Bước tới nội dung

Thánh truyện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Tiểu sử thánh nhân)
Thánh Helena thành Constantinople

Thánh truyện hay cổ lục (Hagiography)[1] là một bản tiểu sử của một vị thánh hoặc một nhà lãnh đạo giáo hội, cũng như là một bản tiểu sử mang tính ca tụng và lý tưởng hóa về một nhà thuyết giáo, linh mục, người sáng lập, vị thánh, nhà sư, nữ tu hoặc biểu tượng trong bất kỳ tôn giáo nào trên thế giới.[2][3][4] Các thánh truyện Cơ Đốc giáo sơ khai có thể bao gồm một bản tiểu sử hoặc vita (cuộc đời, từ bắt đầu tiêu đề của hầu hết các tiểu sử thời Trung cổ), một bản mô tả về những việc làm hoặc phép lạ dấu kỳ của vị thánh, một bản ghi chép về sự Thánh tử đạo của vị thánh (được gọi là Passio), hoặc là sự kết hợp của những yếu tố này. Thánh truyện Cơ Đốc giáo tập trung vào cuộc đời, và đặc biệt là các phép lạ, được gán cho những người được phong thánh bởi Giáo hội Công giáo Rôma, Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, các Giáo hội Chính thống giáo Cổ đông phương, và Giáo hội Phương Đông.

Các truyền thống tôn giáo khác như Phật giáo,[5] Ấn Độ giáo,[6] Đạo giáo,[7] Hồi giáo, đạo Sikh và đạo Jain cũng tạo ra và duy trì các văn bản mang tính thánh truyện (chẳng hạn như các bản Janamsakhis của đạo Sikh) liên quan đến các vị thánh, đạo sư và những nhân vật khác được tin là thấm nhuần sức mạnh thiêng liêng. Các tác phẩm thánh truyện, đặc biệt là những tác phẩm từ thời Trung cổ, có thể kết hợp việc ghi chép về lịch sử thể chế và địa phương, cũng như bằng chứng về các giáo phái, phong tục và truyền thống phổ biến.[8] Các Giáo hội Chính thống giáo Cổ đông phương cũng có những truyền thống thánh truyện của riêng mình. Ví dụ, các thánh truyện của Giáo hội Tewahedo Chính thống giáo Ethiopia bằng tiếng Ge'ez được gọi là gadl (Cuộc đời Vị thánh).[9] Có khoảng 200 bản thánh truyện về các vị thánh bản địa.[10] Đó là một trong những nguồn văn bản viết quan trọng nhất của Đế quốc Ethiopia thời Trung cổ, và một số có chứa thông tin lịch sử chính xác.[11] Chúng được viết bởi các môn đệ của những vị thánh. Một số được viết rất lâu sau khi vị thánh qua đời, nhưng một số khác lại được viết không lâu sau khi vị thánh viên tịch.[12][13] Các đoạn trích từ một bản thánh truyện bằng tiếng Nubia Cổ về Thánh Michael hiện vẫn còn tồn tại.[14]

Hồi giáo Thánh truyện

Thánh truyện trong Hồi giáo bắt đầu bằng tiếng Ả Rập với tác phẩm tiểu sử về nhà tiên tri Muhammad vào thế kỷ thứ VIII, một truyền thống được gọi là sīra. Từ khoảng thế kỷ thứ X, một thể loại thường được gọi là manāqib cũng xuất hiện, bao gồm tiểu sử của các imam (madhāhib), những người đã thành lập các trường phái tư tưởng Hồi giáo khác nhau (madhhab) về shariʿa, và các vị thánh Ṣūfī. Cùng với thời gian, thánh truyện về các vị Ṣūfī và phép lạ của họ dần chiếm ưu thế trong thể loại manāqib.[15] Sự Hồi giáo hóa các vùng lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ đã dẫn đến sự phát triển của các tiểu sử thánh bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, bắt đầu từ thế kỷ XIII và tăng tốc vào khoảng thế kỷ XVI. Việc sản xuất các tác phẩm vẫn diễn ra năng động và bắt kịp với những phát triển học thuật trong việc biên soạn tiểu sử lịch sử cho đến năm 1925, khi Mustafa Kemal Atatürk ban hành lệnh cấm đối với các hội huynh đệ Ṣūfī. Khi Thổ Nhĩ Kỳ nới lỏng các hạn chế pháp lý đối với việc thực hành Hồi giáo vào những năm 1950 và 1980, giới Ṣūfī đã quay trở lại xuất bản thánh truyện, một xu hướng vẫn tiếp tục trong thế kỷ 21.[16]

Thánh truyện Ba Tư tập trung chủ yếu vào việc ghi chép, suy tôn và lưu truyền cuộc đời, phẩm hạnh cũng như những trải nghiệm tâm linh siêu việt của các bậc thánh nhân. Trong bối cảnh văn hóa của thế giới Hồi giáo, đặc biệt là tại các khu vực chịu ảnh hưởng của ngữ hệ Đại Ba Tư, thể loại này được gọi chung bằng các thuật ngữ như "Tadhkira" (hồi ký, tiểu sử) hay "Manaqib" (đức hạnh, diễm tích). Truyền thống này suy thoái vào khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, nhưng đã được hồi sinh vào thế kỷ XIX và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay trên không gian mạng.[15] Thánh truyện trong tiếng Ba Tư có thể được xem là bắt nguồn từ những văn bản tiểu sử về Zarathushtra. Trong khoảng từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ XII, một tuyển tập các câu chuyện sùng đạo về Zarathushtra, kết hợp với các phần liên quan của Gathas, đã được phát triển.

Khối tài liệu này hình thành nên cơ sở cho các tài liệu thánh truyện còn tồn tại về Zarathustra, được tìm thấy trong các văn bản tiếng Ba Tư trung đại hoặc tiếng Pahlavi bao gồm DēnkardWizidagiha, cũng như trong các văn bản tiếng Ba Tư hiện đại bao gồm Zaratosht-namaShahnameh.[17] Theo truyền thống, giới học giả Hồi giáo đã đọc tiểu sử của các vị thánh Ba Tư một cách khá thiếu phê phán và xem chúng như những nguồn tiểu sử cho các sự kiện lịch sử có thật. Tuy nhiên, công việc nghiên cứu gần đây hơn, một phần được truyền cảm hứng bởi giới học giả phương Tây về thánh truyện Kitô giáo thời Trung cổ, đã chuyển hướng khỏi việc xem các bản thánh truyện như những kho lưu trữ các sự thật thực chứng, mà chuyển sang ưu tiên việc coi chúng là những sáng tạo văn học phản ánh các ý đồ thẩm mỹ, thần học và chính trị của những người biên soạn chúng.[18]

Các tác phẩm thánh truyện Ba Tư sơ kỳ then chốt bao gồm:[15] Kashf al-maḥjūb (“Sự khải thị của những thực tại bị che khuất”) bởi Abū l-Ḥasan Hujvīrī (mất năm 465/1072–73). Ṭabaqāt al-Ṣūfiyya (“Các thế hệ của những người Ṣūfī”) bởi ʿAbdallāh al-Ansārī (mất năm 481/1088). Ḥālāt-u sukhanān-i Shaykh Abū Saʿīd Abū l-Khayr (“Các trạng thái tâm linh và những lời dạy của Shaykh Abū Saʿīd Abū l-Khayr”) bởi Jamāl al-Dīn Abū Rawḥ Luṭfallāh (mất năm 541/1146–47). Cuộc đời của Aḥmad-i Jām (mất năm 536/1141) bởi Sadīd al-Dīn Muḥammad Ghaznavī (hoạt động khoảng 530–600/1136–1205). Tác phẩm này nhấn mạnh vào những phép lạ được cho là do nhân vật chính thi triển. Tuyển tập thánh truyện kinh điển trong giới học thuật Ba Tư, với chủ đề trải dài từ vùng Balkan đến Trung Á là tác phẩm Tadhkirat al-awliyāʾ (“Tiểu sử các vị thánh”), được sáng tác bởi Aṭṭār (mất năm 618/1221).[15] Về sau, Jāmī (mất năm 898/1492) đã tạo ra một bản tóm lược chứa 618 tiểu sử, trải rộng khắp các truyền thống Ṣūfī: Nafaḥāt al-uns (“Hơi thở của sự gần gũi”).[15] Muḥammad Samarqandī đã biên soạn Tadhkira-yi mazīd (“Tuyển tập tiểu sử vĩ đại”) vào khoảng đầu thế kỷ 16 CN. Mặc dù tác phẩm này hiện đã bị thất lạc, nó vẫn được trích dẫn rộng rãi trong các nguồn khác, cho thấy vị thế từng có sức ảnh hưởng sâu rộng của nó.[15]

Chú thích Thánh truyện

  1. "hagiography". Oxford English Dictionary (ấn bản thứ 3). Oxford University Press. tháng 9 năm 2005. (yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)
  2. Rico G. Monge (2016). Rico G. Monge, Kerry P. C. San Chirico and Rachel J. Smith (biên tập). Hagiography and Religious Truth: Case Studies in the Abrahamic and Dharmic Traditions. Bloomsbury Publishing. tr. 7–22. ISBN 978-1474235792.
  3. Jeanette Blonigen Clancy (2019). Beyond Parochial Faith: A Catholic Confesses. Wipf and Stock Publishers. tr. 137. ISBN 978-1532672828.
  4. Rapp, Claudia (2012). "Hagiography and the Cult of Saints in the Light of Epigraphy and Acclamations". Byzantine Religious Culture. Brill Academic. tr. 289–311. doi:10.1163/9789004226494_017. ISBN 978-9004226494.
  5. Jonathan Augustine (2012), Buddhist Hagiography in Early Japan, Routledge, ISBN 978-0415646291
  6. David Lorenzen (2006), Who Invented Hinduism?, Yoda Press, ISBN 978-8190227261, pp. 120–121
  7. Robert Ford Campany (2002), To Live as Long as Heaven and Earth: A Translation and Study of Ge Hong's Traditions of Divine Transcendents, University of California Press, ISBN 978-0520230347
  8. Davies, S. (2008). Archive and manuscripts: contents and use: using the sources (3rd ed.). Aberystwyth, UK: Department of Information Studies, Aberystwyth University. p. 5.20. ISBN 978-1906214159
  9. Kelly, Samantha (2020). A Companion to Medieval Ethiopia and Eritrea (bằng tiếng Anh). Brill. ISBN 978-9004419582.
  10. Kefyalew Merahi. Saints and Monasteries in Ethiopia. 2 vols. Vol. 2, Addis Ababa: Commercial Printing Press, 2003.
  11. Tamrat, Taddesse (1970). Hagiographies and the Reconstruction of Medieval Ethiopian History (bằng tiếng Anh).
  12. "Lives of Ethiopian Saints". Link Ethiopia. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017.
  13. Galawdewos (2015). The Life and Struggles of Our Mother Walatta Petros: A Seventeenth-Century African Biography of an Ethiopian Woman (bằng tiếng Anh). Princeton University Press. ISBN 978-0691164212.
  14. van Gerven Oei, Vincent W. J.; Laisney, Vincent Pierre-Michel; Ruffini, Giovanni; Tsakos, Alexandros; Weber-Thum, Kerstin; Weschenfelder, Petra (2016). Van Gerven Oei, Vincent W.J.; Laisney, Vincent Pierre-Michel; Ruffini, Giovanni; Tsakos, Alexandros; Weber-Thum, Kerstin; Weschenfelder, Petra (biên tập). The Old Nubian Texts from Attiri (bằng tiếng English). punctum books. doi:10.21983/P3.0156.1.00. hdl:20.500.12657/25470. ISBN 978-0-9982375-7-2.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  15. 1 2 3 4 5 6 Ch. Pellat, "Manāḳib", in Encyclopaedia of Islam, ed. by P. Bearman, Th. Bianquis, C.E. Bosworth, E. van Donzel, and W.P. Heinrichs, 2nd edn, 12 vols (Leiden: Brill, 1960–2005), doi:10.1163/1573-3912_islam_COM_0660.
  16. Alexandre Papas, "Hagiography, Persian and Turkish", in Encyclopaedia of Islam, Three, ed. by Kate Fleet, Gudrun Krämer, Denis Matringe, John Nawas, and Everett Rowson (Leiden: Brill, 2007–), doi:10.1163/1573-3912_ei3_COM_23914.
  17. Jamsheed K. Choksy, 'Hagiography and Monotheism in History: Doctrinal encounters between Zoroastrianism, Judaism and Christianity', Islam and Christian-Muslim Relations, 14:4 (2003), 407-421 (pp. 410-11) doi:10.1080/095964103200012756.
  18. Carl W. Ernst, Rūzbihān Baqli: Mysticism and the Rhetoric of Sainthood in Persian Sufism (London: Routledge, 1996), tr. xiv.

Tham khảo Thánh truyện

  • Berschin, Walter. Biographie und Epochenstil im lateinischen Mittelalter. 5 volumes. Stuttgart: Hiersemann, 1986–2004, ISBN 3-7772-8606-0.
  • DeWeese, Devin. Islamization and Native Religion in the Golden Horde: Baba Tukles and Conversion to Islam in Historical and Epic Tradition. State College, PA: Penn State University Press, 2007.
  • Eden, Jeff. Warrior Saints of the Silk Road: Legends of the Qarakhanids. Brill: Leiden, 2018.
  • Heffernan, Thomas J. Sacred Biography: Saints and Their Biographers in the Middle Ages. Oxford University Press, 1992.
  • Ivanović, Miloš (2019). "Serbian hagiographies on the warfare and political struggles of the Nemanjić dynasty (from the twelfth to the fourteenth century)". Reform and Renewal in Medieval East and Central Europe: Politics, Law and Society. Cluj-Napoca: Romanian Academy, Center for Transylvanian Studies. tr. 103–129. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2020.
  • Mariković, Ana and Vedriš, Trpimir eds. Identity and alterity in Hagiography and the Cult of Saints (Bibliotheca Hagiotheca, Series Colloquia 1). Zagreb: Hagiotheca, 2010.
  • Renard, John. Friends of God: Islamic Images of Piety, Commitment, and Servanthood. Berkeley: University of California Press, 2008.
  • Vauchez, André, La sainteté en Occident aux derniers siècles du Moyen Âge (1198–1431) (BEFAR, 241). Rome, 1981. [Engl. transl.: Sainthood in the Later Middle Ages. Cambridge, 1987; Ital. transl.: La santità nel Medioevo. Bologna, 1989].
  • von der Nahmer, Dieter. Die lateinische Heiligenvita. Eine Einführung in die lateinische Hagiographie. Darmstadt: Wissenschaftliche Buchgesellschaft, 1994, ISBN 978-3-534-19190-1.