Bước tới nội dung

Thay đổi văn hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một bức khắc họa thế kỷ XIX cho thấy người bản địa Úc phản đối sự xuất hiện của thuyền trưởng James Cook vào năm 1770

Thay đổi văn hóa (Culture change) hay còn được gọi là tái định vị văn hóa[1] là sự tái thiết khái niệm văn hóa của một xã hội[1] và sự biến đổi của văn hóa theo thời gian, đó cũng chính là "sự biến dạng các thành tố văn hóa truyền thống và sự định hình các yếu tố văn hóa mới làm cho diện mạo văn hóa của một cộng đồng, một xã hội thay đổi". Biến đổi văn hóa là thuật ngữ trong hoạch định chính sách công nhấn mạnh sự ảnh hưởng của vốn văn hóa đối với hành vi cá nhân và cộng đồng. Văn hóa tại bất kỳ thời điểm nào, thường có vẻ cố định đối với người quan sát vì các biến đổi văn hóa xảy ra một cách từ từ (tiệm tiến từng bước nhỏ).[2] Các nhà hoạch định chính sách cần nhiều nỗ lực để cải thiện một số khía cạnh cơ bản trong các đặc điểm văn hóa của một xã hội, ví dụ như quá trình trường kỳ bài trừ các hủ tục lạc hậu, bảo thủ, các thói hư tật xấu đã ăn sâu vào đời sống. Trên bình diện chung, thay đổi văn hóa hay còn được gọi là biến đổi văn hóa chỉ sự điều chỉnh, cải biến hoặc chuyển hóa của các yếu tố cấu thành một nền văn hóa qua thời gian. Đây là một quá trình phổ quát và diễn ra liên tục ở mọi xã hội, mặc dù tốc độ và quy mô của sự thay đổi có thể khác nhau.

Thay đổi văn hóa đặt trọng tâm vào các yếu tố quyết định thuộc về vốn xã hội và vốn văn hóa của việc ra quyết định và cách thức chúng tương tác với các yếu tố khác như sự sẵn có của thông tin hoặc các ưu đãi tài chính mà các cá nhân phải đối mặt để thúc đẩy hành vi. Những ảnh hưởng từ vốn văn hóa này bao gồm vai trò của việc làm cha mẹ, gia đình và các mối quan hệ thân cận, các tổ chức như trường học và nơi làm việc, các cộng đồngkhu dân cư, và các ảnh hưởng xã hội rộng lớn hơn như truyền thông. Có thể cho rằng vốn văn hóa này biểu hiện thành các giá trị, thái độ hoặc chuẩn mực xã hội cụ thể, từ đó định hướng ý định hành vi mà các cá nhân chấp nhận liên quan đến các quyết định hoặc đường lối hành động cụ thể. Những ý định hành vi này tương tác với các yếu tố khác thúc đẩy hành vi như ưu đãi, khuyến khích bằng tài chính, đặt ra quy định và luật pháp, hoặc mức độ thông tin, tuyên truyền để thúc đẩy hành vi thực tế và cuối cùng phản hồi trở lại vào vốn văn hóa cơ bản. Nhìn chung, các khuôn mẫu văn hóa thể hiện sự kháng cự lớn (sức ì và trở lực dai dẳng) đối với sự thay đổi và đối với việc tự tái định nghĩa chính chúng.

Văn hóa

Những phụ nữ Hồi giáo trong trang phục kín đáo và một cô gái trẻ mặc bikini, Na Uy
Một thanh niên Campuchia với trang phục thời nay kiểu Tây phục dần thay thế cho các trang phục truyền thống

Thay đổi văn hóa là một quá trình lâu dài, nó có thể diễn ra từ từ, tiệm tiến (như sự biến đổi chậm của ngôn ngữ qua nhiều thế kỷ) hoặc diễn ra nhanh chóng, đột ngột, thường do các cuộc cách mạng, chiến tranh, hoặc sự du nhập của công nghệ mới mang tính đột phá (như Internet). Nguyên nhân dẫn đến thay đổi văn hóa có thể được phân thành hai nhóm chính gồm sự thay đổi bắt nguồn từ bên trong xã hội. Các yếu tố này bao gồm các phát minh tạo ra những yếu tố văn hóa mới (phát minh ra chữ viết, máy tính), các khám phá, nhận thức mới về một khía cạnh của thực tại (khám phá ra lửa, vi khuẩn), hoặc các xung đột xã hội và thay đổi về nhân khẩu học. Sự thay đổi bắt nguồn từ sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, thường là động lực thay đổi mạnh mẽ nhất, diễn ra thông qua các quá trình như khuếch tán văn hóa, sự lan truyền các đặc điểm văn hóa (như ý tưởng, phong cách, tôn giáo, công nghệ) từ nhóm này sang nhóm khác.

Tiếp biến văn hóa là quá trình thay đổi văn hóa diễn ra khi hai hay nhiều nền văn hóa tiếp xúc trực tiếp và lâu dài, dẫn đến việc vay mượn và điều chỉnh lẫn nhau và tạo ra sự cải biên văn hóa. Đồng hóa văn hóa là một quá trình trong đó một nhóm văn hóa thiểu số dần dần tiếp nhận các đặc điểm của nền văn hóa thống trị. Đó là một thuật ngữ dùng để chỉ sự chuyển đổi của văn hóa hoặc các thể chế xã hội theo thời gian. Đây là một quá trình phổ quát và diễn ra liên tục trong mọi xã hội, mặc dù tốc độ và quy mô của sự thay đổi có thể khác nhau. Thay đổi văn hóa bao gồm sự biến đổi trong các yếu tố vật thể (như công nghệ, kiến trúc, trang phục) và phi vật thể (như niềm tin, giá trị, chuẩn mực xã hội, ngôn ngữ, thực hành tôn giáo). The Beatles là một ví dụ về động lực văn hóa đang thay đổi, bao gồm âm nhạc, thời trang và lối sống. Hơn nửa thế kỷ sau khi xuất hiện, họ vẫn tiếp tục có tác động văn hóa trên toàn thế giới.

Raimon Panikkar đã xác định 29 cách mà thay đổi văn hóa có thể được mang lại, bao gồm tăng trưởng, phát triển, tiến hóa, sự thoái triển, đổi mới, tái nhận thức, cải cách, cách tân, chủ nghĩa phục hưng, cách mạng, đột biến, tiến bộ, sự khuếch tán, thẩm thấu văn hóa, vay mượn văn hóa, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa đồng bộ, hiện đại hóa, cú hích[3] bản địa hóa, và chuyển đổi.[4] Trong bối cảnh này, hiện đại hóa có thể được xem là việc tiếp nhận các niềm tin và thực hành của thời kỳ Khai sáng, như khoa học, chủ nghĩa duy lý, công nghiệp, thương mại, dân chủ và khái niệm về sự tiến bộ. Rein Raud, dựa trên công trình của Umberto Eco, Pierre Bourdieu và Jeffrey C. Alexander, đã đề xuất một mô hình thay đổi văn hóa dựa trên các tuyên bố và trả giá, vốn được đánh giá bởi tính đầy đủ về mặt nhận thức của chúng và được tán thành hoặc không tán thành bởi quyền lực biểu tượng của cộng đồng văn hóa.[5]

Sự phát minh

Hai phụ nữ mặc trang phục truyền thống Kujawy nhưng đi xe vespa tân thời

Phát minh văn hóa được hiểu là bất kỳ sự đổi mới nào mới mẻ và được một nhóm người công nhận là hữu ích, được thể hiện trong hành vi của họ nhưng không tồn tại dưới dạng một vật thể hữu hình. Phát minh có thể là một công nghệ (như việc phát minh ra máy hơi nước, máy tính, internet), một tư tưởng triết học, hoặc một hình thức nghệ thuật. Các phát minh mới tạo ra những phương thức sinh hoạt, lao động và tư duy mới, buộc các khía cạnh khác của văn hóa phải điều chỉnh và thay đổi theo. Nhân loại đang trong một "giai đoạn thay đổi văn hóa tăng tốc" toàn cầu, được thúc đẩy bởi sự mở rộng thương mại quốc tế, các phương tiện truyền thông đại chúng, và trên hết là sự bùng nổ dân số thế giới, cùng các yếu tố khác. Tái định vị văn hóa có nghĩa là sự tái thiết khái niệm văn hóa của một xã hội.[1] Các nền văn hóa bị ảnh hưởng nội tại bởi cả các lực lượng khuyến khích sự thay đổi và các lực lượng chống lại sự thay đổi. Những lực lượng này liên quan đến cả cấu trúc xã hội và các sự kiện tự nhiên, và tham gia vào việc duy trì các ý tưởng và thực hành văn hóa trong các cấu trúc hiện tại, mà bản thân chúng cũng có thể thay đổi.[6] Khám phá là việc nhận ra hoặc thấu hiểu một điều gì đó đã tồn tại từ trước nhưng chưa được biết đến. Các khám phá khoa học (như việc phát hiện ra vi khuẩn, cấu trúc DNA, hay việc tìm ra các lục địa mới) đều làm thay đổi sâu sắc nhận thức của con người về thế giới và về chính bản thân họ, dẫn đến những thay đổi lớn trong y học, đạo đức và chuẩn mực xã hội.

Xung đột xã hội

Biểu tình chống thuốc lá ở Jakarta

Xung đột xã hội và sự phát triển của công nghệ có thể tạo ra những thay đổi trong một xã hội bằng cách thay đổi động lực xã hội và thúc đẩy các mô hình văn hóa mới, và thúc đẩy hoặc tạo điều kiện cho hành động sáng tạo. Những dịch chuyển xã hội này có thể đi kèm với những thay đổi về hệ tư tưởng và các loại hình thay đổi văn hóa khác. Ví dụ, phong trào nữ quyền của Hoa Kỳ bao gồm các thực hành mới tạo ra sự thay đổi trong quan hệ giới, làm thay đổi cả cấu trúc giới và cấu trúc kinh tế. Các điều kiện môi trường cũng có thể tham gia như những yếu tố. Ví dụ, sau khi các khu rừng nhiệt đới trở lại vào cuối kỷ băng hà cuối cùng, các loài thực vật thích hợp cho việc thuần hóa đã có sẵn, dẫn đến sự phát minh ra nông nghiệp, điều này đến lượt nó mang lại nhiều đổi mới văn hóa và thay đổi trong động lực xã hội.[7]

Khuếch tán

Biểu tượng toàn cầu của chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh McDonaldschâu Á (các món ăn nhanh burgerkhoai tây chiên dần thay thế cho các bữa cơm gia đình truyền thống) cho thấy quá trình McDonalds hóa (McDonaldization) trong bối cảnh toàn cầu hóa, một ảnh hưởng của quyền lực mềm và sự đồng hóa của văn hóa phương Tây hiện đại

Các nền văn hóa bị ảnh hưởng từ bên ngoài thông qua sự tiếp xúc giữa các xã hội, điều này cũng có thể tạo ra, hoặc ức chế—các dịch chuyển xã hội và thay đổi trong các thực hành văn hóa. Chiến tranh hoặc cạnh tranh về tài nguyên có thể tác động đến sự phát triển công nghệ hoặc động lực xã hội. Ngoài ra, các ý tưởng văn hóa có thể chuyển giao từ xã hội này sang xã hội khác, thông qua khuếch tán hoặc tiếp biến văn hóa. Trong dạng thức khuếch tán, hình thức của một cái gì đó (mặc dù không nhất thiết là ý nghĩa của nó) di chuyển từ văn hóa này sang văn hóa khác. Ví dụ, các chuỗi nhà hàng và thương hiệu ẩm thực phương Tây đã khơi dậy sự tò mò và say mê đối với người Trung Quốc khi Trung Quốc mở cửa nền kinh tế cho thương mại quốc tế vào cuối thế kỷ XX.[8]

"Khuếch tán kích thích" (việc chia sẻ ý tưởng) đề cập đến một yếu tố của nền văn hóa này dẫn đến một phát minh hoặc sự lan truyền ở một nền văn hóa khác. Mặt khác, sự "vay mượn trực tiếp" có xu hướng đề cập đến sự khuếch tán công nghệ hoặc hữu hình từ văn hóa này sang văn hóa khác. Lý thuyết Khuếch tán đổi mới trình bày một mô hình dựa trên nghiên cứu về lý do tại sao và khi nào các cá nhân và nền văn hóa chấp nhận các ý tưởng, thực tiễn và sản phẩm mới. Đây là cơ chế phổ biến và quan trọng nhất của thay đổi văn hóa, mô tả sự lan truyền của các đặc điểm, yếu tố văn hóa (như tư tưởng, thực hành, công nghệ) từ xã hội này sang xã hội khác. Quá trình này diễn ra thông qua sự tiếp xúc, giao thương, di cư, chiến tranh, hoặc qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Ví dụ, sự lan truyền của Phật giáo từ Ấn Độ sang Đông Á, sự phổ biến toàn cầu của các món ăn (như pizza của Ý, sushi của Nhật) hay các nền tảng mạng xã hội (của Hoa Kỳ) đều là các ví dụ về khuếch tán văn hóa.

Lịch sử Việt Nam là một dòng các quá trình thay đổi văn hóa, từ ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, văn hóa Pháp, văn hóa Mỹ, đến sự hình thành nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Một dấu mốc quan trọng trong lịch sử hiện đại, khởi đầu cho một cuộc biến đổi văn hóa toàn diện và sâu sắc là chính sách Đổi Mới được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986 mở ra thời kỳ kinh tế thị trường và còn mở cửa cho một quá trình tràn lan văn hóa ồ ạt từ bên ngoài (Tây phương hóa, làn sóng châu Á), dẫn đến sự thay đổi văn hóa chóng mặt trong nhiều thập kỷ. Văn bản chính sách cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam phân tích trực tiếp và hệ thống về những "biến đổi" văn hóa đang diễn ra trong xã hội là Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) được ban hành vào ngày 14 tháng 01 năm 1993, với tiêu đề "Một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ trong những năm trước mắt". Văn kiện này đã nhìn thẳng vào thực trạng thay đổi văn hóa, xã hội sau những năm đầu Đổi Mới, chỉ ra cả những thành tựu tích cực lẫn những biểu hiện tiêu cực (xói mòn, mai một giá trị truyền thống, sự xâm nhập của văn hóa phẩm ngoại lai, độc hại, băng hoại, đồi trụy, phản động, phản cách mạng, văn hóa nô dịch, vong bản).

Tiếp biến văn hóa

Thanh niên đi xe máy ở Kampong Cham với trang phục đường phố, xăm trổ, điều này là sự thay đổi lớn so với trang phục truyền thống

Tiếp biến văn hóa có nhiều nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, trong bối cảnh này, nó đề cập đến sự thay thế các đặc điểm của một nền văn hóa này bằng một nền văn hóa khác, chẳng hạn như những gì đã xảy ra với một số bộ lạc bản địa châu Mỹ và nhiều dân tộc bản địa trên toàn cầu trong quá trình thực dân hóa và tạo ra các hậu quả về sự xóa bỏ văn hóa (vùi lấp văn hóa bản địa) và chiếm dụng văn hóa. Các quá trình liên quan ở cấp độ cá nhân bao gồm đồng hóa văn hóa (sự tiếp nhận một nền văn hóa khác của một cá nhân) và sự xuyên văn hóa. Dòng chảy văn hóa xuyên quốc gia đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hợp nhất các nền văn hóa khác nhau và chia sẻ các suy nghĩ, ý tưởng và niềm tin. Sự thay đổi này bao gồm mọi khía cạnh của văn hóa, từ các yếu tố vật thể (như công nghệ, kiến trúc, nghệ thuật) đến các yếu tố phi vật thể (như chuẩn mực xã hội, giá trị, tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, thực hành xã hội và các thiết chế xã hội).

Văn hóa thay đổi

Hai thanh niên châu Phi chưng diện bộ đồ sắc sỡ trong văn hóa La Sape

Thuật ngữ này được sử dụng bởi Knott và cộng sự thuộc Đơn vị Chiến lược của Thủ tướng trong ấn phẩm năm 2008 của họ Đạt được Thay đổi Văn hóa: Một Khuôn khổ Chính sách.[9] Bài viết trình bày cách thức chính sách công có thể đạt được thay đổi xã hội và văn hóa thông qua các can thiệp 'hạ nguồn' bao gồm ưu đãi tài chính, luật pháp, quy định và cung cấp thông tin, cũng như các can thiệp 'thượng nguồn' như các chương trình làm cha mẹ, đồng đẳng và cố vấn, hoặc phát triển các mạng lưới xã hội và cộng đồng. Các khái niệm chính mà bài viết dựa trên bao gồm:

  • Vốn văn hóa - chẳng hạn như thái độ, giá trị, khát vọng và ý thức về tính tự tin vào năng lực bản thân vốn ảnh hưởng đến hành vi. Bản thân vốn văn hóa cũng bị ảnh hưởng bởi hành vi theo thời gian
  • Sự dịch chuyển tinh thần thời đại xã hội (Social zeitgeist) - theo đó các chuẩn mực và giá trị xã hội chiếm ưu thế trong vốn văn hóa của xã hội phát triển theo thời gian
  • Quá trình mà qua đó luận điệu chính trị, các ý tưởng và đổi mới làm thay đổi tinh thần thời đại xã hội theo thời gian trong giới hạn 'dây thun co giãn' của dư luận
  • Quá trình bình thường hóa hành vi, theo đó hành vi và hành động chuyển hóa thành các chuẩn mực xã hội và văn hóa xã hội (ví dụ, Knott và cộng sự cho rằng kinh nghiệm thực thi việc thắt dây an toàn ở Vương quốc Anh đã thiết lập và củng cố điều này như một chuẩn mực xã hội), hoặc ví dụ như văn hóa đội nón bảo hiểm khi đi xe máy mới hình thành gần đây ở Việt Nam. Trong quá trình này, vai trò của truyền thông, xã hội học là quan trọng theo phương châm "truyền thông và thay đổi hành vi".
  • Việc sử dụng thấu hiểu khách hàng.
  • Tầm quan trọng của việc điều chỉnh các chương trình chính sách xoay quanh mô hình sinh thái về hành vi của con người để giải thích cách chính sách sẽ tương tác với vốn văn hóa và ảnh hưởng đến nó theo thời gian.

Knott và cộng sự sử dụng các ví dụ từ nhiều lĩnh vực chính sách để chứng minh cách khuôn khổ thay đổi văn hóa có thể được áp dụng vào việc hoạch định chính sách, chẵng hạn để khuyến khích khát vọng giáo dục, họ đề xuất sử dụng nhiều hơn các can thiệp sớm cho trẻ em và can thiệp vào việc làm cha mẹ, một đề xuất cải thiện cho thời thơ ấu, và phát triển các luận điệu tích cực về giáo dục cũng như các hệ thống tư vấn tích hợp, hỗ trợ tài chính và các phương pháp tiếp thị xã hội có mục tiêu. Để thúc đẩy lối sống lành mạnh và trách nhiệm cá nhân, họ khuyến nghị xây dựng lối sống lành mạnh vào cơ sở hạ tầng cộng đồng, xây dựng quan hệ đối tác với trường học và người sử dụng lao động, hỗ trợ trực tiếp nhiều hơn cho sức khỏe tinh thần bên cạnh việc sử dụng quy định và luật pháp về các sản phẩm không lành mạnh, cung cấp thông tin y tế đáng tin cậy và tiếp thị sức khỏe để thúc đẩy các hình thức hành vi thích ứng. Để phát triển các chuẩn mực bền vững về môi trường, họ khuyến nghị củng cố tính bền vững trong suốt các luận điệu chính sách, sử dụng trường học và khu vực tình nguyện để thúc đẩy các thông điệp về môi trường, phát triển cơ sở hạ tầng giúp cho các lựa chọn bền vững trở nên dễ dàng, cùng với một gói biện pháp rộng lớn hơn về ưu đãi tài chính, quy định, dịch vụ tư vấn và các phong trào liên minh.

Chú thích

  1. 1 2 3 Chigbu, Uchendu Eugene (ngày 3 tháng 7 năm 2015). "Repositioning culture for development: Women and development in a Nigerian rural community". Community, Work & Family. 18 (3): 334–350. doi:10.1080/13668803.2014.981506. ISSN 1366-8803. S2CID 144448501.
  2. Petrakis, Panagiotis; Kostis, Pantelis (2013). "Economic growth and cultural change". The Journal of Socio-Economics. 47: 147–157. doi:10.1016/j.socec.2013.02.011.
  3. Nudge: Improving Decisions,About Health, Wealth, and Happiness, Richard H. Thaler and Bass. R. Sunstein, Penguin Books 2009
  4. Panikkar, Raimon (1991). Pathil, Kuncheria (biên tập). Religious Pluralism: An Indian Christian Perspective. ISPCK. tr. 252–99. ISBN 978-81-7214-005-2. OCLC 25410539.
  5. Rein, Raud (ngày 29 tháng 8 năm 2016). Meaning in Action: Outline of an Integral Theory of Culture. Cambridge: Polity. ISBN 978-1-5095-1124-2. OCLC 944339574.
  6. O'Neil, Dennis (2006). "Culture Change: Processes of Change". Culture Change. Palomar College. Lưu trữ bản gốc tháng 10 27, 2016. Truy cập tháng 10 29, 2016.
  7. Pringle, Heather (ngày 20 tháng 11 năm 1998). "The Slow Birth of Agriculture". Science. 282 (5393): 1446. doi:10.1126/science.282.5393.1446. ISSN 0036-8075. S2CID 128522781.
  8. Wei, Clarissa (ngày 20 tháng 3 năm 2018). "Why China Loves American Chain Restaurants So Much". Eater. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
  9. Knott, David; Muers, Stephen; Aldridge, Stephen (ngày 16 tháng 1 năm 2008), Achieving Culture Change: A Policy Framework (PDF), London: Cabinet Office, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2010

Tham khảo

Liên kết ngoài

  • Baconbutty on Culture Change
  • Cut crime with drink tax, Gordon Brown told, Daily Telegraph
  • The naughty nation, New Statesman
  • Winning Hearts and Minds
  • Transformer une culture : un cadre d'action pour les politiques publiques (in French)
  • Leading Teams on Culture Change