển, hiện chỉ còn 520 quyển. Theo Triệu Hi Biện trong sách "Đọc thư phụ chí" và Mã Đoan Lâm trong "Văn hiến thông khảo - Kinh tịch khảo" thì sách tổng cộng có 980 quyển; 604 sách. Trong đó chưa tính 11 quyển bao gồm các sửa đổi sự kiện; 68 quyển đề yếu; cộng thêm 5 quyển tổng mục, tổng cộng 1063 quyển.

Tề Khí Tật trong bài từ theo thể hào phóng tên "Quy triều hoan" đã có mấy câu thế này tán dương sự nghiệp sử học to lớn của Lý Đào:

君家右史老泉公,千金费尽勤收拾。一堂真石室。空庭更与添突兀。

Nhà ông hữu sử (chức quan sử ngày xưa" Lão Tuyền công (tức Tô Tuân)Nghìn Kim phí hết cẩn thâu thậpMột gian tiền đường bằng đá thậtSân đình trống rỗng bổng lấp đầy

Đương thời Lý Đào đã nổi tiếng là nhà sử học cần mẫn nhất Tống triều.

Tục tư trị thông giám trường biên thành sách xong, có bản "cửu triều" được bảo tồn trong mật phủ, có bản chép tay lưu hành giữa giới sỹ đại phu, lại có các bản "ngũ triều", sơ lược hay tỏ tường, được bán bởi "thư phòng" (nhà sách). Trải qua mấy mươi năm chiến loạn giữa triều Tống và triều Nguyên Mông Cổ, sách dần bị mất mát. Đến triều Nguyên, Viên Giác được mệnh tu tam quốc sử (Liêu, Kim, Tống ba nước). Tổ tiên Viên Giác là hoạn quan cho triều Tống, lại từng là môn hạ cho Vương Ứng Lân, nên được mệnh tham gia Hàn Lâm Viện, giữ chức sử quan. Ông viết lại trong "Thanh dung cư sỹ tập - quyển 41 rằng "Việc cửu triều nhà Tống, không sách nào tường tận bằng "Trường biên",...trong viện "Trường biên" đã không còn hoàn chỉnh (bất bị)." Ông đề xuất với triều đình thâu thập lại các bản tư gia rải rác miền nam Trung Quốc, vốn lãnh thổ cũ nhà Nam Tống, song "Giang Nam cựu gia đa số nghi kỵ, giấu biệt nơi cất sách, không giám gửi quan." Do đó nên sách giữ trong mật viện Tống, tiếp nhận bởi Hàn lâm viện triều Nguyên đã không còn đầy đủ, mà các bản tư gia cũng không thu thập được.

Đầu triều Minh, khi soạn "Vĩnh lạc đại điển", bản mà sử quan nhà Minh dựa vào cũng không còn đầy đủ. Đến giữa năm Thành Hoá, chiếu Thương Lộ tu soạn "Thông giám cương mục", thì "trăm phương mua riêng biệt, rốt cục không có được." Theo sử gia Bối Nhữ Thành, các bản mà nhà Minh thâu thập được là loại "ngũ triều" kể trên, còn bản "cửu triều" đã mất từ lâu. Tình hình này đến tận đời Thanh vẫn vậy, mà bản hiện tại còn lưu giữ cũng thuộc loại này.

Trước mắt, bản thông hành ngày nay là bản do "Tứ khố toàn thư" trích tiếp từ bộ "Vĩnh lạc đại điển" đời Minh ra, tổng cộng 520 quyển, trải "thất triều", so với bản hoàn chỉnh của Lý Đào thiếu mất triều Huy Tông và Khâm Tông.

Cứ theo bản "thất triều" thì:

Từ quyển 1-17 ghi triều Tống Thái Tổ

Từ quyển 18-42 ghi triều Tống Thái Tông

Từ quyển 43-99 ghi triều Tống Chân TôngTừ quyển 100-199 ghi triều Tống Nhân Tông

Từ quyển 200-209 ghi triều Tống Anh Tông

Từ quyển 210-352 ghi triều Tống Thần TôngTừ quyển 353-520 ghi triều Tống Triết Tông

Các sách bị khuyết là:

Từ niên hiệu Trị Bình năm thứ tư đời Anh Tông đến niên hiệu Hy Ninh năm thứ ba, tháng ba, đời Thần Tông

Từ niên hiệu Nguyên Hựu năm thứ tám, tháng bảy, đời Triết Tông đến Chính Thánh năm thứ tư, tháng ba, Nguyên Phù năm thứ ba, tứ nguyệt cho đến tháng mười hai.Tống bản "ngũ triều" bản

Tục tư trị thông giám trường biên tống bản có cả thảy 108 quyển, lại phân quyển con (tử quyển) 175 quyển. Bản này khác với bản đời Thanh ở chỗ sách mang nhiều chữ kỵ huý,

Lại có bản của Tống Tân Vương hiệu đính đề lời bạt, Khẩm Dĩ Cung cũng bạt, cả thảy 108 quyển, 48 sách bổn.

Các Tống bản khác số lượng quyển cũng không hơn 175 quyển, khác nhau ít nhiều về chữ nghĩa, nhưng tuyệt không có bản nào bổ chú cho phần khuyết của bản "Tứ khố toàn thư", nên không nêu thêm.

Tiếp tục tư trị thông giám trường biên thập bổ

Sách này có vai trò quan trọng trong việc nhặc nhặt các mảnh vỡ của Trường biên, do một loạt các học giả đời Thanh biên soạn. Sách chủ yếu lấy thêm nguồn từ "Hoàng Tống thông giám trường biên bản mạt" của Dương Trọng Lương, bổ sung cho hai triều Huy Tông và Khâm Tông mà Trường biên bị mất.

Phương pháp sử học

Lý Đào dành hơn 40 năm biên soạn sách, không những chỉ biên thành 980 quyển như ông nói trong các bài biểu gửi vua Tống, mà còn giữ các bản thảo để tiện việc kê cứu kiểm tra. Trong quá trình soạn "Trường biên", ông tham khảo "thực lục", "chính sử", các "văn tập" của các triều thần cửu triều và dã sử. Tổng số sách tham khảo lên đến 142 quyển.

Như 4 bài biểu của Lý Đào kèm theo bản lưu hành, ông tiếp nhận phương pháp biên "Tư trị thông giám" của thừa tướng Tư Mã Quang, bắt đầu biên soạn từ "Bách quan công khanh biểu". Tại sao lại như vậy, là vì khi soạn các biểu này, Lý Đào bước đầu hiểu được cơ cấu vận hành của bộ máy chính quyền triều Tống, biết rõ các nhân vật chính khách, lúc nào họ được cất nhắc, lúc nào họ bị bãi chức hay thiên chuyển đi xa. Triều Tống kế thừa hệ thống quan lại hỗn loạn thời Ngũ đại, nên không nắm được quan chế thì sẽ dẫn đến hiểu sai "chính sử", "thực lục", dẫn đến biên soạn nhầm lẫn hay trùng lặp. Ví dụ Trường biên dẫn dụng rất nhiều chiếu thư và tấu sớ quan lại trong cửu triều, nếu không nắm vững quan chế thì sẽ hiểu sai mục đích của các tài liệu này.

Thứ hai, nguyên tắc của Lý Đào là "thà rườm rà còn hơn thiếu sót (寧失之繁,無失之略). Như đã nói trên, không chỉ tham khảo các bản "thực lục" và "chính sử", Lý Đào còn nghiên cứu tư sử (các sách văn tập của triều thần) và dã sử. Lý Đào còn cùng với Hồng Mại (tác giả bộ sách Dị Kiên Chí) soạn "Tứ triều quốc sử" cả thảy 200 quyển. Tứ triều là bốn triều nào? Chính là Thần, Triết, Huy, Khâm tông. Ông còn viết phần tự cho "Tứ triều quốc sử" nên số lượng sử liệu ông tiếp cận chỉ có thể nói bạt ngàn, tiện cho việc biên soạn Trường biên vậy.

Ngày nay, chúng ta còn có dịp so sánh phần chép triều Tống Nhân Tông trong Trường biên với Nhân Tông thực lục, hiện còn 20 quyển, bắt đầu từ năm Thái bình hưng quốc thứ 8, tháng 6 và kết thúc năm Chí đạo thứ ba, chính nguyệt.

Ảnh hưởng của Lý Đào lên các nhà sử học Nam Tống đời sau

Không cần nói nhiều cũng đoán định quyển Trường biên là tài liệu vô cùng quý giá đối với các nhà soạn sử đời sau. Kể đến đầu tiên phải là Lý Tâm Xuyên. Khi ông soạn quyển "Kiến Viêm dĩ lai niên hệ yếu lục", viết tiếp triều Cao Tông và Hiếu Tông, ông không thể không tham khảo ít nhất phần Lý Đào soạn cho triều Huy Tông và Khâm Tông. Ngoài Lý Tâm Xuyên, còn phải kể đến các bộ sự khác như "Hoàng tống thập triều cương yếu" (皇宋十朝纲要) của Lý Trực; "Tống triệu sự thực" (宋朝事實) của Lý Du, "Hoàng Tống thông giám trường biên bản mạt" của Dương Trọng Lương (皇宋通鑑長編紀事本末) vâng vâng.

Trong các bộ sử trên, không thể không kể đến bộ Tống sử soạn vào cuối đời Minh, được xem là một trong 24 sử.

Tham khảo

  • Tiếp tục trị thông giám trường biên khảo lược (续资治通鉴通鉴长编考略), Bối Nhữ Thành (裴汝诚) và 许沛藻 (Hứa Phái Thảo), Trung Hoa Thư Cục, 1985