Bước tới nội dung

Thuận tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Tuyên Tông Thuận Tần
清宣宗順嬪
Đạo Quang Đế Tần
1 vị phi tần được cho là Thuận tần khi còn là Thuận Thường tại
Thông tin chung
Sinh6 tháng 2 năm 1822
Mất28 tháng 8 năm 1876
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An tángMộ Đông lăng (慕東陵), Thanh Tây lăng
Phối ngẫuThanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Tước hiệu[Quan nữ tử; 官女子]
[Thuận Thường tại; 順常在]
[Thuận Quý nhân; 順贵人]
[Thuận Thường tại; 順常在]
[Hoàng khảo Thuận Quý nhân; 皇考順贵人]
[Hoàng tổ Thuận Tần; 皇祖順嬪]
Thân phụDiên Sùng

Thuận tần Huy Phát Na Lạp thị (chữ Hán: 顺嫔辉发那拉氏; 6 tháng 2 năm 1822 - 28 tháng 8 năm 1876), là một phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế trong lịch sử Trung Quốc.

Thân thế

Thuận tần sinh giờ Tý ngày 6 tháng 2 năm Gia Khánh thứ 14 (1822), xuất thân từ gia tộc Huy Phát Na Lạp thị, thuộc Chính Bạch kỳ Bao y, là "Chính Bạch kỳ Bao y Tá lĩnh hạ nhân" (正白旗包衣佐領下人) trực thuộc Nội vụ phủ. Ngoài ra bà còn có 1 người cô trong họ cũng là phi tần của Đạo Quang Đế chính là Hoà phi. Uyển phó Thụy Tấn (瑞晉), ông là em trai ruột của Thuận tần[1]. Căn cứ theo phổ hệ của Huy Phát Na Lạp thị, Diên Sùng (延崇) là em trai thứ 7 của Hòa phi, mà Thụy Tấn lại là con trai trưởng của Diên Sùng.

Nguyên thủy tổ của dòng họ này là Tô Ba Thái (蘇巴泰), nhập kỳ làm Bao y, phân vào Chính Bạch kỳ. Tuy Thuận tần mang họ Na Lạp thị và thế cư từ Huy Phát, nhưng gia tộc này của bà không hề liên quan huyết thống đến Huy Phát quốc chủ Na Lạp thị như Kế Hoàng hậu. Nói cách khác, mối quan hệ giữa gia tộc của Thuận tần và Huy Phát quốc chủ Na Lạp thị vương tộc, rất giống với dòng dõi Na Lạp thị của Từ Hi Hoàng thái hậu đối với hậu duệ của Bối lặc Diệp Hách bộ Kim Đài Cát, tuy cùng họ "Na Lạp thị", nhưng về huyết thống là chẳng liên quan gì với nhau cả.

Tương quan mà đánh giá, Chính Bạch kỳ Bao y Na Lạp thị ở đầu thời Thanh chỉ là dòng dõi quan lại trung cấp. Đến thời Ung ChínhCàn Long, tách ra một chi thủy tổ tên Tô Lăng Ngạch (蘇楞額), làm đến Đại thần Nội vụ phủ, Thượng thư bộ Công; một chi kia chính là dòng dõi của Thuận tần, có thủy tổ dựa vào xuất thân Chính Bạch kỳ lệ thuộc Nội vụ phủ, chậm rãi đảm nhận những chức quan hạng trung như Lang trung, Viên ngoại lang. Ngoài ra, chi gia tộc của Thuận tần còn có nhiều vị đảm nhiệm Nam dệt cục hoặc Hải quan giám đốc (海關監督), khiến một chi hệ tộc của Hòa phi đến thời giữa nhà Thanh là một dạng phú hào.

Tổ phụ của Thuận tần tên Tắc Lặc (塞勒), quan chức không cao, nhưng các con trai đều đảm nhiệm các chức quan trung cấp của Nội vụ phủ, nhưng đứa cháu trai Bối Tắc (輩則) bắt đầu tiến thân làm quan. Tổ phụ Thành Văn (成文) là một Khanh hàm (卿銜), sinh ra Hòa phi và các anh em khác đều đảm nhiệm chức vụ quan liêu Nội vụ phủ, Thân phụ của bà là Diên Sùng là em trai thứ 7 của Hoà phi.[2]

Đại Thanh tần phi

Nhìn từ đương án cung phân, năm Đạo Quang thứ 3 (1823) vẫn chưa có ghi chép về Thuận tần[3], đến tháng 11 năm Đạo Quang thứ 4 (1824), bà đã làm “Thuận Quý nhân” tại sách[4]. Lại căn cứ ngày mồng 9 tháng 9 năm Đạo Quang thứ 4, trong Tấu chiết tạ ơn mà phụ thân của Thuận Tần là Diên Sùng dâng lên có đề cập: “Ngày mồng 7 tháng này, chỉ ý phong Thuận Thường tại làm Thuận Quý nhân”[5]. Có thể biết Thuận tần hẳn là trước năm Đạo Quang thứ 4 thông qua tuyển Nội vụ phủ Tú nữ được tuyển làm Quan nữ tử (官女子) nhập cung, và nhận được ân sủng trước tháng 9 năm Đạo Quang thứ 4, từ đó được phong làm Thuận Thường tại (順常在).

Ghi chép đã biết liên quan đến Thuận tần hiện tại rất ít, chỉ biết sau khi bà được phong làm Thường tại vào năm Đạo Quang thứ 4, trong thời gian ngắn tương đối đắc sủng, được thăng vị làm Thuận Quý nhân (順贵人). Thế nhưng vào ngày mồng 3 tháng 3 năm Đạo Quang thứ 9 (1829), Tổng quản Trương Phúc Thiện truyền chỉ, “Thuận Quý nhân giáng làm Thường tại”[6]. Nguyên nhân bà bị giáng vị không rõ, hơn nữa sau khi giáng vị làm Thường tại, Thuận tần trong triều Đạo Quang không còn nhận được sự tấn thăng nào nữa, đánh mất sự sủng ái của Đạo Quang.

Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), Đạo Quang Đế qua đời, con trai thứ tư của ông là Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế nối ngôi, tấn tôn cho bà là Hoàng khảo Thuận Quý nhân (皇考順贵人). Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế nối ngôi, sang ngày 10 tháng 10 (âm lịch) thì ra chỉ tấn tôn bà làm Hoàng tổ Thuận tần (皇祖順嫔). Căn cứ theo tài liệu của Nội vụ phủ có tên Hồng xương thông dụng (鴻稱通用), phong hào Thuận có Mãn văn là 「ijishūn」[7], có nghĩa là "Thuận tòng", "Thuận nghi". Ngày 19 tháng 3 năm Đồng Trị thứ 7 (1868), Thuận tần Na Lạp thị hoăng thệ vào giờ Tỵ, thọ 60 tuổi. Ngày 25 tháng 2 năm Đồng Trị thứ 12 (1873), phụng an tại Mộ Đông lăng.

Trong văn hóa đại chúng

NămPhim ảnhDiễn viênNhân vật
1983Thiếu nữ Từ Hy
Ngô Thái Quý nhân
2005Nhất liêm u mộng
Tiền Quý nhân

Tham khảo

  1. 《为尊封顺贵人代奏谢恩事呈文》,咸丰十一年十月,档案号:05-0809-074,中国第一历史档案馆藏。
  2. 此段辉发纳喇氏谱系,整理自《八旗满洲氏族通谱》《纳喇氏宗谱》《辉发纳喇氏次房三房宗谱正册》《清代谱牒档案(缩微胶卷)》《八旗通志初集》《钦定八旗通志》《爱新觉罗宗谱》。
  3. 《呈恭进宫分清单》,道光三年十一月初五日,档案号:05-0627-006,中国第一历史档案馆藏。
  4. 《呈为三处织造办解缎纱等分派皇太后等数目清单》,道光四年十一月初四日,档案号:05-0631-079,中国第一历史档案馆藏。
  5. 《奏为封顺常在为顺贵人谢恩代为转奏事折》,中国第一历史档案馆、故宫博物院编:《清宫内务府奏销档》,第199册,第67、68页。
  6. 《为顺贵人降为常在裁减官女子三妞退出宫去传会计司官等赴圆明园接出并止退伊每日所食吃食事》,道光朝,档案号:05-13-002-000617-0175,中国第一历史档案馆藏。
  7. 《为知会田村暂安处顺嫔前行初周年礼致祭照例预备垫桌刷套事致内务府》,同治八年三月十五日,档案号:05-13-002-000233-0052,中国第一历史档案馆藏。