Bước tới nội dung

Thi nhân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thi nhân Việt Nam
Thông tin tác phẩm
Tác giảHoài ThanhHoài Chân
Thời gian sáng tác1942
Triều đại sáng tácNhà Nguyễn (1802–1945)
Quốc gia Việt Nam
Ngôn ngữTiếng Việt

Thi nhân Việt Nam là tên cuốn sách vừa là hợp tuyển vừa là nghiên cứu, phê bình về phong trào thơ mới Việt Nam, do hai anh em nhà văn Hoài ThanhHoài Chân biên soạn. Đây là một hợp tuyển thơ đầu tiên của thời kỳ thơ mới, ghi nhận lại những tên tuổi nhà thơ và những bài thơ giá trị trong khoảng 19321941. Cuốn sách bình luận theo phương pháp chủ quan, được nhiều nhà văn đánh giá rất cao về giọng bình và trình độ cảm nhận của tác giả.

Thi nhân Việt Nam viết năm 1941, hoàn thành năm 1942, in lần đầu năm 1942 tại nhà in tư nhân Nguyễn Đức Phiên, và cho đến nay (2018) cuốn sách đã được tái bản rất nhiều lần.

Hoàn cảnh ra đời

Cuốn sách ra đời ngay vào thời kỳ đỉnh cao của phong trào thơ mới (1942), khi các thi nhân ưu tú nhất của thời kỳ này, như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Vỹ, Đoàn Phú Tứ v.v. đã xuất bản những tác phẩm hay nhất của mình (như Gửi hương cho gió của Xuân Diệu, Lửa thiêng của Huy Cận, Thơ Hàn Mạc Tử, Thơ say của Vũ Hoàng Chương...), v.v...

Nội dung của tác phẩm

Thi nhân Việt Nam là một cuốn sách phê bình mang tính nghệ thuật ấn tượng, trong đó tác giả đã sử dụng óc chủ quan để cảm nhận và ghi lại những điều cảm nhận đó. Trong phần "Nhỏ to...", lời cuối sách, Hoài Thanh và Hoài Chân đã nói rõ:

Những nhà thơ được ghi nhận

Trong phần "Nhỏ to...", Hoài Thanh - Hoài Chân đã nói rằng tuy họ đã chọn lựa kỹ càng các tác phẩm, các tên tuổi tiêu biểu để đưa vào nhưng vẫn còn những sai sót. Những sai sót không phải nằm trong sách mà nằm ở ngoài: nhiều nhà thơ, bài thơ có giá trị nhưng vì lý do riêng nên không được đưa vào. Ngoài các nhà thơ của phong trào thơ mới, Thi nhân Việt Nam cũng đưa nhà thơ Tản Đà vào vị trí "ghế danh dự". Tổng cộng đã có 169 bài thơ đến từ 46 nhà thơ được giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam.[1]

TTThi sĩNăm sinh - mấtSố bài thơ được chọnThông tin khác
1Thế Lữ1907 – 19897
2Vũ Đình Liên1913 – 19962
3Lan Sơn1912 - 19743
4Thanh Tịnh1911 - 19882
5Thúc Tề1916 - 19461
6Huy Thông1916 - 19882
7Nguyễn Vỹ1912 - 19712
8Đoàn Phú Tứ1910 - 19891
9Xuân Diệu1916 - 198515Người có nhiều bài thơ được lựa chọn nhất.
10Huy Cận1919 - 200511
11Tế Hanh1921 - 20094
12Yến Lan1916 - 19982
13Phạm Hầu1920 - 19442
14Xuân Tâm1916 - 20122Thi nhân Việt Nam qua đời sau cùng[2]
15Thu Hồng1922 - 19483
16Bàng Bá Lân1912 - 19882
17Nam Trân1907 - 19677
18Đoàn Văn Cừ1913 - 20044
19Anh Thơ1918 - 20054
20Hàn Mạc Tử1912 - 19407
21Chế Lan Viên1920 - 19898
22Bích Khê1916 - 19462
23J.Leiba1912 - 19414
24Thái Can1910 - 19985
25Vân Đài1904 - 19641
26Đỗ Huy Nhiệm1915 - ?3
27Lê Khánh Đồng1905 - 19761
28Lưu Kỳ Linh1907 - 19743
29Nguyễn Giang1910 -3
30Quách Tấn1910 - 19929
31Phan Khắc Khoan1916 - 19981
32Thâm Tâm1917 - 19501
33Phan Thanh Phước1916 - 19471
34Lưu Trọng Lư1911 - 199111
35Nguyễn Nhược Pháp1914 - 19382Em cùng cha khác mẹ với nhà thơ Nguyễn Giang
36Phan Văn Dật1907 - 19873
37Đông Hồ1906 - 19694
38Mộng Tuyết1914 - 20072Vợ của nhà thơ Đông Hồ
39Nguyễn Xuân Huy1915 - 20002
40Hằng Phương1908 - 19831
41Nguyễn Bính1918 - 19666
42Vũ Hoàng Chương1915 - 19764
43Mộng Huyền1919 - 19971
44Nguyễn Đình Thư1917 - ?5
45T.T.Kh.? - ?Bút danh của một nhà thơ đến nay vẫn chưa thể xác định được danh tính
46Trần Huyền Trân1913 - 1989

Giá trị

Ngoài những nhận xét rất tế nhị và đắt giá về từng nhà thơ được đưa vào hợp tuyển và về những bài thơ của phong trào thơ mới, cuốn sách còn được coi như là một nguồn tư liệu khá đầy đủ về phong trào thơ mới với bài luận đầu sách: "Một thời đại trong thi ca". Một thời đại trong thi ca đề cập đến nhiều vấn đề bao gồm: Nguồn gốc thơ mới (không chỉ tìm nguồn gốc thơ mới từ sự tiếp xúc với phương Tây, mà trước hết phải tìm nó từ đời sống tinh thần xã hội Việt Nam đương thời); cuộc tranh luận thơ mới-thơ cũ; vài nét về con đường phát triển 10 năm của thơ mới; đặc điểm về hình thức và thể loại; triển vọng trước mắt của thơ mới; tinh thần cốt lõi của thơ mới; tấn bi kịch của cái "tôi" (đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ra đi tìm bề sâu, nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh); sự bế tắc sau 10 năm phát triển của thơ mới (với sự xuất hiện của các khuynh hướng thơ bí hiểm như thơ Bích Khê, Nguyễn Xuân Sanh v.v.), đồng thời gợi ý cho các nhà thơ về nỗ lực vượt thoát khỏi sự bế tắc (trở về cội nguồn dân tộc, tìm đến di sản tinh thần của cha ông, nhất là ca dao).

Ngoài giá trị nội dung, Thi nhân Việt Nam còn được đánh giá là có một giá trị nghệ thuật rất cao. Giọng văn xuôi của Hoài Thanh và Hoài Chân trong cuốn này gần như giọng tâm tình, âm điệu nhẹ nhàng và câu từ duyên dáng, đôi khi cũng rất dí dỏm. Điều dễ nhận thấy khi đọc tác phẩm là tác giả luôn điều hòa, không quá khắt khe với những bài thơ dở cũng như không quá ca ngợi những bài thơ hay.

Bên cạnh một số điểm nổi bật, tác giả Thi nhân Việt Nam cũng còn đôi chỗ đi hơi xa khi cho rằng "cứ đi sâu vào hồn một người ta sẽ gặp hồn chung của loài người", đồng thời cũng không thật thỏa đáng khi coi thơ mới là toàn bộ nền thơ Việt Nam khi đó (mà bỏ qua những tác giả khác đương thời như Tú Mỡ, Đỗ Phồn v.v.; hoặc dòng thơ cách mạng). Song nhìn tổng thể, Thi nhân Việt Nam là công trình biên khảo có giá trị tin cậy cao về phong trào Thơ mới, cả về ba mặt: nghiên cứu, phê bình và tuyển thơ. Cuốn sách ra đời sau khi hành trình thơ mới đã đi được 10 năm và vẫn còn tiếp tục chặng đường, nhưng vẫn có ý nghĩa của một công trình tổng kết[3] cả phong trào.

Nhận xét về cuốn sách

  • Trương Chính, trong bài giới thiệu cuốn Tuyển tập Hoài Thanh:

Tác giả

Hoài Thanh

Hoài Chân

Hoài Chân, em ruột Hoài Thanh, tên khai sinh là Nguyễn Đức Phiên; sinh ngày 11 tháng 4 năm 1914 ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Năm 1930, tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1931, đang học Trường Cao đẳng Tiểu học Collège Vinh thì bị bắt và bị kết án tù một năm. Mãn hạn tù năm 1932, vào Huế kiếm sống đồng thời tự học để thi tú tài.

Năm 1933, làm nhà in Đắc Lập rồi làm báo Tràng An, La Gazette de Huế. Cùng với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư xây dựng Ngân Sơn tùng thư (1933-1935). Năm 1942, tự xuất bản quyển Thi nhân Việt Nam. Đầu năm 1945, tham gia Việt Minh Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Huế. Sau tháng 8 năm 1945, từng giữ chức: Chủ nhiệm báo Quyết chiến (Trung Bộ); Trưởng ty Thông tin Nghệ An; Trưởng ty Văn hóa Nghệ An; Phụ trách Nhà xuất bản Văn hóa; Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn hóa (mới). Hiện nay đã nghỉ hưu.

Tham khảo

  • Thi nhân Việt Nam, do nhà xuất bản Văn học in lại năm 2005.
  • Mục từ Thi nhân Việt Nam, trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, 2006.

Chú thích

  1. https://nxbkimdong.com.vn/products/thi-nhan-viet-nam
  2. https://vnexpress.net/nguoi-tho-cuoi-cung-cua-thi-nhan-vn-qua-doi-1970855.html
  3. Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, 2005, trang 1666, mục Phong trào thơ mới.