Táo mèo
| Táo mèo | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| (không phân hạng) | Rosids |
| Bộ (ordo) | Rosales |
| Họ (familia) | Rosaceae |
| Phân họ (subfamilia) | Maloideae hay Spiraeoideae[1] |
| Chi (genus) | Docynia |
| Loài (species) | D. indica |
| Danh pháp hai phần | |
| Docynia indica (Colebr.) Decne., 1874 | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
Cydonia indica Spach, 1834 | |
Táo mèo (danh pháp hai phần: Docynia indica), còn gọi là sơn trà tại Việt Nam,[2] là một loài trong chi Táo mèo (Docynia) của họ Hoa hồng (Rosaceae).
Đặc điểm
Cây gỗ bán thường xanh hay sớm rụng lá, cao 2–3 m. Các cành nhỏ màu nâu tía hay nâu đen khi già, hình trụ thon búp măng, đẹp, mập, ban đầu rậm lông, khi già không lông; các nụ màu mâu đỏ, có lông tơ, đỉnh nhọn. Lá kèm sớm rụng, hình mác, nhỏ, đỉnh nhọn; cuống lá 0,5–2 cm, thường có lông tơ; phiến lá hình e líp hay mác thuôn dài, kích thước 3,5–8 × 1,5–2,3 cm, mỏng như giấy, lông tơ thưa thớt ở phía xa trục hay gần như không lông, phía gần trục không lông, láng, gốc lá hình nêm rộng bản hay gần như thuôn tròn, mép lá có khía tai bèo nông, hiếm khi có khía răng cưa hay chỉ nguyên ở gần đỉnh, đỉnh nhọn. Cuống ngắn hay gần như không có, có lông tơ. Hoa mọc thành chùm gồm 3–5 hoa, đường kính khoảng 2,5 cm; lá bắc hình mác. Đế hoa hình chuông, với lông tơ rậm rạp ở phía xa trục. Lá đài hình mác hay hình mác tam giác, dài 5–8 mm, cả hai mặt có lông tơ, hơi ngắn hơn so với ở đế hoa, mép nguyên, nhọn đỉnh. Cánh hoa trắng, thuôn dài hay thuôn dài-hình trứng ngược, kích thước 1,2–1,6 cm × 5–9 mm. Nhị hoa khoảng 30. Vòi nhụy dài như nhị, hợp sinh và có lông tơ ở gốc. Quả dạng quả táo màu vàng, hình cầu hay elipxoit, đường kính 2–3 cm, có lông tơ khi non; lá đài bền, ra hoa khoảng tháng 2 - 3, thu hoạch vào tháng 8-10.
Phân bố
Mọc ở sườn núi, ven suối, ven các bụi rậm ở độ cao 2.000 - 3.000 m. Có ở Ấn Độ, Bhutan, Myanma, Nepal, Pakistan, Sikkim, Thái Lan, tây nam Trung Quốc (tây nam Tứ Xuyên, đông bắc Vân Nam).[3] Ở Việt Nam, phân bố chủ yếu ở các dãy núi, đỉnh núi cao ở các tỉnh phía bắc những nơi có độ cao trên 1500m so với mực nước biển nơi cộng động người H'mông (Mèo), Thái sinh sống, táo mèo phân bố nhiều nhất là ở Sa Pa (Lào Cai); Mù Cang Chải, Trạm Tấu (Yên Bái); Bắc Yên (Sơn La), Kỳ Sơn (Nghệ An). Ngoài ra, còn có ở phía nam như ở Nam Trà My (Quảng Nam).
Công dụng quả táo mèo
Quả táo mèo, trong đông y có công dụng an thần. Đặc biệt, hạt táo mèo có công dụng gây buồn ngủ, sử dụng hạt táo mèo đúng cách có thể chữa bệnh mất ngủ.
Quả táo mèo còn dùng để ngâm rượu (rượu táo mèo) rất được ưa thích của người dân các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam.
Ghi chú
- ↑ Potter D. và ctv. (2007). Phylogeny and classification of Rosaceae. Plant Systematics and Evolution. 266(1–2): 5–43.
- ↑ Táo mèo - đặc sản mang hương vị núi rừng Tây Bắc, Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương, 29/05/2023
- ↑ "Docynia indica in Flora of China @ efloras.org". www.efloras.org. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
Liên kết ngoài
- Táo mèo trong e-flora
- Táo mèo Docynia indica hay còn gọi Pyrus indica
- Germplasm Resources Information Network (GRIN). Cục Nghiên cứu Nông nghiệp (ARS), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) https://npgsweb.ars-grin.gov/gringlobal/taxonomydetail.aspx?id=14425. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011.
{{Chú thích}}:|title=trống hay bị thiếu (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - Táo mèo tại Encyclopedia of Life