Thành viên:Tentothehundred/Tỉnh Kazusa
| Tỉnh Kazusa | |
|---|---|
| Tên gọi khác | Sōshū ( |
| Kỳ/đạo | Tōkaidō ( |
| Tương đương | Trung tâm Chiba |
| Số liệu | |
| Đẳng cấp | Đại quốc |
| Khoảng cách | Viễn quốc |
| Số quận, hương | 11 quận, 67 hương |
| Các cơ sở chủ yếu | |
| Quốc phủ Tentothehundred/Tỉnh Kazusa | Ichihara, Chiba |
| Chùa tỉnh Tentothehundred/Tỉnh Kazusa | Ichihara, Chiba |
| Chùa ni tỉnh Tentothehundred/Tỉnh Kazusa | Ichihara, Chiba |
| Ichinomiya | Đền Tamasaki (Thôn Ichinomiya, Quận Chōsei, Tỉnh Chiba) |
Tỉnh Kazusa (
Cùng với các tỉnh Hitachi và Kōzuke, Kazusa là một trong ba shinnōningoku (
Nguồn gốc tên gọi Thành viên:Tentothehundred/Tỉnh Kazusa
Theo sách Kogo Shūi (
Từ thế kỷ 6 đến 7, có nhiều kuni no miyatsuko được thiết lập ở vùng này, về sau có tổng cộng 8 vùng được cai trị bởi các kuni no miyatsuko đó, bao gồm cả tỉnh Awa sau này. Chính quyền Yamato coi tất cả những lãnh địa này là tỉnh Fusa (hoặc Kazusa (上捄国 (Thượng Cầu quốc))), và chúng có quan hệ mật thiết với chính quyền. Một tấm mokkan (gỗ dùng để viết) được khai quật tại Fujiwara-kyō (thủ đô cũ của Nhật Bản) có viết "Tháng 10 năm Kỷ Hợi (699), Matsuzato, Awa, Tỉnh Thượng Cầu (Kazusa)", do đó có thể suy đoán rằng vào cuối thế kỷ 7 tỉnh này vẫn viết là Thượng Cầu. Tuy nhiên, một chiếc ấn chế tác vào năm Đại Bảo thứ 4 (704) lại viết tên tỉnh này là Thượng Tổng. Về cách đọc tên, ban đầu tỉnh này được gọi là Kamitsufusa (/ かみつふさ), về sau đọc chệch thành Kazusa.
Lãnh thổ Thành viên:Tentothehundred/Tỉnh Kazusa
Trước cuộc Minh Trị Duy tân, lãnh thổ Kazusa bao gồm những vùng dưới đây của tỉnh Chiba hiện tại:
- Phía Đông quận Midori, Chiba (phía Đông Nam các thôn Shimoōwada, Takatsudo, Ōtaka, Ochi)
- Thành phố Ichihara
- Thành phố Sodegaura
- Thành phố Kisarazu
- Thành phố Kimitsu
- Thành phố Futtsu
- Phía Tây thôn Yokoshibahikari, quận Sanbu (từ sông Kuriyama)
- Các thôn Kujūkuri và Shibayama, quận Sanbu
- Thành phố Sanmu
- Thành phố Tōgane
- Thành phố Ōamishirasato
- Thành phố Mobara
- Các thôn Shirako, Chōsei, Ichinomiya, Mutsuzawa, Chōnan, Nagae, quận Chōsei
- Thành phố Isumi
- Các thôn Onjuku và Ōtaki, quận Isumi
- Thành phố Katsuura
- Một phần thành phố Kamogawa (Yomogi)
Lịch sử Thành viên:Tentothehundred/Tỉnh Kazusa
Trước thời Ritsuryō, có 8 kuni no miyatsuko được thiết lập tại các vùng Sue, Umakuta, Kamitsuunakami, Ijimi, Musa, Kikuma, Awa, và Nagasa. Dưới chế độ ritsuryō, tỉnh Kazusa thuộc đạo Tōkaidō được thành lập bao gồm 15 quận Ichihara, Unakami, Ahiru, Mōda, Sue, Kamihabu, Nagara, Yamabe, Musa, Amaha, Isumi, Heguri, Awa, Asai, và Nagasa. Ban đầu, Tōkaidō là một tuyến đường biển cắt ngang qua kênh đào Uraga, và phần phía Nam bán đảo Bōsō gần vùng Kinai hơn trở thành tỉnh Kazusa, trong khi phần phía Bắc xa hơn trở thành tỉnh Shimōsa.
Vào ngày 2 tháng 5 năm Dưỡng Lão thứ 2 (ngày 4 tháng 6 năm 718), 4 quận Heguri, Awa, Asai, Nagasa trước đây thuộc về 2 kuni no miyatsuko Awa và Nagasa tách ra khỏi Kazusa và trở thành tỉnh Awa. Vào ngày 10 tháng 12 năm Thiên Bình thứ 13 (20 tháng 1 năm 742), tỉnh Awa được sáp nhập lại vào Kazusa, tuy nhiên vào năm Thiên Bình Bảo Tự nguyên niên (năm 757) tỉnh Awa lại tách ra một lần nữa. Từ đó về sau lãnh thổ của Kazusa giữ nguyên trong một thời gian dài. Ngày 6 tháng 9 năm Thiên Trường thứ 3 (ngày 10 tháng 10 năm 826), các tỉnh Kazusa, Hitachi, và Kōzuke được xếp hạng Đại quốc, đồng thời trở thành shinnōningoku, đồng nghĩa với việc kokushu (
Từ cuối thời kỳ cổ đại đến trung đại, gia tộc Kazusa hoạt động rất mạnh mẽ ở đây. Trong thời kỳ Kamakura, sau khi Kazusa Hirotsune mất, quyền lực rơi vào tay gia tộc Ashikaga. Dưới thời kỳ Muromachi, chức shugo (
Sau cuộc vây hãm Odawara của Toyotomi Hideyoshi, Tokugawa Ieyasu bị đày tới vùng Kantō, nơi ông thiết lập 5 gia tộc có 1 vạn thạch, đứng đầu là gia tộc Honda tại Ōtaki. Dưới thời kỳ Edo, 5 tộc này phát triển thành 7 phiên Kururi, Iino, Sanuki, Tsurumaki, Ichinomiya, Ōtaki, và Jōzai. Tính cả các lãnh địa của mạc phủ và các hatamoto, có tổng cộng 1200 thôn tại đây.
Trong thời gian từ thời Bakumatsu cho đến khi chính phủ Minh Trị được thành lập, phiên Jōzai bị tước lãnh thổ vào tháng 12 năm Minh Trị nguyên niên (1868) vì bất tuân triều đình. Ngoài ra, sau khi Tokugawa Iesato được lĩnh phiên Suruga-Shizuoka cùng 70 vạn thạch, cho đến năm Minh Trị thứ 2 (1869), đã có thêm 6 phiên mới là Kikuma, Kanegasaki (sau là Sakurai), Kokubo, Tsurumai, Shibayama (sau là Matsuo), và Ōami. Trong khi đó, các lãnh địa của mạc phủ và hatamoto được giao cho Shibayama Ten, thống đốc các tỉnh Awa-Kazusa quản lý.
Với việc các hanshu[chú thích 3] trở thành chihanji (
Từ thời Minh Trị về sau
- Các phiên và quận vào năm Minh Trị nguyên niên, được chép trong sách Kyūdaka-kyūryō Torishirabe-chō (tổng cộng 1203 thôn và hơn 425.616 thạch). Chữ in đậm biểu thị hanchō (
藩 庁 (Phiên sảnh))[chú thích 4]. Các phiên có tên tỉnh là lãnh thổ tách rời của tỉnh đó.- Quận Amaha (77 thôn - 24.432 thạch) - Đất mạc phủ, hatamoto, phiên Sanuki, phiên Maebashi tỉnh Kōzuke
- Quận Sue (109 thôn - 27.171 thạch) - Đất mạc phủ, hatamoto, yoriki, phiên Iino, phiên Jōzai, phiên Maebashi tỉnh Kōzuke, phiên Nishibata tỉnh Mikawa
- Quận Mōda (193 thôn - 60.314 thạch) - Đất mạc phủ, hatamoto, yoriki, phiên Kururi, phiên Jōzai, phiên Iino, phiên Tsurumaki, phiên Iwatsuki tỉnh Musashi, phiên Maebashi tỉnh Kōzuke