Tâm lý nạn nhân
Tâm lý nạn nhân (tiếng Anh: victim mentality), phức cảm nạn nhân (tiếng Anh: victim complex) hoặc chứng đóng vai nạn nhân (tiếng Anh: victimese) là một khái niệm tâm lý học đề cập đến một tư duy mà trong đó một người, hoặc một nhóm người, có xu hướng tự nhận hoặc coi bản thân là nạn nhân từ những hành động của người khác. Thuật ngữ này cũng được sử dụng để chỉ xu hướng đổ lỗi những bất hạnh của mình cho hành vi sai trái của người khác, điều này cũng được gọi là chủ nghĩa nạn nhân (tiếng Anh: victimism).[1][2] Nó có thể phát triển như một cơ chế phòng vệ để đối phó với những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống.[3]
Tâm lý nạn nhân có thể được hình thành từ sự lạm dụng và các tình huống xảy ra từ thời thơ ấu cho đến tuổi trưởng thành. Tương tự như vậy, tội phạm thường có tư duy của nạn nhân, tin rằng bản thân chúng là người có đạo đức và chỉ tham gia vào tội ác như một phản ứng trước một thế giới vô đạo đức, và hơn nữa, chúng cảm thấy rằng các nhà chức trách đang trù dập chúng một cách bất công.[4] Tâm lý này cũng có thể bắt nguồn từ các mô hình chấn thương tâm lý, khiến một người tự cảm thấy mình giống như một nạn nhân.[5]
Đặc điểm của tư duy nạn nhân đã được quan sát thấy ở cấp độ nhóm, mặc dù không phải tất cả các đặc điểm ở cấp độ cá nhân đều được áp dụng.[6]
Đặc điểm Tâm lý nạn nhân
Phức cảm nạn nhân có xu hướng được mô tả như một đặc điểm tính cách của một người luôn mang trong mình niềm tin rằng họ liên tục là nạn nhân và phải chịu đau khổ từ hành động của những người khác. Mặc dù đôi khi tự thương hại là một điều "bình thường", vì đó là một trong những giai đoạn chính của sự đau buồn, nhưng nó chỉ nên xảy ra tạm thời và nhỏ nhoi so với những cảm giác thái quá về tội lỗi, sự xấu hổ, sự bất lực, v.v. Thường thì, những người mắc phức cảm nạn nhân rất dễ bị suy sụp bởi bệnh trầm cảm.[7]
- Coi người khác là nguyên nhân gây ra một tình huống không mong muốn và phủ nhận trách nhiệm cá nhân đối với cuộc sống hoặc hoàn cảnh của chính mình.[8]
- Đổ lỗi cho những mưu đồ tiêu cực của người phạm lỗi.[6]
- Tin rằng người khác nhìn chung may mắn hơn mình.[9]
- Cảm thấy nhẹ nhõm khi tự thương hại bản thân hoặc nhận được sự đồng cảm từ người khác.[9]
Nó thường được đặc trưng bởi các thái độ bi quan, tự thương hại và sự tức giận bị kìm nén.[10]
Những người có tâm lý nạn nhân cũng có thể:
- thể hiện xu hướng chung là nhìn nhận một tình huống một cách thực tế nhưng thiếu nhận thức hoặc sự tò mò về gốc rễ thực sự của sự bất lực trong tình huống đó[11]
- thể hiện ảo tưởng quyền lợi và sự ích kỷ[12]
- trở nên phòng thủ, ngay cả khi người khác cố gắng giúp đỡ[9]
- tránh chấp nhận rủi ro[3]
- thể hiện sự bất lực tập nhiễm[13][14]
- tự hạ thấp bản thân[15]
- cảm thấy tầm quan trọng của việc được người khác coi là nạn nhân[16]
- có xu hướng đổ lỗi cho người khác về kết quả của một tình huống[16]
Ở cấp độ cá nhân và tập thể, các đặc điểm khác của tâm lý nạn nhân bao gồm:[17]
- Nhu cầu được công nhận[6] – mong muốn của các cá nhân trong việc được người khác công nhận và khẳng định tình trạng nạn nhân của mình. Sự công nhận này giúp tái khẳng định những giả định cơ bản tích cực mà cá nhân đó nắm giữ về bản thân, người khác và thế giới nói chung. Điều này cũng ngầm ngụ ý rằng người phạm lỗi nhận ra hành vi sai trái của họ. Ở cấp độ tập thể, điều này có thể khuyến khích mọi người có cảm giác hạnh phúc tích cực đối với các sự kiện đau buồn và khuyến khích thái độ hòa giải trong các cuộc xung đột nhóm.
- Chủ nghĩa tinh hoa đạo đức[6] – nhận thức về sự vượt trội về mặt đạo đức của bản thân và sự vô đạo đức của phía bên kia, ở cả cấp độ cá nhân và tập thể. Ở cấp độ cá nhân, điều này có xu hướng liên quan đến cái nhìn "trắng đen" về đạo đức và hành động của các cá nhân. Cá nhân này phủ nhận sự hung hăng của chính mình và tự xem bản thân là yếu đuối, bị bức hại bởi những kẻ không trong sạch về đạo đức, trong khi người kia bị coi là đe dọa, bức hại và vô đạo đức, nhằm bảo vệ hình ảnh về một bản thân trong sạch về đạo đức. Ở cấp độ tập thể, chủ nghĩa tinh hoa đạo đức có nghĩa là các nhóm nhấn mạnh vào tác hại do người khác gây ra cho họ, đồng thời tự coi mình là vượt trội về mặt đạo đức. Điều này cũng có nghĩa là các cá nhân coi bạo lực của chính họ là chính đáng và có đạo đức, trong khi bạo lực của nhóm ngoại (outgroup) là vô lý và sai trái về mặt đạo đức.
- Thiếu sự đồng cảm – bởi vì các cá nhân chỉ bận tâm đến sự đau khổ của chính họ, họ có xu hướng không sẵn sàng chuyển hướng quan tâm đến sự đau khổ của người khác. Họ sẽ phớt lờ sự đau khổ của người khác hoặc hành động một cách ích kỷ hơn. Ở cấp độ tập thể, các nhóm chỉ bận tâm đến tình trạng nạn nhân của chính họ không sẵn sàng nhìn nhận góc nhìn của nhóm ngoại và thể hiện ít sự đồng cảm hơn với đối thủ của mình, đồng thời ít có khả năng chấp nhận trách nhiệm về những tác hại mà họ gây ra. Điều này dẫn đến việc nhóm bị coi là tập thể vị kỷ.[6]
- Nhai lại (Suy nghĩ luẩn quẩn) – nạn nhân có xu hướng tập trung chú ý vào nỗi đau của họ cũng như các nguyên nhân và hậu quả của nó hơn là giải pháp. Điều này gây ra sự hung hăng để đáp lại những lời lăng mạ hoặc đe dọa và làm giảm mong muốn tha thứ bằng cách đưa vào đó mong muốn trả thù thủ phạm. Động lực học tương tự cũng diễn ra ở cấp độ tập thể.[6]
Nạn nhân của sự lạm dụng và thao túng Tâm lý nạn nhân
Nạn nhân của sự lạm dụng và thao túng tâm lý thường bị mắc kẹt trong hình ảnh tự thân là một nạn nhân. Hồ sơ tâm lý của sự nạn nhân hóa bao gồm nhiều loại cảm giác và cảm xúc, chẳng hạn như cảm giác bất lực tràn ngập, sự thụ động, mất kiểm soát, bi quan, suy nghĩ tiêu cực, cảm giác mạnh mẽ về tội lỗi, sự xấu hổ, tự đổ lỗi và trầm cảm.[18] Cách suy nghĩ này có thể dẫn một người đến sự tuyệt vọng và chán chường.[19] Vai trò nạn nhân có thể được củng cố khi các cá nhân tự xem mình có cùng quyền tự quyết tại thời điểm họ bị tổn thương giống như quyền tự quyết họ có ở hiện tại.[20](tr240)
Một nhà tâm lý trị liệu thường mất một khoảng thời gian dài để xây dựng mối quan hệ tin cậy với một nạn nhân. Thường thì, các nạn nhân sẽ nảy sinh sự mất lòng tin đối với những nhân vật có thẩm quyền, cùng với tâm lý luôn mong đợi việc sẽ bị tổn thương hoặc bóc lột.[20]
Lạm dụng tình dục và tâm lý nạn nhân dường như có mối liên hệ chặt chẽ. Bất kể giới tính nào, tất cả các nhóm tuổi bị buộc phải tham gia và thực hiện các hành vi tình dục không đồng thuận đều có nhiều khả năng nảy sinh cảm giác tự buộc tội, cảm giác tội lỗi và tự đổ lỗi cho những hành động mà họ bị buộc phải thực hiện.[21] Lạm dụng tình dục cũng có thể biểu hiện theo những cách khác như vuốt ve, gợi ý và giao tiếp bằng lời nói tục tĩu, và phơi bày cơ thể của một người để thỏa mãn tình dục.
Theo Koçtürk, Nilüfer và các cộng sự[22], thời điểm tiết lộ sự việc ở các nạn nhân bị lạm dụng có thể khác nhau, đặc biệt là khi liên quan đến lạm dụng tình dục. Nếu sự việc xảy ra trong thời thơ ấu hoặc tuổi thiếu niên, họ có thể không nói với ai cho đến khi trưởng thành. Có rất nhiều lý do để họ làm như vậy, chẳng hạn như không muốn thu hút sự chú ý vào sự việc, không muốn sự việc trở thành một cảnh tượng công khai, sợ rằng các bạn đồng trang lứa, bạn bè và những người khác sẽ nghĩ tiêu cực về họ và không muốn gây ra rắc rối trong gia đình. Người ta phát hiện ra rằng những nạn nhân tiết lộ sự việc với các thành viên trong gia đình từ sớm thường nhận được mức độ hỗ trợ cao hơn từ các thành viên gia đình và cộng đồng của họ. Việc khuyến khích tiết lộ trải nghiệm chấn thương của họ sớm hơn là vô cùng cần thiết.
Các nghiên cứu do Andronnikova và Kudinov thực hiện[23] đã tìm cách xác định mối tương quan giữa mức độ lạm dụng và tình trạng nạn nhân, cũng như khả năng nạn nhân thể hiện các hành vi phù hợp với tâm lý nạn nhân. Các nghiên cứu đã thành công trong việc xác định mối tương quan chặt chẽ giữa những người có tâm lý nạn nhân và các hành vi tiêu cực như trầm trọng hóa vấn đề, đòi hỏi khắt khe với bản thân, đòi hỏi khắt khe với người khác và khả năng chịu đựng sự thất vọng thấp.
Thoát khỏi tâm lý nạn nhân
Năm 2005, một nghiên cứu do nhà tâm lý học Charles R. Snyder dẫn đầu đã chỉ ra rằng nếu một người mắc tâm lý nạn nhân có thể tha thứ cho chính họ hoặc tha thứ cho hoàn cảnh dẫn đến trạng thái tâm lý đó, các triệu chứng của PTSD hoặc sự thù địch có thể được hòa giải.[24]
Đối với nạn nhân ở tuổi vị thành niên, các nhóm hỗ trợ và kỹ thuật tâm kịch có thể giúp họ có được cái nhìn thực tế về những chấn thương trong quá khứ, thấy rằng trước đây họ từng bất lực nhưng bây giờ không còn như vậy nữa.[25](tr240) Những kỹ thuật này nhấn mạnh vào cảm xúc của nạn nhân và việc bộc lộ những cảm xúc đó. Các nhóm hỗ trợ rất hữu ích trong việc cho phép người khác thực hành các kỹ thuật về sự quả quyết, và nhiệt tình hỗ trợ những người khác trong quá trình này.[25]
Các kỹ thuật thành công đã bao gồm các phương pháp giảng dạy trị liệu liên quan đến các khái niệm về lý thuyết quyết định chuẩn tắc, trí tuệ cảm xúc, liệu pháp nhận thức và vị trí kiểm soát trong tâm lý học. Những phương pháp này đã được chứng minh là hữu ích trong việc cho phép những cá nhân mang tư duy tâm lý nạn nhân nhận ra và giải phóng lối tư duy này.[26]
Chấn thương tâm lý, sự nạn nhân hóa và nạn nhân học Tâm lý nạn nhân
Chấn thương tâm lý có thể làm xói mòn những giả định của một cá nhân về thế giới như một nơi công bằng và hợp lý, và các nghiên cứu khoa học đã phát hiện ra rằng việc xác nhận chấn thương là rất quan trọng đối với quá trình phục hồi trị liệu. Việc nạn nhân muốn thủ phạm chịu trách nhiệm về hành vi sai trái của họ là điều bình thường và các nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân và bác sĩ trị liệu chỉ ra rằng họ coi việc xác nhận chấn thương và tình trạng bị nạn nhân hóa là quan trọng để phục hồi trị liệu.[6] De Lint và Marmo xác định một tâm lý 'chống chủ nghĩa nạn nhân' tồn tại trong toàn xã hội và những người chọn sử dụng nhãn hiệu tâm lý nạn nhân; mong đợi các cá nhân chỉ là "những nạn nhân đích thực" bằng cách thể hiện sự dũng cảm và từ chối thể hiện nỗi đau, với những biểu hiện đau đớn bị coi là dấu hiệu của sự yếu đuối. Điều này sẽ tạo ra một môi trường mà nạn nhân được mong đợi sẽ chia sẻ cảm xúc của họ, nhưng sau đó lại bị đánh giá vì đã thể hiện chúng ra ngoài.[27]:55
Nạn nhân học đã nghiên cứu nhận thức của các nạn nhân từ các góc độ xã hội học và tâm lý học. Những người là nạn nhân của tội phạm có mối quan hệ phức tạp với nhãn hiệu "nạn nhân", họ có thể cảm thấy rằng họ bắt buộc phải chấp nhận nó để nhận được viện trợ hoặc phục vụ cho các quy trình pháp lý; họ có thể cảm thấy việc chấp nhận nhãn hiệu này là cần thiết để tránh bị đổ lỗi; họ có thể muốn bác bỏ nó để tránh bị kỳ thị, hoặc để tự tạo cho mình cảm giác về quyền tự quyết; họ có thể chấp nhận cái nhãn này do mong muốn có được công lý hơn là sự thương cảm. Có thể có một nhị phân sai lầm giữa vai trò của nạn nhân và người sống sót, điều này không thừa nhận quyền tự quyết mà nạn nhân đã sử dụng (ví dụ: rời bỏ những kẻ bạo hành họ) hoặc thực tế là hành vi của người khác đã gây hại cho họ.[28]
Tâm lý nạn nhân tập thể, cạnh tranh và bao trùm Tâm lý nạn nhân
Tâm lý nạn nhân tập thể
Tâm lý nạn nhân tập thể là một lối tư duy được chia sẻ bởi các thành viên trong nhóm rằng nhóm của mình đã bị một nhóm khác cố tình làm hại một cách vô cớ.[29][30] Các nhà tâm lý học chính trị Bar-Tal và Chernyak-Hai viết rằng tâm lý nạn nhân tập thể phát triển từ một quá trình tự nhận thức, được xã hội công nhận và cuối cùng là nỗ lực duy trì tình trạng nạn nhân.[31] Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng cảm giác là nạn nhân tập thể mạnh mẽ có liên quan đến mức độ tha thứ thấp và mong muốn trả thù gia tăng.[6] Họ nhận thấy mô hình này được nhân rộng trong các bối cảnh khác nhau như khi nghĩ về thảm họa Holocaust,[32] xung đột ở Bắc Ireland,[33] và xung đột Israel-Palestine.[33][6][34]
Tâm lý nạn nhân cạnh tranh
Tâm lý nạn nhân cạnh tranh đề cập đến xu hướng coi nhóm của mình phải chịu đựng nhiều hơn so với một nhóm đối thủ[35] và mô tả động lực trong các cuộc xung đột dai dẳng, bạo lực, nơi mỗi nhóm đều tìm cách chứng minh rằng mình đã chịu đựng nhiều hơn nhóm đối phương.[36][37] Kết quả là, các nhóm tham gia vào các cuộc xung đột bạo lực có xu hướng coi việc bị nạn nhân hóa của họ là độc quyền và có thể coi thường, thu hẹp hoặc thậm chí phủ nhận nỗi đau và sự đau khổ của nhóm đối phương.[6][36][38] Các nhà nghiên cứu quan sát thấy rằng tâm lý nạn nhân cạnh tranh phát sinh từ mong muốn của các bên xung đột nhằm bảo vệ hình ảnh đạo đức của họ, khôi phục quyền tự quyết và giành quyền lực.[39][40] Tâm lý nạn nhân cạnh tranh được phát hiện là cản trở nghiêm trọng và đáng kể đến việc giải quyết xung đột và hòa giải,[37] cũng như làm giảm tiềm năng cho sự chung sống hòa bình trong tương lai.[41]
Tâm lý nạn nhân bao trùm
Một số nhà nghiên cứu đã lập luận rằng niềm tin của nạn nhân không nhất thiết góp phần vào xung đột nhóm, với giả thuyết cho rằng những niềm tin của nạn nhân khi nhận ra sự tương đồng giữa trải nghiệm của các nhóm nạn nhân có thể làm tăng sự đồng cảm và hành vi vì xã hội đối với các nhóm ngoại và nhóm đối thủ.[38] Điều này có thể hỗ trợ trong quá trình hòa giải, làm giảm sự cạnh tranh vị thế nạn nhân và gia tăng sự tha thứ.[40][37][42] Các nhà nghiên cứu khác đưa ra giả thuyết rằng thay vì nhấn mạnh đến tâm lý nạn nhân bao trùm, trọng tâm cần được đặt vào lòng nhân đạo chung.[37]
Xem thêm Tâm lý nạn nhân
- DARVO
- Bất bình
- Sự kiện nghiên cứu bất bình
- Quyền tự quyết đạo đức
- Hoang tưởng bị hại
- Tâm lý học xã hội
- Đổ lỗi nạn nhân
- Đóng vai nạn nhân
- Nạn nhân hóa
- Nạn nhân học
Tham khảo Tâm lý nạn nhân
- ↑ Harvey, Annelie J.; Callan, Mitchell J. (ngày 18 tháng 7 năm 2014). "Getting "Just Deserts" or Seeing the "Silver Lining": The Relation between Judgments of Immanent and Ultimate Justice". Abstract. PLOS ONE. 9 (7) e101803. Bibcode:2014PLoSO...9j1803H. doi:10.1371/journal.pone.0101803. PMC 4103766. PMID 25036011.
Những người quan sát sử dụng lập luận công lý tối hậu nhiều hơn đối với một nạn nhân "tốt" và lập luận công lý nội tại nhiều hơn đối với một nạn nhân "xấu". Cách người tham gia hiểu về những rủi ro của họ thay đổi tùy theo giá trị bản thân, với lập luận công lý nội tại lớn hơn đối với những người tham gia có lòng tự trọng thấp hơn.
- ↑ Kaminer, Wendy (ngày 30 tháng 7 năm 2010). "The Culture of 'Victimism' Gives Way to a Culture of Bullying". The Atlantic. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
- 1 2 "What Is a Victim Mentality?". WebMD (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Bar-Tal, Daniel; Chernyak-Hai, Lily; Schori, Noa; Gundar, Ayelet (tháng 6 năm 2009). "A sense of self-perceived collective victimhood in intractable conflicts" (PDF). Sequential stages: the process of victimization; Victim-to-victimizer cycle. International Review of the Red Cross. 91 (874): 234, 256. doi:10.1017/S1816383109990221. S2CID 53594158. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
những người tự nhận mình là nạn nhân cố gắng đạt được sự công nhận của xã hội bằng cách thuyết phục người khác (gia đình, bạn bè, chính quyền, v.v.) công nhận rằng tác hại đã xảy ra và họ là nạn nhân... cảm giác là nạn nhân tập thể có liên quan đến những hậu quả tình cảm tiêu cực như sợ hãi, giảm sự đồng cảm và tức giận, đến những thành kiến nhận thức như việc giải thích những thông tin mơ hồ thành thù địch và đe dọa, đến sự xuất hiện của niềm tin rằng hành động bạo lực được thực hiện là có thể biện minh về mặt đạo đức, đến việc giảm trách nhiệm đạo đức và cuối cùng là xu hướng tìm kiếm sự trả thù.
- ↑ "Ever Met Someone With A Victim Complex? 9 Warning Signs To Look For". mindbodygreen (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2024.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Kaufman, Scott Barry. "Unraveling the Mindset of Victimhood". Scientific American (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Living With a Victim Complex". ThoughtCo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2024.
- ↑ de Vries, Manfred F.R. Kets (ngày 24 tháng 7 năm 2012). "Are You a Victim of the Victim Syndrome?". Mindful Leadership Coaching. London: INSEAD Business Press, Palgrave Macmillan. doi:10.2139/ssrn.2116238.
- 1 2 3 "Victim Of Circumstances Mentality Holding You? Let's Change". wealthfulmind.com (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Shirin, Dr. Kim K. "The Victim Mentality". Articles. DrShirin.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Colier, Nancy (ngày 12 tháng 1 năm 2018). "Are You Ready to Stop Feeling Like a Victim?". Psychology Today. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Zitek, E. M.; Jordan, A. H.; Monin, B.; Leach, F. R. (2010). "Victim entitlement to behave selfishly". Journal of Personality and Social Psychology. 98 (2): 245–55. doi:10.1037/a0017168. PMID 20085398. S2CID 9760588.
- ↑ "Victim Mentality: Signs, Causes, and What to Do". Psych Central (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Learned Helplessness and Generalized Victimhood | Change, Inc. St. Louis Counseling" (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Durlofsky, Dr Paula (ngày 20 tháng 9 năm 2013). "Understanding the Victim Mentality". Main Line Today (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 "Living With a Victim Complex". ThoughtCo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2024.
- ↑ Gabay, Rahav, Boaz Hameiri, Tammy Rubel-Lifschitz, and Arie Nadler. "The Tendency to Feel Victimized in Interpersonal and Intergroup Relationships." The Social Psychology of Collective Victimhood (2020): 361.
- ↑ Remschmidt, Helmut (2001). "Sexual abuse and sexual maltreatment". Psychotherapy with Children and Adolescents. Cambridge University Press. tr. 525–536. doi:10.1017/cbo9780511666438.032. ISBN 978-0-521-77558-8.
- ↑ Braiker, Harriet B. (ngày 3 tháng 10 năm 2004). Who's Pulling Your Strings? How to Break The Cycle of Manipulation. McGraw-Hill Education. ISBN 978-0-07-144672-3.(2006)
- 1 2 Knittle, Beverly J.; Tuana, Susan J. (ngày 1 tháng 1 năm 1980). "Group therapy as primary treatment for adolescent victims of intrafamilial sexual abuse". Helpless Victim Mentality. Clinical Social Work Journal. 8 (4). Human Sciences Press: 237–238. doi:10.1007/BF00758579. S2CID 71450173.
Các nhà trị liệu... đã lưu ý rằng cần một khoảng thời gian dài để xây dựng mối quan hệ tin cậy. Thường có sự thiếu tin tưởng đối với... các nhân vật có thẩm quyền cũng như kỳ vọng bị tổn thương hoặc bị bóc lột.
- ↑ Newsom, Walter S. (tháng 11 năm 1993). "Review of Abused Boys: The Neglected Victims of Sexual Abuse". Contemporary Psychology: A Journal of Reviews. 38 (11): 1235. doi:10.1037/032816. ISSN 0010-7549.
- ↑ Koçtürk, Nilüfer; Bilginer, Samiye Çilem (ngày 1 tháng 11 năm 2020). "Adolescent sexual abuse victims' levels of perceived social support and delayed disclosure". Children and Youth Services Review (bằng tiếng Anh). 118 105363. doi:10.1016/j.childyouth.2020.105363. ISSN 0190-7409. S2CID 225358209.
- ↑ Andronnikova, Olga O.; Kudinov, Sergey I. (ngày 30 tháng 12 năm 2021). "Cognitive Attitudes and Biases of Victim Mentality". Changing Societies & Personalities. 5 (4): 654. doi:10.15826/csp.2021.5.4.155. ISSN 2587-8964. S2CID 247073588.
- ↑ Snyder, Charles R.; Heinze, Laura S. (ngày 1 tháng 4 năm 2005). "Forgiveness as a mediator of the relationship between PTSD & hostility in survivors of childhood abuse". Discussion. Cognition and Emotion. 19 (3). Taylor & Francis: 413–31. doi:10.1080/02699930441000175. PMID 22686650. S2CID 1485398.
...nhìn chung sự tha thứ, cũng như sự tha thứ cho bản thân và hoàn cảnh, có vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa PTSD và sự thù địch.
- 1 2 Knittle, Beverly J.; Tuana, Susan J. (ngày 1 tháng 1 năm 1980). "Group therapy as primary treatment for adolescent victims of intrafamilial sexual abuse". Helpless Victim Mentality. Clinical Social Work Journal. 8 (4). Human Sciences Press: 240. doi:10.1007/BF00758579. S2CID 71450173.
Sự cố tương tự sau đó sẽ được diễn lại, chỉ khác là lần này nạn nhân sẽ ngăn chặn cuộc tấn công bằng lời nói, áp đảo kẻ phạm tội về mặt thể chất, nhờ sự trợ giúp từ cha mẹ khác hoặc một số phương pháp khác. Các thành viên trong nhóm phát triển cảm giác làm chủ các tình huống mà họ từng bất lực. Họ sử dụng nhóm để thực hành các kỹ năng quả quyết và họ nồng nhiệt hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình này.
- ↑ Danziger, Sanford (2010). "The Educational Benefits of Releasing "Victim Mentality": An Approach from the Fields of Business and Psychology" (PDF). Developments. Journal of Developmental Education. 34 (2): 43. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Lint, Willem de; Marmo, Marinella (ngày 3 tháng 7 năm 2018). Narrating Injustice Survival: Self-medication by Victims of Crime (bằng tiếng Anh). Springer. ISBN 978-3-319-93494-5.
- ↑ Leisenring, Amy (2006). "Confronting "Victim" Discourses: The Identity Work of Battered Women". Symbolic Interaction (bằng tiếng Anh). 29 (3): 307–330. doi:10.1525/si.2006.29.3.307. ISSN 1533-8665.
- ↑ Jasini, Alba; Delvaux, Ellen; Mesquita, Batja (2017). "Collective Victimhood and Ingroup Identity Jointly Shape Intergroup Relations, Even in a Non-violent Conflict: The Case of the Belgians". Psychol Belgica. 57 (3): 98–114. doi:10.5334/pb.334. PMC 6196837. PMID 30479795.
- ↑ Bar-Tal, Daniel; Chernyak-Hai, Lily; Schori, Noa; Gundar, Ayelet (ngày 23 tháng 11 năm 2009). "A sense of self-perceived collective victimhood in intractable conflicts". International Review of the Red Cross. 91 (874): 229–258. doi:10.1017/S1816383109990221.
- ↑ Bar-Tal, Daniel; Chernyak-Hai, Lily; Schori, Noa; Gundar, Ayelet (tháng 6 năm 2009). "A sense of self-perceived collective victimhood in intractable conflicts" (PDF). Foundations. International Review of the Red Cross. 91 (874): 233. doi:10.1017/S1816383109990221. S2CID 53594158. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018.
- ↑ Wohl, Michael J. A.; Branscombe, Nyla R. (tháng 6 năm 2008). "Remembering historical victimization: collective guilt for current ingroup transgressions". Journal of Personality and Social Psychology. 94 (6): 988–1006. doi:10.1037/0022-3514.94.6.988. ISSN 0022-3514. PMID 18505313.
- 1 2 "The Shadows of the Past: Effects of Historical Group Trauma on Current Intergroup Conflicts".
- ↑ Shefik, Sheniz (ngày 21 tháng 3 năm 2017). "Socio-psychological Barriers To The Peace Process: Collective Victimhood And Identity In The Israeli-Palestinian Conflict". The Organization for World Peace (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2023.
- ↑ Young, Issac; Sullivan, Daniel (2016). "Competitive victimhood: a review of the theoretical and empirical literature". Current Opinion in Psychology. 11: 30–34. doi:10.1016/j.copsyc.2016.04.004.
- 1 2 Noor, Masi; Shnabel, Nurit; Halabi, Samer; Nadler, Ari (2012). "When suffering begets suffering: the psychology of competitive victimhood between adversarial groups in violent conflicts". Personality and Social Psychology Review. 16 (4): 351–374. doi:10.1177/1088868312440048. PMID 22461010.
- 1 2 3 4 Burkhardt-Vetter, Olga (ngày 21 tháng 2 năm 2018). "Reconciliation in the Making: Overcoming Competitive Victimhood Through Inter-group Dialogue in Palestine/Israel". The Politics of Victimhood in Post-conflict Societies. tr. 237–263. doi:10.1007/978-3-319-70202-5_10. ISBN 978-3-319-70201-8.
- 1 2 Vollhardt, Johanna (ngày 21 tháng 4 năm 2009). "The Role of Victim Beliefs in the Israeli–Palestinian Conflict: Risk or Potential for Peace?". Peace and Conflict: Journal of Peace Psychology. 15 (2): 135–159. doi:10.1080/10781910802544373.
- ↑ Danbold, Felix; Onyeador, Ivuoma; Unzueta, Miguel (tháng 1 năm 2022). "Dominant groups support digressive victimhood claims to counter accusations of discrimination". Journal of Experimental Social Psychology. 98 104233. doi:10.1016/j.jesp.2021.104233.
- 1 2 Shnabel, Nurit; Halabi, Samer; Noor, Masi (tháng 9 năm 2013). "Overcoming competitive victimhood and facilitating forgiveness through re-categorization into a common victim or perpetrator identity". Journal of Experimental Social Psychology. 49 (5): 867–877. doi:10.1016/j.jesp.2013.04.007.
- ↑ Andrighetto, Luca (2012). Banerji, Ishani (biên tập). "The victim wars: How competitive victimhood stymies reconciliation between conflicting groups". The Inquisitive Mind. 5 (15). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Demirel, Cagla (ngày 8 tháng 5 năm 2023). "Exploring inclusive victimhood narratives: the case of Bosnia-Herzegovina". Third World Quarterly. 44 (8): 1770–1789. doi:10.1080/01436597.2023.2205579.
Thư mục Tâm lý nạn nhân
- Christopher Peterson (2006). A Primer in Positive Psychology. Oxford University Press.
- Thomas J. Nevitt: The Victim Mentality. https://web.archive.org/web/20121014034523/http://aaph.org/node/214
- Lạm dụng
- Bắt nạt
- Nạn nhân học
- Tâm lý học đại chúng