Bước tới nội dung

Creole Nghi Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Tiếng Nhật creole Nghi Lan)
Creole Nghi Lan
Tiếng Nghi Lan
Tiếng Hàn Khê
Tiếng Nhật creole Nghi Lan
Khu vựcNghi Lan, Đài Loan
Tổng số người nói?
Phân loạiCreole dựa trên tiếng Nhật
Mã ngôn ngữ
ISO 639-3ycr
Glottologyila1234[1]
ELPYilan Creole

Creole Nghi Lan (tiếng Anh: Yilan Creole Japanese, tiếng Nhật: 宜蘭クレオール, đã Latinh hoá: Giran kureōru) hay tiếng Hàn Khê (tiếng Nhật: 寒溪語, đã Latinh hoá: Kankeigo) là một creole dựa trên tiếng Nhật nói ở Đài Loan. Nó hình thành vào thập niên 1930-40, khi xảy ra sự tiếp xúc giữa thực dân Nhật Bản với người Atayal bản xứ ở mạn nam Nghi Lan. Cấu trúc khối từ vựng creole Nghi Lan ở một người nói sinh năm 1974 là khoảng 70% tiếng Nhật-30% tiếng Atayal, song ngữ pháp thì không quá giống với của hai ngôn ngữ mẹ.[2]

Người bản ngữ tiếng Nhật lẫn tiếng Atayal đều không thể thông hiểu creole này.[3] Creole này được Giản Nguyệt Chân và Sanada Shinji "phát hiện" năm 2006.[3][4] Sanada và Giản là người đặt cho nó cái tên Yilan Creole, theo tên nơi mà nó hiện diện.[5] Ngôn ngữ chính thức của Đài LoanQuan thoại hiện đang đe doạ sự tồn tại của creole Nghi Lan.[5]

Phân loại Creole Nghi Lan

Creole Nghi Lan là một ngôn ngữ creole được coi là thuộc ngữ hệ Nhật Bản-Lưu Cầu.[6] Ngôn ngữ thượng tầng và hạ tầng của creole lần lượt là tiếng Nhật và tiếng Atayal.[3] Nó dựa trên từ vựng và ngữ pháp tiếng Nhật, đồng thời tích hợp ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của các ngôn ngữ Atayal hoặc Seediq cơ bản. Nó cũng hấp thụ một số từ vựng tiếng Phúc Kiến và tiếng Quan Thoại,[7] cuối cùng kết tinh thành một ngôn ngữ mới thông qua quá trình hóa thạch ngôn ngữ. Creole có thể đã được sử dụng như tiếng mẹ đẻ của người Atayal và Seediq kể từ những năm 1930.[5]

Lịch sử Creole Nghi Lan

Đài Loan nằm dưới quản lý của Nhật Bản kể từ sau hiệp ước Shimonoseki năm 1895 cho đến năm 1945.[8][9] Thời gian Nhật Bản cai trị hòn đảo này là khoảng 50 năm.[8] Vào gần cuối thời kỳ này, Đế quốc Nhật Bản bắt đầu thực hiện chính sách đồng hoá người Đài Loan.[8] Theo sau sự tiếp xúc giữa tiếng Atayal và tiếng Nhật, creole Nghi Lan hình thành.[4] Người Đài Loan phải theo học trường dạy đơn ngữ bằng tiếng Nhật và đến năm 1944 thì hơn 77% người Đài Loan đã có thể nói tiếng Nhật.[8][9] Chính phủ đế quốc Nhật Bản còn chủ trương cải cách ngôn ngữ, thay đổi tên họ và áp đặt một số luật lệ về tập quán xã hội đối với người dân Đài Loan.[8] Một bộ phận người Đài Loan đến nay vẫn thành thạo tiếng Nhật và đôi lúc nó còn đóng vai trò lingua franca.[3][10] Dù chính quyền Đài Loan tìm cách xoá bỏ ảnh hưởng Nhật Bản sau khi Nhật đầu hàng năm 1945, tác động của Nhật Bản lên ngôn ngữ, văn hoá Đài Loan vẫn còn rõ nét.[8]

Vị trí của Nghi Lan trên đảo Đài Loan

Thứ tiếng Nhật mà người Atayal nói mang yếu tố tiếng Atayal, dần dần trở thành một pidgin trước khi trở thành creole. Ngôn ngữ này hiện là creole dựa trên tiếng Nhật duy nhất ở Đài Loan.[3][5]

Phân bố và tình trạng Creole Nghi Lan

Creole này được nói ở huyện Nghi Lan tại miền đông Đài Loan, chủ yếu ở các làng Đông Nhạc (東岳), Kim Dương (金洋), Áo Hoa (澳花), Hàn Khê (寒溪); dạng creole Nghi Lan ở mỗi làng có nét khác biệt với nhau.[4][5] Dù không rõ số người nói creole Nghi Lan, con số này khó mà vượt qua tổng dân số bốn làng (khoảng 3.000 người).[3][5] Số người nói có thể nằm trong khoảng 2.000-3.000 người.[3] Tuy người từ mọi lứa tuổi vẫn sử dụng ngôn ngữ này,[10] creole Nghi Lan vẫn chịu đe doạ do giới trẻ ngày một ít tiếp xúc với nó.[4] Trong khi người già có khi không thông thạo Quan thoại thì giới trẻ luôn quen dùng Quan thoại hơn.[5]

Đến nay, tiếng Nhật vẫn có ảnh hưởng nhất định trong xã hội Đài Loan. Những trang web tiếng Nhật vẫn thường được người Đài Loan truy cập và "ít có nước nào cho ra nhiều thông tin bằng tiếng Nhật như Đài Loan".[8] Có thể thấy sự hiện diện của biển quảng cáo tiếng Nhật, cùng với ký tự hiragana の "no" ở Đài Loan.[8] Công dân Đài Loan được giáo dục bằng tiếng Nhật thời thuộc địa đến nay vẫn có thể nói ngôn ngữ này.[8]

Trải qua ba thế hệ người nói creole Nghi Lan, thế hệ đầu và thứ hai cho thấy khả năng sử dụng creole hơn hẳn thế hệ thứ ba.[3] Ở làng Đông Nhạc, giới trẻ đã không còn nói creole Nghi Lan, trong khi tình hình ở Áo Hoa thì có sáng sủa hơn.[5] Với việc di sản Ayatal "trong sáng" và "truyền thống" dần được chú trọng, thứ tiếng creole Nghi Lan mang đầy yếu tố tiếng Nhật đã bị loạt bỏ khỏi giáo dục. Điều này càng làm thúc đẩy sự lan toả của Quan thoại và sự xa lánh creole Nghi Lan với người trẻ tuổi.[3] Trong khi người lớn tuổi nói tiếng Nhật hay creole Nghi Lan với người cùng trang lứa, họ chuyển sang dùng tiếng Atayal hay Quan thoại pha với creole Nghi Lan khi nói chuyện với người trẻ tuổi; giới trẻ thì có xu hướng nói Quan thoại với người cùng trang lứa, còn khi nói với người lớn tuổi thì có thể nói creole.[3]

Âm vị học Creole Nghi Lan

Phụ âm

Creole Nghi Lan có hệ thống 22 phụ âm, thừa hưởng từ tiếng Nhật và tiếng Atayal.[3] Ký tự ký âm khi viết được để trong ngoặc khi nó khác với ký hiệu IPA.

Âm vị phụ âm creole Nghi Lan
MôiChân răngChân răng-vòmVòmNgạc mềmThanh hầu
Mũimnŋ <ng>
Tắcp bt dk ɡʔ <'>
Xáts zɕ <s>xh
Tắc xátt͡s <t>t͡ɕ <t> d͡ʑ <z>
Lướtj <y>w
Nướcr l

Creole Nghi Lan thừa hưởng từ tiếng Nhật ba âm tắc hữu thanh [b], [d], [g], âm xát chân răng hữu thanh [z], âm xát chân răng-vòm vô thanh [ɕ], âm tắc xát chân răng [ts], hai âm tắc xát chân răng-vòm [tɕ] và [dʑ]. Nó không có âm xát đôi môi [ɸ] hay âm mũi lưỡi gà [ɴ] như tiếng Nhật.[3]

Creole Nghi Lan thừa hưởng từ tiếng Atayal âm tắc thanh hầu [ʔ], âm nước chân răng [l] và âm xát ngạc mềm [x]. Nó không có âm tắc lưỡi gà [q] của tiếng Atayal. Một số điểm khác mà creole Nghi Lan tiếp nhận từ tiếng Atayal: [t] và [k] có thể nằm ở cuối từ, âm mũi ngạc mềm [ŋ] xuất hiện ở cả đầu và cuối từ và ba âm xát [s], [x], [h] có thể hiện diện ở cuối từ. Trong một số từ tiếng Nhật, [l] thế chỗ [r], như suware trở thành suwale 'ngồi'. [l] cũng thế chỗ [d] ở một số từ tiếng Nhật, chẳng hạn kyōdai trở thành kyōlai 'anh em'.[3]

Nguyên âm

Hệ thống nguyên âm creole Nghi Lan gồm /a i u e o/ (mà cả tiếng Nhật và Atayal có chung), cùng với /ə/ thừa hưởng từ riêng tiếng Atayal.[3] Tuy nhiên, /u/ trong creole Nghi Lan giống [u] tròn môi tiếng Atayal hơn là [ɯ] không tròn môi của tiếng Nhật.[5]

Nguyên âm dài và phụ âm gấp đôi tiếng Nhật thường được rút ngắn trong creole Nghi Lan, chẳng hạn gakkō 'trường học' trở thành gako 'trường học' trong creole Nghi Lan.[3]

Nhấn âm

Như tiếng Atayal, âm tiết được nhấn là âm tiết cuối cùng của từ.[3]

Từ vựng Creole Nghi Lan

Trong tiếng creole Nghi Lan, hình thức ngữ âm của từ có nguồn gốc từ tiếng Nhật, trong khi các đặc tính ngữ nghĩa có nguồn gốc từ tiếng Atayal.[5] Theo một nghiên cứu về tiếng Creole Nghi Lan ở làng Đông Nhạc của Zeitoun, Teng và Wu, "tỷ lệ từ gốc Atayal trong vốn từ vựng cơ bản của creole Nghi Lan là 18,3%, và tỷ lệ từ gốc Nhật là 35,6%. Khoảng 33,8% là từ có cả gốc Atayal lẫn Nhật".[5] Từ tiếng Quan Thoại và tiếng Mân Nam cũng tồn tại, nhưng ít hơn nhiều. Người nói thuộc thế hệ lớn tuổi có xu hướng sử dụng các biến thể tiếng Atayal và tiếng Nhật thường xuyên hơn người nói thuộc thế hệ trẻ, vốn ưu tiên các biến thể tiếng Quan Thoại hơn nếu có. Các từ dựa trên tiếng Quan Thoại mất đi thanh điệu trong tiếng creole Nghi Lan.[5]

Nhiều từ Atayal liên quan đến thiên nhiên, động vật và thực vật vẫn còn tồn tại trong creole. Từ vựng của hầu hết các khái niệm liên quan đến cuộc sống và văn hóa truyền thống của người Atayal và Seediq vẫn được bảo tồn trong creole.[5]

Hậu tố

Hậu tố động từ -suru trong tiếng creole Nghi Lan, bắt nguồn từ động từ "làm" (する) trong tiếng Nhật, có chức năng như hậu tố tương ứng trong tiếng Nhật, ngoại trừ việc đây là một hình vị phụ thuộc, trong khi -suru trong tiếng Nhật có thể đứng một mình như một động từ độc lập.[5] Ngoài ra, -suru trong tiếng creole Nghi Lan có thể gắn vào danh từ, tính từ và cả động từ đối với những người nói thuộc thế hệ trẻ. Tuy nhiên, những người nói thuộc thế hệ lớn tuổi không chấp nhận sự kết hợp động từ + -suru.

Một phụ tố khác trong creole là -rasyeru có nguồn gốc từ tiếng Nhật dùng cho các dạng nguyên nhân. Tuy nhiên, trong khi biến cách tiếng Nhật có sự phân biệt giữa các động từ kết thúc bằng phụ âm và các động từ kết thúc bằng nguyên âm, hậu tố creole Nghi Lan không có sự phân biệt này.[5]

Từ ghép

Có bốn dạng từ ghép trong creole Nghi Lan:[5]

  1. Loại 1: Gốc Atayal + gốc Atayal (VD: hopa-la'i)
  2. Loại 2: Gốc Atayal + gốc Nhật (VD: hopa-tenki)
  3. Loại 3: Gốc Nhật + gốc Atayal (VD: naka-lukus, kako-balay)
  4. Loại 4: Gốc Nhật + gốc Nhật (VD: naka-pangcyu, unme-zyoto)

Mặc dù các từ ghép Loại 1 xuất hiện trong tiếng Atayal, nhưng tiếng Nhật không có sự xuất hiện của các từ ghép Loại 4 trong chính ngôn ngữ này, cho thấy rằng các từ ghép Loại 2, 3 và 4 là sáng tạo riêng của creole Nghi Lan.[5]

Đại từ

Dưới đây là các đại từ trong creole Nghi Lan:[3]

Số ítSố nhiều
Ngôi thứ 1wa/wahawatati/wahatati
Ngôi thứ 2su/antaAntatati
Ngôi thứ 3hiya/zibun/zin/arezintati/zibuntati/aretati

Các dạng đại từ có nguồn gốc từ tiếng Nhật. Tuy nhiên, so với cả tiếng Atayal và tiếng Nhật, creole Nghi Lan có hệ thống đại từ đơn giản hơn. Creole này phân biệt đại từ theo ngôi và số. Yilan không phân biệt giữa cách, đại từ ràng buộc hay đại từ tự do, cũng như đại từ bao hàm hay loại trừ như tiếng Atayal. Nó cũng không phân biệt giống đực/cái và mức độ lịch sự như tiếng Nhật.[5]

Từ chỉ định

Các từ chỉ định trong tiếng creole Nghi Lan có nguồn gốc từ tiếng Nhật.[3]

Tính từ và phó từ

Tính từphó từ trong tiếng creole Nghi Lan có nguồn gốc từ cả tiếng Nhật và tiếng Atayal.[3] Tính từ gốc Atayal chủ yếu được dùng để chỉ màu sắc và cảm xúc chủ quan. Khác với tiếng Nhật, tính từ trong creole không được biến đổi và thì được thể hiện thông qua các trạng từ chỉ thời gian.[3] Tính từ trong tiếng Creole Nghi Lan cũng có thể đóng vai trò là phó từ khi bổ nghĩa cho động từ. Ví dụ, từ lokah "tốt, mạnh mẽ" đóng vai trò là tính từ khi mô tả anta "bạn" trong cụm từ lokah anta "bạn thật mạnh mẽ" ... trong khi lokah đóng vai trò là phó từ như trong lokah benkyo "học hành chăm chỉ".[3]

Chữ viết Creole Nghi Lan

Creole Nghi Lan sử dụng hệ thống chữ viết Latinh của tiếng Atayal.

Ví dụ Creole Nghi Lan

Sau đây là những câu cơ bản bằng creole Nghi Lan, thể hiện vốn từ vựng và ngữ pháp cơ bản.[2]

Wasi la’i ni pila ageru.

wasi

1SG

la’i

đứa-bé

ni

DAT

pila

tiền

ager-u

đưa-NPST

wasi la’i ni pila ager-u

1SG đứa-bé DAT tiền đưa-NPST

Tôi đưa tiền cho đứa bé.

Are hocyo de niku kiru.

are

3SG

hocyo

dao

de

INS

niku

thịt

kir-u

chặt-NPST

are hocyo de niku kir-u

3SG {dao} INS thịt chặt-NPST

Anh ấy/Cô ấy dùng dao chặt thịt.

Ima wasi pila mocanay.

ima

đang

wasi

1SG

pila

tiền

moca-nay

có-NEG

ima wasi pila moca-nay

đang 1SG tiền có-NEG

Tôi đang không có tiền.

Tham khảo Creole Nghi Lan

  1. Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, biên tập (2013). "Yilan Creole Japanese". Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
  2. 1 2 Yuehchen, Chien; Shinji, Sanada (2010). "Yilan Creole in Taiwan". Journal of Pidgin and Creole Languages. Quyển 25 số 2. tr. 350–357. doi:10.1075/jpcl.25.2.11yue.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 Qiu, P. (2015). A preliminary investigation of Yilan Creole in Taiwan: discussing predicate position in Yilan Creole (PDF) (Luận văn). University of Alberta.
  4. 1 2 3 4 Sanada, S.; Chien, Y. "Yilan Creole of the Atayal People in Eastern Taiwan [Abstract]". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020. {{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần |magazine= (trợ giúp)
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Chien, Yuehchen (2015). "The lexical system of Yilan Creole". Trong Zeitoun, Elizabeth; Teng, Stacy F.; Wu, Joy J. (biên tập). New Advances in Formosan Linguistics. Canberra: Asia-Pacific Linguistics. tr. 513–532. ISBN 978-1-922185-17-4.
  6. "Yilan Creole Japanese". Glottolog (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
  7. "Yilan Creole Japanese". Glottolog (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
  8. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Homma, N., Vestiges of Japanese Colonialism in Taiwan. (PDF), tr. 222–227, truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020
  9. 1 2 Parker, J. D., 2012-04-22 "Japanese language education in colonized Taiwan: Language and assimilation" Paper presented at the annual meeting of the 56th Annual Conference of the Comparative and International Education Society, Caribe Hilton, San Juan, Puerto Rico <Not Available>. 2014-12-12 from http://citation.allacademic.com/meta/p556741_index.html
  10. 1 2 Formation Processes of Japanese Language Varieties and Creoles | NINJAL. (n.d.). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017, from http://www.ninjal.ac.jp/english/research/project/a/creoles/