Bước tới nội dung

Thành viên:Leeaan/nháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đặng Tiểu Bình
邓小平
Đặng Tiểu Bình vào năm 1979
Chủ nhiệm Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Nhiệm kỳ
13 tháng 9 năm 1982  2 tháng 11 năm 1987
Cấp phó
Tổng Bí thư
Tiền nhiệmChức vụ được thành lập
Kế nhiệmTrần Vân
Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung Quốc
Nhiệm kỳ
(Trung ương Đảng) 28 tháng 6 năm 19819 tháng 11 năm 1989
Cấp phó
Tổng Bí thư
Tiền nhiệmHoa Quốc Phong
Kế nhiệmGiang Trạch Dân
Nhiệm kỳ
(Cấp nhà nước) 6 tháng 6 năm 1983  19 tháng 3 năm 1990
Tiền nhiệmLưu Thiếu Kỳ
(Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng)
Kế nhiệmGiang Trạch Dân
Thông tin cá nhân
Sinh
Đặng Tiên Thánh

(1904-08-22)22 tháng 8 năm 1904
Quảng An, Tứ Xuyên, Đại Thanh
Mất19 tháng 2 năm 1997(1997-02-19) (92 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc
Nơi an nghỉTro cốt được rải xuống biển
Đảng chính trịĐảng Cộng sản Trung Quốc
(từ 1924)
Phối ngẫu
  • Trương Tích Viện
    (cưới 1928  mất 1929)
  • Kim Duy Ánh (cưới 19311939)
  • Trác Lâm (cưới 1939)
Con cái6 (xem chi tiết)
Giáo dụcĐại học Trung Sơn Moskva
Chữ ký
Websitecpc.people.com.cn
Phục vụ trong quân đội
Phục vụ
Năm tại ngũ1929–1952, 1975–1980
Cấp bậc
Đơn vị
Tham chiến
Lãnh đạo quốc gia tối cao
Đặng Tiểu Bình
Giản thể
Phồn thể

Đặng Tiểu Bình, tên khai sinh là Đặng Tiên Thánh, là một chính khách người Trung Quốc, ông là Lãnh đạo tối cao của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ năm 1978 đến năm 1997 (khi ông qua đời). Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Đặng lên nắm quyền và lãnh đạo Trung Quốc qua một loạt những cải cách kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa có ảnh hưởng sâu rộng, người Trung Quốc thường gọi ông với danh xưng "kiến trúc sư của Trung Quốc hiện đại".

Sinh ra trong một gia đình địa chủ có học thức ở tỉnh Tứ Xuyên, Đặng học tập và làm việc tại Pháp trong những năm 1920, nơi ông đã trở thành một người đi theo chủ nghĩa Mác Lênin. Ông gia nhập Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1923. Trong thời gian trở lại Trung Quốc, Đặng gia nhập tổ chức đảng ở Thượng Hải, trở thành một chính ủy của Hồng quân Trung Quốc ở những khu vực nông thôn. Năm 1931, ông bị giáng cấp do việc ủng hộ Mao Trạch Đông, nhưng được thăng cấp trở lại trong Hội nghị Tuân Nghĩa 1935. Khoảng cuối những năm thập niên 30, Đặng được xem là một "nhà cách mạng kì cựu" bởi vì ông đã từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh. Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, Đặng làm việc ở Tây Tạng cũng như vùng Tây Nam Trung Quốc nhằm củng cố sự quản lý của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Với vai trò là Tổng thư ký Quốc vụ viện trong những năm thập niên 1950, Đặng đứng đầu Chiến dịch chống cánh hữu được phát động bởi Mao và có công lớn trong việc cải cách nền kinh tế Trung Quốc sau chiến dịch Đại nhảy vọt (1958-1960). Tuy nhiên, những chính sách kinh tế của Đặng đã khiến ông mất đi sự ủng hộ của Mao và ông từng bị bắt giam hai lần trong Cách mạng văn hóa.

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Đặng trở thành lãnh tụ tối cao Trung Quốc trong tháng 12 năm 1978. Lên lãnh đạo một đất nước bao phủ bởi xung đột xã hội, vỡ mộng với ý thức hệ và rối loạn do những nguyên nhân từ các chính sách của thời kỳ Mao Trạch Đông nắm quyền, Đặng đã bắt đầu mang đất nước vào khuôn khổ. Từ năm 1977 tới đầu năm 1979, ông đã tổ chức kì thi đại học cao đẳng trong Trung Quốc sau khi bị gián đoạn bởi Cách mạng văn hóa trong 10 năm, khởi xưởng chính sách lịch sử Cải cách mở cửa Trung Quốc, phát động Chiến tranh biên giới Việt - Trung. Trong tháng 8 năm 1980, ông bắt đầu cải tổ lại nền chính trị Trung Quốc bằng cách đặt ra giới hạn nhiệm kỳ cho các quan chức và đề xuất một sửa đổi mang tính hệ thống đối với Hiến pháp lần thứ ba của Trung Quốc. Trong những năm thập niên 80, Đặng ủng hộ chính sách kế hoạch hóa gia đình nhằm đối phó với sự gia tăng quá nhanh dân số Trung Quốc, thực hiện chính sách Giáo dục bắt buộc và đưa ra Chương trình 863 cho khoa học và kĩ thuật.

Mặc dù Đặng Tiểu Bình chưa bao giờ có chức vụ nguyên thủ quốc gia hay đứng đầu chính phủ hoặc Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc nhưng nhiều người gọi ông là "kiến trúc sư" của một kiểu tư tưởng mới, kết hợp tư tưởng chủ nghĩa xã hội với thị trường tự do, được gọi là "chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc". Ông mở cửa Trung Quốc giao lưu với thị trường thế giới, những chính sách phát triển Trung Quốc thành một trong những nền kinh tế phát triển nhất thế giới và tăng chất lượng cuộc sống của hàng trăm triệu người. Đặng được bình chọn là Nhân vật của năm của tạp chí Time năm 1978 và 1985. Ông bị chỉ trích vì ra lệnh trấn áp những người biểu tình trong sự kiện Thiên An Môn, nhưng được khen ngợi cho sự tái khẳng định của ông về chương trình cải cách trong chuyến đi xuống phía Nam năm 1992 cũng như sự kiện bàn giao Hồng Kông cho Trung Quốc năm 1997.

Thân thế và thiếu thời Thành viên:Leeaan/nháp

Đặng Tiểu Bình sinh ngày 22 tháng 8 năm 1904 (tức ngày 12 tháng 7 âm lịch) tại thôn Bái Phường, nay thuộc trấn Tà Hưng, huyện Quảng An, tỉnh Tứ Xuyên.[1][2] Tên khai sinh của ông là “Đặng Tiên Thánh” (邓先圣). Tuy nhiên, khi lên năm tuổi, thầy giáo ông thấy cái tên “Tiên Thánh” có phần bất kính với Khổng Tử nên đổi thành “Hy Hiền” (希贤).[a] Mãi đến năm 1923, ông mới đổi sang tên “Tiểu Bình” (小平).[3] Tổ tiên của Đặng có thể có nguồn gốc từ huyện Mai, Quảng Đông, một vùng định cư xa xưa của người Khách Gia. Con gái ông là Đặng Lâm viết trong cuốn Cha của tôi Đặng Tiểu Bình rằng tổ tiên của Đặng có thể nhưng không chắc chắn là người Khách Gia. Sau này, người ta xác định Đặng có quê tổ ở quận Thanh Nguyên, địa cấp thị Cát An, tỉnh Giang Tây, di cư đến Tứ Xuyên từ thế kỷ XIV. Một tổ tiên của ông tên là Đặng Thì Mẫn từng giữ chức Đại lý tự chính khanh dưới triều vua Càn Long nhà Thanh. Càn Long từng ngự ban cho gia đình ông một bức hoành phi, nhưng tác phẩm này đã bị phá hủy trong Cách mạng Văn hóa.[2]

Cha Đặng Tiểu Bình là Đặng Thiệu Xương, một tiểu địa chủ khá giả, sở hữu khoảng 7 đến 20 hecta đất canh tác, trồng trọt, nuôi tằm, đồng thời thuê một số tá điền làm việc. Ông là người có tư tưởng tiến bộ: từng theo học tại Đại học Luật và Khoa học Chính trị ở Thành Đô, là đồng sáng lập kiêm giáo viên của ngôi trường hiện đại duy nhất trong làng nên được dân địa phương hết sức kính trọng.[4] Ngoài đời sống trí thức, Đặng Thiệu Xương còn là tín đồ của cả Phật giáo lẫn Đạo giáo, đồng thời tham gia một hội kín phản Thanh phục Minh. Năm 1910, ông tham gia phong trào bảo vệ đường sắt, và trong cuộc Cách mạng Tân Hợi, ông gia nhập Đảng Tiến bộ – lực lượng đã nắm chính quyền tại Tứ Xuyên. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy một đơn vị phụ trách gìn giữ trật tự trị an trong tỉnh. Tuy nhiên, sự nghiệp chính trị khiến ông gặp nhiều rắc rối, buộc phải ẩn náu tại Trùng Khánh.[5] Do thua bạc, ông phải bán bớt một phần ruộng đất. Trong thời gian Đặng Thiệu Xương vắng nhà, mẹ của Đặng Tiểu Bình (bà Đàm Thị) tảo tần nuôi con trong điều kiện kinh tế hết sức chật vật.[6] Sau khi bà qua đời, cha ông tái hôn nhiều lần. Đặng Tiểu Bình có tổng cộng một chị gái, hai em trai ruột, một em trai cùng cha khác mẹ, ba em gái cùng cha khác mẹ và một chị kế; một số trong số này có thể ông chưa từng gặp mặt.

Từ nhỏ, Đặng Tiểu Bình đã được cha định hướng theo con đường học vấn để thành đạt. Năm lên năm tuổi, ông bắt đầu học tại một trường tư thục truyền thống rập khuôn Nho giáo, nhưng giống như nhiều thiếu niên cùng trang lứa, ông không mấy hứng thú với loại hình giáo dục cổ điển này.[7] Một năm sau, ông chuyển sang học tại một trường tiểu học sơ cấp kiểu mới, rồi tiếp tục học tại ngôi trường trung học hiện đại duy nhất ở Quảng An.[6][8] Thời niên thiếu của Đặng Tiểu Bình trôi qua giữa bối cảnh những biến động lịch sử sâu sắc của Trung Quốc, trong đó có sự sụp đổ của nhà Thanh và sự ra đời của Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1919, khi mới 14 tuổi, ông được cha gửi lên Trùng Khánh để nhập học tại một trường dự bị dành cho học sinh chuẩn bị du học Pháp, sau khi nghe tin về chương trình này. Cùng đi với ông là người chú họ Đặng Thiệu Thánh – người chỉ lớn hơn ông vài tuổi. Không rõ vì sao cha ông quyết định cho ông du học, song điều đó đồng nghĩa với việc Đặng Tiểu Bình sẽ không kế thừa sản nghiệp gia đình – một quyết định đi ngược lại khuôn mẫu tư tưởng truyền thống Trung Hoa đương thời.[9]

Trong năm 1919–1920, chương trình đào tạo tại Trùng Khánh chủ yếu tập trung vào giảng dạy tiếng Pháp, tiếng Trung và một số kỹ năng thủ công cơ bản. Tại đây, Đặng Tiểu Bình gia nhập một tổ chức mang tên Phong trào Cần công Kiệm học (勤工俭学运动), do Lý Dục Doanh – một nhà yêu nước theo chủ nghĩa vô chính phủ và có tư tưởng thân Pháp – khởi xướng. Mục tiêu của phong trào là đưa thanh niên Trung Quốc sang Pháp để vừa lao động kiếm sống vừa học tập, qua đó thúc đẩy giao lưu khoa học và xã hội giữa Trung Quốc và phương Tây.[10] Trong thời gian học tại Trùng Khánh, Đặng tích cực tham gia Phong trào Ngũ Tứ và các hoạt động tẩy chay hàng hóa Nhật Bản.[11] Ngày 11 tháng 9 năm 1920, Đặng Tiểu Bình cùng người chú họ Đặng Thiệu Thánh và khoảng 200 lưu học sinh – phần lớn đến từ các tỉnh Tứ Xuyên và Hồ Nam – lên tàu Entreprenant tại bến Thượng Hải khởi hành sang Marseille, Pháp. Trên hành trình này, từ các cảng trung chuyển cho đến khi đặt chân đến châu Âu, Đặng nhiều lần chứng kiến tận mắt cảnh người dân bản địa ở các nước thuộc địa bị người Tây hạ nhục. Những trải nghiệm ấy để lại dấu ấn sâu sắc trong nhận thức chính trị và thế giới quan đang hình thành của ông.[12][13]

Du học nước ngoài Thành viên:Leeaan/nháp

Pháp

Đặng năm 16 tuổi khi đang du học tại Pháp (1921)

Đặng Tiểu Bình và các đồng chí đến Pháp vào tháng 10 năm 1920, trong bối cảnh có khoảng 1.600 lưu học sinh – công nhân Trung Quốc được đưa sang Pháp trong giai đoạn 1919–1921. Họ được phân bổ về nhiều trường trung học (lycées) trên khắp nước Pháp, nhằm học tiếng Pháp đến trình độ đủ để theo học bậc cao hơn.[14] Đặng và người chú họ được Hiệp hội Giáo dục Hoa kiều sắp xếp đến học tại một trường trung học nam sinh thị trấn Bayeux thuộc vùng Normandie, nằm cách Paris khoảng 200 km. Ngày 21 tháng 10 năm 1920, Đặng cùng 24 học sinh khác đến Bayeux, nhập học tại đây với số báo danh 1421. Vì trường này không có trường trung học cơ sở trực thuộc, hiệu trưởng đã sắp xếp cho hơn 20 học sinh Trung Quốc học tại khoa thương mại trong một lớp riêng biệt. Sau này, khi hồi tưởng về thời gian tại đây, Đặng kể lại rằng ông "chẳng học được gì ở đó, thức ăn thì dở tệ và bản thân bị đối xử như một đứa con nít".[15]

Ngay từ tháng 1 năm 1921, học sinh được thông báo rằng Hiệp hội Giáo dục Hoa kiều không còn đủ kinh phí và từ nay họ phải tự lo liệu sinh hoạt. Dù vẫn nhận được một ít trợ giúp từ gia đình, Đặng buộc phải làm việc tại nhiều nhà máy khác nhau để mưu sinh. Mới 16 tuổi, ông đã làm việc tại lò cao của công ty Schneider et Cie. ở Le Creusot, sau đó chuyển sang làm tại một nhà máy sản xuất hoa giấy và nhà máy giày cao su Hutchinson ở Châlette-sur-Loing, và từ năm 1925 làm cho hãng xe hơi Renault. Đặng và nhiều thanh niên Trung Quốc khác – vốn xuất thân từ các gia đình khá giả và thuộc tầng lớp ưu tú ở quê nhà – buộc phải làm những công việc nặng nhọc mà người Pháp không muốn làm, với mức lương thấp hơn cả học việc bản xứ. Mọi nỗ lực để kiếm đủ tiền tiếp tục học hành đều không thành công. Tình cảnh bế tắc khiến cộng đồng lưu học sinh – công nhân Trung Quốc tại Pháp trở nên gắn bó chặt chẽ và ngày càng mang xu hướng cấp tiến. Họ tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối chính quyền Pháp và chính phủ Trung Quốc. Từ năm 1922, một tổ chức đã hình thành và năm sau trở thành một phần của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc. Đến năm 1924, tất cả hội viên của tổ chức cộng sản người Hoa tại Pháp được kết nạp tự động vào Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Một năm sau, đảng này liên minh với Trung Quốc Quốc dân Đảng (TQQDĐ).

Đặng Tiểu Bình chuyển hướng sang chủ nghĩa cộng sản vào mùa hè năm 1923, không phải do ảnh hưởng lý thuyết, mà bởi những trải nghiệm thực tiễn về bất công và sự khinh miệt mà các trí thức Trung Quốc phải chịu đựng trong lao động. Tháng 6 năm 1923, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Xã hội Chủ nghĩa Trung Quốc, đồng thời cắt đứt liên hệ với gia đình. Cũng từ tháng đó, ông làm việc cho văn phòng của Đảng Cộng sản tại Paris do Chu Ân Lai phụ trách. Ông viết bài cho tờ Hồng Quang, trong đó có nhiều bài được lưu lại đến nay. Những bài viết này thể hiện quan điểm rằng Trung Quốc cần một nhà nước có tính chuyên chế để đối phó với các thế lực đế quốc; văn phong trực diện, tư duy cấp tiến nhưng còn thiếu chiều sâu lý luận. Sau đó, Đặng được giao nhiều nhiệm vụ như phụ trách công tác tuyên truyền và lãnh đạo chi bộ tại Lyon, tham gia tổ chức biểu tình và từng tham dự một cuộc tấn công vào tòa công sứ Trung Quốc tại Paris, buộc một vị bộ trưởng phải ký văn thư phản đối gửi chính quyền Pháp và chính phủ Bắc Dương về sự lạm quyền của quân đội nước ngoài tại Trung Quốc. Ông tích cực kêu gọi hợp tác chặt chẽ hơn với Liên Xô để đạt được mục tiêu cách mạng.

Giai đoạn hoạt động tại Pháp có ý nghĩa đặc biệt đối với sự nghiệp chính trị của Đặng Tiểu Bình. Ông là thành viên của nhóm cộng sản trẻ gồm Chu Ân Lai, Triệu Thập Duyên, Lý Phú Xuân, Trần Nghị, Nhiếp Vinh Trăn và Lý Duy Hán – những người sau này giữ vai trò quan trọng trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dù không hình thành thành một phe phái riêng, họ chia sẻ những kinh nghiệm và lý tưởng chung về con đường phát triển của Trung Quốc. Chính quyền Pháp đã theo dõi sát sao hoạt động của các phần tử cộng sản Trung Quốc. Ngày 8 tháng 1 năm 1926, cảnh sát tiến hành đột kích trụ sở nhỏ của tờ báo tại phố Rue CastéjaBordeaux, song Đặng may mắn thoát nạn, vì ông đã lên đường sang Moskva từ ngày hôm trước.

Liên Xô

Ngày 17 tháng 1 năm 1926, Đặng Tiểu Bình đến Moskva và ban đầu theo học tại Đại học Cộng sản dành cho công nhân phương Đông. Chỉ vài tuần sau, ông được chuyển sang Đại học Trung Sơn Moskva, một cơ sở giáo dục do Quốc dân đảng Trung QuốcĐảng Cộng sản Liên Xô đồng tài trợ. Tại đây, Đặng phải đối mặt với yêu cầu học thuật cao, song ông học tập rất chăm chỉ và đạt thành tích tốt. Tuy nhiên, cũng như thời gian ở Pháp, ông không học được tiếng Nga, giống như việc ông chưa từng thành thạo tiếng Pháp.[16] Vào thời điểm đó, Liên Xô đang thực hiện chính sách Kinh tế Mới (NEP), và các lưu học sinh Trung Quốc được cung cấp điều kiện sinh hoạt tốt, bao gồm cả các chương trình văn hóa. Trong nội bộ sinh viên Trung Quốc tại trường, mâu thuẫn giữa các phe phái chính trị thường xuyên xảy ra; Đặng cũng bị cuốn vào các xung đột này, song luôn chấp hành nghiêm kỷ luật đảng. Ban giám hiệu đánh giá ông là người đặc biệt phù hợp với công tác tuyên truyền và tổ chức đảng.[16]

Tuy nhiên, Đặng chỉ ở lại Moskva trong vòng 11 tháng. Việc ông được triệu hồi về nước có liên quan đến Phùng Ngọc Tường, một quân phiệt nổi bật tại miền Bắc Trung Quốc trong thời kỳ nội chiến. Phùng là một người theo đạo Thiên Chúa và có xu hướng truyền thống, đồng thời chủ trương làm gương đạo đức cho binh sĩ và quần chúng, nhờ đó trở thành một trong những thủ lĩnh có uy tín hơn thời bấy giờ. Năm 1924, Phùng từng đề nghị Liên Xô viện trợ, và phía Moskva đã cung cấp tài chính, vũ khí cùng các cố vấn quân sự – chính trị. Đến năm 1926, sau một loạt thất bại quân sự, Phùng đích thân sang Moskva để cầu viện thêm. Ngoài việc cử thêm cố vấn, phía Liên Xô còn đưa theo một số đảng viên cộng sản Trung Quốc do Lưu Bá Kiện (刘伯坚) dẫn đầu để hỗ trợ. Đầu năm 1927, khi quân của Phùng vừa giải vây Tây An và chuẩn bị tiến vào Hà Nam để tham gia Bắc phạt cùng quân của Tưởng Giới Thạch, ông tiếp tục đề nghị được hỗ trợ thêm nhân lực. Moskva quyết định cử một số sinh viên ưu tú người Trung Quốc tham gia, trong đó có Đặng Tiểu Bình. Ngày 12 tháng 1 năm 1927, Đặng rời Moskva, mang theo một bảng điểm xuất sắc cùng sự đánh giá cao từ nhà trường.[17]

Thời kỳ nội chiến Thành viên:Leeaan/nháp

Cuối tháng 3 năm 1927, Đặng Tiểu Bình cùng khoảng 20 đồng chí đến Tây An. Tại đây, ông được bổ nhiệm làm Trưởng ban Chính trị của Học viện Quân sự do Phùng Ngọc Tường thành lập. Ông phụ trách giảng dạy cho khoảng 100 hạ sĩ quan các môn lịch sử cách mạng, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Lenintư tưởng Bolshevik. Nhờ năng lực nổi bật, ông nhanh chóng được bầu vào Ban Chấp hành của chi bộ Quốc dân đảng tại Học viện.[18]

Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, liên minh Quốc–Cộng tan rã sau sự kiện Thảm sát Thượng Hải ngày 12 tháng 4 năm 1927, khi Tưởng Giới Thạch phát động chiến dịch đàn áp quy mô lớn nhằm vào các đảng viên cộng sản. Đặng cùng một số thành viên cánh tả trong Quốc dân đảng phát động phong trào chống Tưởng, đỉnh điểm là một cuộc biểu tình lớn ngay trước tư dinh của Phùng Ngọc Tường. Sau một loạt tham vấn chính trị, Phùng quyết định ngả về phe Tưởng. Đến mùa hè năm 1927, toàn bộ các đảng viên cộng sản buộc phải rút khỏi quân đội và rời khỏi Tây An. Đặng lên đường tới Vũ Hán – lúc đó là nơi đặt trụ sở Trung ương lâm thời của ĐCSTQ.[19]

Hoạt động tại Trung ương Đảng

Tại Vũ Hán, Đặng tái ngộ nhiều đồng chí từng hoạt động cùng ông ở Pháp như Chu Ân Lai, Lý Lập TamLý Duy Hán. Ông bắt đầu công tác tại Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ với vai trò thư ký, chủ yếu phụ trách ghi chép biên bản các cuộc họp. Dù chưa đảm nhận vai trò lãnh đạo, ông vẫn tham dự nhiều hội nghị quan trọng. Các ghi chép tại Hội nghị ngày 7 tháng 8 năm 1927 – nơi Trung ương quyết định chuyển hướng sang đấu tranh vũ trang chống lại Quốc dân đảng – chính là do ông soạn thảo. Tại hội nghị này, ông cũng lần đầu tiên gặp Mao Trạch Đông, song cả hai chưa có tương tác đặc biệt. Do tình hình chính trị ngày càng căng thẳng, ĐCSTQ buộc phải rút vào hoạt động bí mật. Các chỉ thị từ Moskva thường mang tính giáo điều, xa rời thực tiễn, khiến nội bộ Đảng gặp nhiều khó khăn. Nhiều đảng viên bị bắt, sát hại hoặc đào ngũ, lực lượng cách mạng bị tổn thất nghiêm trọng. Vì lý do an ninh, từ thời điểm này, Đặng bắt đầu chính thức sử dụng bí danh “Tiểu Bình”.[20]

Tháng 10 năm 1927, Trung ương ĐCSTQ chuyển trụ sở về Thượng Hải. Đặng tiếp tục công tác tại đây cho đến tháng 9 năm 1929, chủ yếu phụ trách công tác tổ chức và hành chính. Để che giấu thân phận, ông đồng thời làm một số công việc dân sự trong đời sống thường nhật. Đầu năm 1928, ông kết hôn với Trương Tích Viện, người từng là bạn học của ông tại Moskva. Trong giai đoạn này, ĐCSTQ phát động nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào công nhân như Khởi nghĩa Nam Xương và các cuộc bãi công quy mô lớn tại Hồng Kông, Quảng Châu. Tuy nhiên, phần lớn đều bị đàn áp khốc liệt, gây thiệt hại lớn về nhân lực và cơ sở cách mạng. Đặng không trực tiếp tham gia các hoạt động vũ trang này nên không bị quy trách nhiệm như các lãnh đạo như Cù Thu Bạch, Chu Ân Lai hay Mao Trạch Đông. Trong bối cảnh nhiều cán bộ cấp cao bị bắt hoặc hy sinh, Đặng dần được xem là một nhân tố tin cậy trong hàng ngũ Trung ương, được giao nhiều trọng trách và thường xuyên được tham khảo ý kiến trong công tác tổ chức.[21]

Chiến trường Quảng Tây (1929)

Vào mùa thu năm 1929, Đặng Tiểu Bình được Trung ương Đảng cử đến Quảng Tây để phối hợp với một số quân phiệt địa phương có khuynh hướng thân cộng, nhằm xây dựng một căn cứ cách mạng tại khu vực này. Việc giao phó nhiệm vụ quan trọng cho Đặng phản ánh mức độ tín nhiệm cao mà giới lãnh đạo Đảng dành cho ông. Họ tin tưởng rằng người thanh niên mới 25 tuổi này có đủ bản lĩnh và khả năng chính trị để xử lý mối quan hệ phức tạp giữa các thế lực quân phiệt, quần chúng địa phương và trung ương đảng bộ.[22]

Cùng với Cung Ẩm Băng, người sẽ giữ vai trò liên lạc viên, Đặng đến Nam Ninh vào tháng 9 năm 1929, khi đó sử dụng bí danh Đặng Tân (Deng Bin). Tại đây, họ thiết lập quan hệ với hai viên quân phiệt địa phương là Lý Minh Thụy và Du Tác Bách, những người đang có mâu thuẫn với Tưởng Giới Thạch cũng như đại quân phiệt Quảng Tây là Lý Tông Nhân. Đặng được bổ nhiệm làm thư ký trong văn phòng của Du Tác Bách, người đồng thời giữ chức Chủ tịch chính quyền tỉnh Quảng Tây, qua đó từng bước gia tăng ảnh hưởng trong bộ máy chính trị địa phương. Mặc dù sớm nhận định rằng kế hoạch tấn công Tưởng Giới Thạch của Lý và Du là thiếu thực tế và khó thành công, Đặng không thể thuyết phục họ từ bỏ. Vì vậy, ông chủ động đưa ra phương án dự phòng: nếu chiến dịch thất bại, các đơn vị thân cộng còn lại tại Nam Ninh do Trương Vân Dật chỉ huy sẽ lập tức phát động khởi nghĩa và rút khỏi thành phố. Một bộ phận lực lượng sẽ di chuyển về Bách Sắc – nơi vốn là trung tâm buôn bán thuốc phiện – trong khi lực lượng còn lại sẽ lui về Long Châu, địa điểm có vị trí chiến lược do kiểm soát tuyến hải quan quan trọng với Đông Dương thuộc Pháp.[23]

Đúng như dự đoán, kế hoạch của hai viên quân phiệt nhanh chóng thất bại. Tháng 10 năm 1929, lực lượng thân cộng buộc phải rút lui; Đặng đến Bách Sắc vào ngày 11 tháng 10. Tại đây, ông bắt tay vào việc củng cố cơ sở cách mạng với chiến lược cẩn trọng: chú trọng tuyên truyền tư tưởng cộng sản nhưng tránh gây phản cảm đối với dân chúng. Ông cũng tiến hành thanh lọc nội bộ, loại bỏ các phần tử không đáng tin cậy khỏi hàng ngũ quân đội – tuy nhiên, chỉ có một sĩ quan bị xử tử, cho thấy cách tiếp cận ôn hòa và thực dụng của ông trong giai đoạn đầu xây dựng lực lượng.[24]

Nỗ lực thiết lập một căn cứ cộng sản tại Quảng Tây của Đặng Tiểu Bình rốt cuộc không thành công, do nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Trong cộng đồng người Choang địa phương, cấu trúc thị tộc phức tạp, xung đột sắc tộc giữa người Choang, người HánKhách Gia, cùng với rào cản ngôn ngữ đã gây trở ngại lớn cho việc xây dựng cơ sở quần chúng. Bên cạnh đó, các chỉ thị giáo điều và thiếu thực tiễn từ Trung ương Đảng và Quốc tế Cộng sản cũng khiến tình hình thêm khó kiểm soát. Ngày 30 tháng 10 năm 1929, Trung ương từ Thượng Hải ra chỉ thị thành lập một ủy ban mặt trận địa phương tại Quảng Tây, do Đặng giữ chức bí thư. Đồng thời, các đơn vị quân sự được tổ chức lại thành Hồng quân số 7 và số 8, với mệnh lệnh tiến hành khởi nghĩa trong vòng 10 ngày. Tuy nhiên, Đặng chủ động hoãn cuộc nổi dậy, vì nguồn thu từ thuế đánh vào hoạt động buôn bán thuốc phiện đang giúp ông duy trì một lực lượng vũ trang ổn định và trung thành.

Cuộc khởi nghĩa cuối cùng cũng bùng nổ vào tháng 12 năm 1929 – đúng vào thời điểm Đặng đang ở Thượng Hải để báo cáo công tác. Thiếu sự chỉ đạo trực tiếp, cuộc nổi dậy nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát, biến thành một loạt vụ cướp bóc nhắm vào các đối tượng bị quy là “phú hào”. Khi trở lại Quảng Tây, Đặng được tin rằng tướng Lý Minh Thụy đã dẫn quân cộng sản tiến đánh Nam Ninh nhằm trả thù Tưởng Giới Thạch. Dù Đặng lập tức ra lệnh rút lui, lực lượng này bị tiêu diệt gần như toàn bộ, khiến căn cứ tại Bách Sắc gần như sụp đổ. Ông và Du Tác Dự quyết định hợp nhất tàn quân của Hồng quân số 7 và số 8. Đầu tháng 3 năm 1930, Đặng dẫn theo đại đội 1 của Hồng quân số 7 rời căn cứ, nhưng bị cuốn vào loạt giao tranh kéo dài với quân Quốc dân đảng. Ngày 10 tháng 3, ông rút khỏi đơn vị trong hoàn cảnh chưa rõ ràng. Không lâu sau đó, đơn vị bị tiêu diệt hoàn toàn. Về sau, đặc biệt trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, hành động này bị quy kết là “đào ngũ”.[25]

Không lâu sau, căn cứ tại Long Châu cũng thất thủ. Đặng rút lui về Đông Lan, nơi địa chủ cấp tiến Vi Bạt Quần đã xây dựng một căn cứ cộng sản nhỏ từ năm 1929 – từng nhận viện trợ vũ khí từ Đặng. Mãi đến tháng 5 năm 1930, phần tàn quân còn lại mới lần lượt hội quân tại đây. Từ Thượng Hải, Lý Lập Tam ra chỉ thị yêu cầu Hồng quân số 7 – lúc này chỉ còn khoảng 7.000 người – tiến chiếm các thành phố lớn như Liễu Châu, Quế LâmQuảng Châu. Tuy nhiên, mệnh lệnh này bị xem là hoàn toàn phi thực tế so với tương quan lực lượng. Trong suốt năm 1930, Đặng và Trương Vân Dật buộc phải liên tục cơ động trong khu vực rừng núi hiểm trở giữa ba tỉnh Quảng Tây, Hồ NamQuảng Đông, song không thể chiếm đóng hay giữ vững bất kỳ thị trấn lớn nào. Mất liên lạc vô tuyến với Trung ương, mãi đến tháng 2 năm 1931, họ mới hay tin rằng Lý Lập Tam đã bị bãi chức và đường lối cực tả do ông chủ trương đã bị hủy bỏ. Sau đó, Hồng quân số 7 rút lui về căn cứ Xô viết Giang Tây, nơi Đặng đến vào ngày 8 tháng 2 năm 1931. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, ông lại rời Giang Tây để đến Thượng Hải – lý do cụ thể của chuyến đi này vẫn còn chưa rõ ràng.[26]

Thất bại tại Quảng Tây được xem là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp cách mạng giai đoạn đầu của Đặng Tiểu Bình. Dù một phần trách nhiệm thuộc về những quyết định sai lầm của ông, giới lãnh đạo vẫn nhìn nhận đây là một “khóa huấn luyện quân sự thực tiễn” đối với một cán bộ trẻ đầy tiềm năng.[27][28] Khi trở lại Thượng Hải, Đặng nhận thấy bộ máy lãnh đạo Đảng đã thay đổi đáng kể. Dưới sự giám sát của đặc phái viên Liên Xô Pavel Mif, ban lãnh đạo Trung ương được tái cơ cấu, và Trần Thiệu Vũ – người từng học cùng Đặng tại Moskva nhưng có quan hệ không mấy tốt với ông – được đưa vào Thường vụ Bộ Chính trị.[29] Cũng tại Thượng Hải, Đặng nhận được tin vợ mình – Trương Tích Viện – đã hạ sinh một bé gái vào năm trước, nhưng cả mẹ lẫn con đều qua đời chỉ vài ngày sau sinh.

Ngày 29 tháng 4 năm 1931, Đặng Tiểu Bình viết bản tự phê bình, thừa nhận toàn bộ sai lầm mà một số đảng viên thù địch đã chỉ ra. Nhờ mối quan hệ mật thiết với Chu Ân Lai, ông không bị quy kết là phần tử phản cách mạng. Đến giữa tháng 7 năm 1931, ông được phân công trở lại căn cứ Xô viết Giang Tây để đảm nhận nhiệm vụ mới.[30]

Xô viết Giang Tây

Ngay sau khi đến căn cứ Xô viết Giang Tây vào giữa tháng 8 năm 1931, Đặng Tiểu Bình được bổ nhiệm làm Bí thư Đảng ủy huyện Thụy Kim. Trên cương vị này, ông nhanh chóng chấm dứt các cuộc truy bắt bừa bãi nhằm vào những người bị nghi ngờ là gián điệp của Quốc dân đảng – vốn đã trở nên phổ biến trong giai đoạn thanh trừng trước đó – đồng thời thúc đẩy các chương trình cải cách xã hội tại địa phương. Trong thời gian này, ông kết hôn lần thứ hai với Kim Duy Ánh, thường được gọi là A Kim, người ông từng quen từ thời còn hoạt động tại Thượng Hải. Trong thời gian công tác tại Thụy Kim, Đặng cũng làm quen với nhiều nhân vật mà sau này trở thành đồng chí thân thiết trong sự nghiệp cách mạng của ông, trong đó có Hồ Diệu BangMao Trạch Đàm – em trai của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1932, một cuộc điều tra nội bộ đã phê phán kết quả cải cách ruộng đất ở khu vực do Đặng phụ trách, cho rằng một số địa chủ cũ đã được chia phần đất canh tác vượt quá quy định. Nhờ sự can thiệp của người bạn thân Lý Phú Xuân, Đặng tránh được hậu quả chính trị nghiêm trọng. Tháng 5 năm 1932, ông được điều động làm Bí thư Đảng ủy ba huyện Hội Xương, Tầm ÔAn Viễn – những khu vực mới được Hồng quân giải phóng. Đến tháng 7, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Chính ủy Khu quân sự số 3. Dù gánh vác khối lượng công việc lớn, Đặng vẫn thể hiện năng lực tổ chức vượt trội. Dưới sự lãnh đạo của ông, chỉ riêng lực lượng dân quân tại khu vực này đã tuyển mộ được hơn 13.000 người.[31]

Từ năm 1931, trong nội bộ Đảng nổ ra tranh luận gay gắt về chiến lược quân sự nhằm đối phó với Quốc dân đảng. Ban lãnh đạo Trung ương tại Thượng Hải – đứng đầu là Bác Cổ và nhóm cố vấn Quốc tế Cộng sản – chủ trương tổng tấn công theo mô hình “chiến tranh quy ước”. Trong khi đó, Mao Trạch Đông, dựa trên thực tiễn chiến đấu tại địa phương, chủ trương chiến tranh du kích và đã nhiều lần giành thắng lợi trước các chiến dịch truy quét của Quốc dân đảng. Đặng Tiểu Bình, cùng với Luo Ming – Bí thư tỉnh Phúc Kiến – nằm trong số ít cán bộ công khai ủng hộ đường lối của Mao. Tuy nhiên, vào tháng 11 năm 1932, huyện Tầm Ô do Đặng phụ trách rơi vào tay Quốc dân đảng, dẫn đến làn sóng chỉ trích dữ dội. Tháng 5 năm 1933, ông bị cáo buộc là thành viên của một “nhóm bốn người” có tư tưởng chệch hướng khỏi nguyên lý cách mạng. Đặng bị cách chức khỏi mọi vị trí lãnh đạo và buộc phải công khai giao nộp khẩu súng ngắn cá nhân – biểu tượng của niềm tin và quyền lực – trước toàn thể quần chúng. Mặc dù bị nêu danh là một phần tử sai lầm, mục tiêu chính của chiến dịch công kích này trên thực tế là nhằm vào Mao Trạch Đông. Trong một buổi kiểm điểm nội bộ, A Kim tuyên bố chấm dứt quan hệ với Đặng và sau đó được cho là đã trở thành bạn đời hoặc người tình của Lý Duy Hán – một trong những người chỉ trích Đặng gay gắt nhất.[32]

Không lâu sau, nhờ sự tiến cử của Vương Gia Tường, Cục trưởng Cục Chính trị của Hồng quân đệ nhất lộ quân, Đặng được bổ nhiệm làm Chánh văn phòng Cục Chính trị. Một thời gian ngắn sau đó, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Tổng biên tập tờ Hồng sắc Trung Quốc, dù thực tế ban biên tập chỉ có hai đến ba người. Đặng đảm nhiệm cương vị này trong khoảng một năm mà không gặp phải trở ngại lớn nào.[33]

Chú thích Thành viên:Leeaan/nháp

  1. Yang & Yan (2009), tr. 1.
  2. 1 2 Vogel (2011), tr. 15.
  3. Yang & Yan (2009), tr. 2.
  4. Yang (1997), tr. 11–12.
  5. Yang (1997), tr. 17.
  6. 1 2 Vogel (2011), tr. 16.
  7. Pancov & Levine (2015), tr. 15.
  8. Yang & Yan (2009), tr. 2–3.
  9. Barman & Dulioust (1988), tr. 18.
  10. Pancov & Levine (2015), tr. 19.
  11. Vogel (2011), tr. 17.
  12. Vogel (2011), tr. 18.
  13. Pancov & Levine (2015), tr. 24.
  14. Vogel (2011), tr. 19.
  15. Pancov & Levine (2015), tr. 25.
  16. 1 2 Pancov & Levine (2015), tr. 38–40.
  17. Pancov & Levine (2015), tr. 44.
  18. Pancov & Levine (2015), tr. 46–48.
  19. Pancov & Levine (2015), tr. 48.
  20. Pancov & Levine (2015), tr. 51–53.
  21. Pancov & Levine (2015), tr. 56.
  22. Vogel (2011), tr. 26.
  23. Pancov & Levine (2015), tr. 63–64.
  24. Pancov & Levine (2015), tr. 66–67.
  25. Pancov & Levine (2015), tr. 75–76.
  26. Pancov & Levine (2015), tr. 79.
  27. Pancov & Levine (2015), tr. 81.
  28. Vogel (2011), tr. 27.
  29. Pancov & Levine (2015), tr. 80.
  30. Pancov & Levine (2015), tr. 85–86.
  31. Pantsov & Levine (2015), tr. 89–90.
  32. Pantsov & Levine (2015), tr. 91–92.
  33. Pantsov & Levine (2015), tr. 94.

Thư mục Thành viên:Leeaan/nháp

  • Pancov, Aleksandr Vadimovič; Levine, Steven I. (2015). Deng Xiaoping: a revolutionary life (bằng tiếng Anh). New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-062367-8.
  • Vogel, Ezra F. (2011). Deng Xiaoping and the Transformation of China (bằng tiếng Anh). Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 978-0-674-25741-2.
  • Yang, Benjamin (1997). Deng: A Political Biography (bằng tiếng Anh). New York: Routledge. ISBN 978-1-134-96476-5.
  • Yang, Shengqun; Yan, Jianqi (2009). Deng Xiaoping nian pu: yi jiu ling si--yi jiu qi si (bằng tiếng Trung) . Bắc Kinh: Nhà xuất bản Văn hiến Trung Ương. ISBN 978-7-5073-2767-0.
  1. Trong tiếng Trung, danh xưng “Tiên Thánh” (先圣) dùng để tôn xưng bậc thánh nhân đời trước "chế tác lễ pháp để truyền dạy cho hậu thế". Sau khi nhà Hán chủ trương "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật", danh xưng được dùng để chỉ Khổng Tử.
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng