Master System
| |
| Còn được gọi là | HQ: Samsung Gam*Boy |
|---|---|
| Nhà phát triển | Sega |
| Nhà sản xuất | Sega |
| Loại | Máy chơi trò chơi điện tử tại gia |
| Thế hệ | Thế hệ thứ ba |
| Ngày phát hành | |
| Vòng đời | |
| Giá khởi điểm | 16,800 yên Nhật (19.900 yên Nhật vào năm 2019) 200 đô la Mỹ (570 đô la Mỹ vào năm 2022) Bản mẫu:Bảng Anh |
| Ngừng sản xuất | |
| Số lượng bán ra | 10–13 triệu[10][11][a] |
| Truyền thông | Băng ROM, Sega Card |
| CPU | Zilog Z80A @ 3,58 MHz |
| Bộ nhớ | 8 KB RAM 16 KB VRAM |
| Màn hình | Độ phân giải 256 × 192, 32 màu trên màn hình |
| Âm thanh | PSG Texas Instruments SN76489 thông qua VDP Yamaha YM2413[b] |
| Tương thích ngược | SG-1000[b] |
| Tiền nhiệm | SG-1000[b] |
| Kế nhiệm | Sega Genesis |
| Liên quan | Game Gear |
Master System[c] là một máy chơi trò chơi điện tử tại gia 8-bit do Sega sản xuất và phát triển. Ban đầu đây là phiên bản xuất khẩu được thiết kế lại của Sega Mark III, phiên bản thứ ba thuộc dòng máy chơi game SG-1000 ra mắt tại Nhật Bản vào ngày 20 tháng 10 năm 1985. Master System ra mắt tại Bắc Mỹ vào tháng 9 năm 1986, tiếp theo là châu Âu vào tháng 8 năm 1987, Hàn Quốc vào tháng 4 năm 1989 và Brasil vào tháng 9 năm 1989. Một phiên bản Nhật Bản được phát hành vào ngày 23 tháng 10 năm 1987 với các bổ sung bao gồm chip âm thanh FM tích hợp, công tắc bắn nhanh và cổng kết nối dành riêng cho kính 3D. Master System II, một mẫu máy rẻ hơn, đã được phát hành vào năm 1990 tại Bắc Mỹ, Australasia và châu Âu.
Các mẫu Master System ban đầu sử dụng cả băng ROM lẫn định dạng có kích thước bằng thẻ tín dụng là Sega Card. Các phụ kiện đi kèm bao gồm một khẩu súng quang học và kính 3D hoạt động tương thích với những trò chơi được thiết kế đặc biệt. Bản thiết kế lại Master System II sau này đã loại bỏ khe cắm thẻ, biến nó thành một hệ máy chỉ dùng băng và không tương thích với kính 3D.
Là một máy chơi game thuộc thế hệ thứ ba, Master System được phát hành nhằm cạnh tranh với Nintendo Entertainment System (NES). Thư viện trò chơi của máy nhỏ hơn và có ít tựa game được đánh giá cao hơn so với NES, một phần là do các chính sách cấp phép của Nintendo yêu cầu tính độc quyền nền tảng. Mặc dù Master System sở hữu phần cứng mới hơn và được cải tiến, hệ máy này vẫn thất bại trong việc lật đổ lợi thế thị phần của Nintendo tại Nhật Bản, Bắc Mỹ và hầu hết Tây Âu. Tuy nhiên, máy lại gặt hái thành công vang dội hơn ở một số thị trường như Vương quốc Anh, Bỉ, Tây Ban Nha, Brasil, Hàn Quốc, New Zealand và Úc.
Master System ước tính đã bán được từ 10 đến 13 triệu máy trên toàn thế giới. Ngoài ra, Tectoy đã bán được 8 triệu phiên bản Master System được cấp phép tại Brasil. Các đánh giá nhìn lại sau này đã công nhận vai trò của máy đối với quá trình phát triển Sega Genesis cũng như một số trò chơi được đón nhận nồng nhiệt, đặc biệt là ở các khu vực PAL (bao gồm cả PAL-M), nhưng đồng thời cũng chỉ trích thư viện trò chơi hạn chế ở các khu vực NTSC vốn bị NES thống trị.
Lịch sử Master System

Mark III
Sega phát hành máy chơi trò chơi điện tử đầu tiên của hãng là SG-1000 tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 7 năm 1983,[18] cùng ngày đối thủ Nintendo tung ra Family Computer (Famicom).[19] Vào năm 1984, công ty mẹ Gulf and Western Industries đã thoái vốn khỏi các mảng kinh doanh không cốt lõi bao gồm cả Sega,[20] và chủ tịch Sega Hayao Nakayama được bổ nhiệm làm CEO. Nakayama cùng người đồng sáng lập Sega là David Rosen sau đó đã sắp xếp một cuộc mua thâu tóm bởi ban quản lý với sự hậu thuẫn tài chính từ CSK Corporation và đưa CEO Isao Okawa của CSK lên làm chủ tịch hội đồng quản trị.[21][22]
Vào ngày 31 tháng 7 năm 1984, Sega phát hành SG-1000 II,[23] một phiên bản sửa đổi của SG-1000 với một vài thay đổi về phần cứng bao gồm tay cầm có thể tháo rời.[19] Với hy vọng cạnh tranh tốt hơn với Nintendo,[24] Sega đã tung ra Mark III, một bản sửa đổi khác của SG-1000,[25] tại Nhật Bản vào ngày 20 tháng 10 năm 1985 với giá 15.000 ¥.[1][2] Mark III được chế tạo bởi cùng đội ngũ từng làm việc với SG-1000,[26] trong đó có Hideki Sato và Masami Ishikawa, những người đã từng phát triển SG-1000 II và sau này dẫn dắt dự án thiết kế Mega Drive.[27] Theo lời Sato, chiếc máy được thiết kế lại do những hạn chế của chip đồ họa Texas Instruments TMS9918A trong SG-1000 vốn không đủ sức mạnh cho các loại trò chơi mà Sega muốn tạo ra. Chip của Mark III được thiết kế nội bộ dựa trên nền tảng bo mạch máy thùng System 2 của Sega.[24]
Mặc dù sở hữu phần cứng mạnh mẽ hơn Famicom, Mark III lại không thành công khi ra mắt. Khó khăn nảy sinh từ các chính sách cấp phép của Nintendo với các nhà phát triển bên thứ ba, theo đó Nintendo yêu cầu các trò chơi dành cho Famicom không được xuất bản trên những hệ máy khác. Sega đã tự phát triển trò chơi của riêng mình và mua bản quyền để chuyển hệ các tựa game từ nhiều nhà phát triển khác nhưng chúng vẫn bán không chạy.[23]
Phát hành tại Bắc Mỹ với tên Master System

Mặc dù SG-1000 chưa từng được phát hành tại Hoa Kỳ,[28] Sega vẫn hy vọng rằng mảng kinh doanh máy chơi game của họ sẽ hoạt động tốt hơn ở Bắc Mỹ so với tại Nhật Bản.[29] Để đạt được điều này, Sega of America đã được thành lập vào năm 1986 để quản lý các sản phẩm tiêu dùng của công ty tại Bắc Mỹ. Rosen và Nakayama đã thuê Bruce Lowry, phó chủ tịch phụ trách bán hàng của Nintendo of America. Lowry bị thuyết phục chuyển công ty vì Sega cho phép ông mở văn phòng mới ở San Francisco. Ông chọn tên "Sega of America" cho bộ phận của mình vì ông từng làm việc cho Nintendo of America và thích sự kết hợp từ ngữ này. Ban đầu, Sega of America được giao nhiệm vụ đóng gói lại Mark III để phát hành ở phương Tây.[30] Sega of America đã đổi tên Mark III thành Master System, tương tự như cách Nintendo làm lại Famicom thành Nintendo Entertainment System (NES). Cái tên này được chọn bằng cách cho các nhân viên Sega of America ném phi tiêu vào một tấm bảng trắng ghi các tên đề xuất. Kế hoạch phát hành một chiếc máy chơi game rẻ hơn mang tên Base System cũng ảnh hưởng đến quyết định này.[31] Okawa đã chấp thuận cái tên này sau khi được cho biết đây là sự ám chỉ đến bản chất cạnh tranh của cả ngành công nghiệp trò chơi điện tử lẫn võ thuật, nơi chỉ có một đối thủ duy nhất có thể trở thành "Master" (Bậc thầy).[30][31] Thiết kế cuối cùng mang tính tương lai của chiếc máy nhằm mục đích thu hút thị hiếu của người phương Tây.[26] Bao bì tại Bắc Mỹ có màu trắng để phân biệt với bao bì đen của NES cùng với thiết kế lưới trắng lấy cảm hứng từ các sản phẩm máy tính của Apple.[32]
Master System được ra mắt lần đầu tại Bắc Mỹ ở Triển lãm Điện tử Tiêu dùng (CES) Mùa hè ở Chicago vào tháng 6 năm 1986. Máy sau đó được chính thức bán ra vào tháng 9 năm 1986 với giá 200 đô la Mỹ (tương đương $570 vào năm 2026) và ban đầu được bán theo gói gồm máy "Power Base", một khẩu súng quang học, hai tay cầm cùng một băng tích hợp bán kèm chứa hai trò chơi Hang-On và Safari Hunt.[33][34] Cùng khoảng thời gian đó, Nintendo đang xuất khẩu Famicom sang Mỹ với tên gọi Nintendo Entertainment System, và cả Sega lẫn Nintendo đều lên kế hoạch chi 15 triệu đô la Mỹ vào cuối năm 1986 để tiếp thị máy chơi game của riêng họ; Sega hy vọng sẽ bán được từ 400.000 đến 750.000 máy trong năm 1986.[35] Đến cuối năm 1986, ít nhất 125.000 máy Master System đã được bán ra, nhiều hơn con số 100.000 của Atari 7800 nhưng lại kém xa mức 1,1 triệu máy của Nintendo.[4] Một số nguồn khác chỉ ra rằng đã có hơn 250.000 máy Master System được tiêu thụ vào dịp Giáng sinh năm 1986.[36]
Tương tự như ở Nhật Bản, Master System tại Bắc Mỹ sở hữu một thư viện trò chơi khá hạn chế. Bị kìm hãm bởi các chính sách cấp phép của Nintendo, Sega chỉ có hai nhà phát hành Mỹ thuộc bên thứ ba là Activision và Parker Brothers.[23] Thỏa thuận với cả hai công ty này đều chấm dứt vào năm 1989.[30] Sega tuyên bố Master System là hệ máy đầu tiên "có hình ảnh trên hộp thực sự khớp với hình ảnh của trò chơi",[35] đồng thời đẩy mạnh quảng bá "trải nghiệm máy thùng" trong các chiến dịch quảng cáo.[26] Tuy nhiên, bộ phận tiếp thị của họ chỉ được vận hành bởi hai người khiến Sega gặp bất lợi trong việc quảng cáo.[26] Như một cách để quảng bá hệ máy, vào cuối năm 1987, Sega đã hợp tác với phi hành gia Scott Carpenter để khởi động "Sega Challenge", một chương trình lưu động được thiết lập tại các trung tâm giải trí nơi trẻ em được kiểm tra các kỹ năng phi ngôn ngữ như mức độ tập trung và khả năng học hỏi kỹ năng mới. Out Run và Shooting Gallery là hai trò chơi góp mặt trong thử thách này.[37]
Năm 1987, giữa bối cảnh doanh số bán hàng èo uột tại Hoa Kỳ,[30] Sega đã bán lại quyền phân phối Master System tại Mỹ cho công ty đồ chơi Tonka vốn không hề có chút kinh nghiệm nào về các hệ thống giải trí điện tử.[23] Sega thực hiện thỏa thuận này nhằm tận dụng sự hiểu biết của Tonka về thị trường đồ chơi Mỹ do Nintendo đã tiếp thị NES như một món đồ chơi và gặt hái thành công vang dội tại Bắc Mỹ.[30] Thông báo này được đưa ra ngay sau sự kiện CES Mùa hè 1987.[38] Trong khoảng thời gian này, phần lớn cơ sở hạ tầng của Sega of America đã chuyển dịch từ tiếp thị và phân phối sang tập trung vào dịch vụ khách hàng và Lowry cũng đã rời công ty.[30] Tonka đã ngăn chặn việc địa phương hóa một số trò chơi Nhật Bản nổi tiếng,[23] và trong năm 1988, họ càng tỏ ra kém mặn mà trong việc mua các EPROM cần thiết cho quá trình sản xuất băng trò chơi trong thời kỳ khan hiếm. Họ cũng trở nên ít sẵn sàng đầu tư vào trò chơi điện tử sau khi gánh những khoản vay khổng lồ để thâu tóm Kenner Toys vào năm 1987, kéo theo sau đó là doanh số bán hàng nghèo nàn trong dịp lễ và những tổn thất tài chính.[30][23]
Ngày 18 tháng 10 năm 1987, Mark III được tái phát hành với tên gọi Master System tại Nhật Bản với giá 16.800 Yên,[6] nhưng vẫn bán rất chậm.[23] Cả hai mẫu máy này đều không thể tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng nào đối với Nintendo ở Nhật Bản,[12] và theo lời Sato, Sega chỉ có thể giành được 10% thị phần máy chơi game Nhật Bản.[24]
Châu Âu, Brasil và các thị trường khác
Master System ra mắt tại châu Âu vào tháng 8 năm 1987,[5] được phân phối bởi Mastertronic ở Vương quốc Anh, Master Games ở Pháp và Ariolasoft ở Tây Đức,[39] trong đó Ariolasoft ban đầu đã mua lại quyền phân phối tại Vương quốc Anh.[40][41][42] Do Ariolasoft không thể thống nhất được thỏa thuận giá cả với Sega, Mastertronic đã ký một hợp đồng vào năm 1987 để giành quyền kiểm soát việc phân phối tại Vương quốc Anh và công bố thỏa thuận này tại CES Mùa hè 1987. Công ty thông báo sẽ phát hành 12 tựa game vào mùa thu.[43] Mastertronic đã quảng cáo Master System là "một rạp máy thùng tại gia" và tung máy ra thị trường với mức giá 99 £ (tương đương £330 vào năm 2026). Lượng đơn đặt hàng trước từ các nhà bán lẻ rất cao nhưng Sega lại không thể giao hàng cho đến Ngày tặng quà vào ngày 26 tháng 12 khiến nhiều nhà bán lẻ phải hủy đơn. Mastertronic cùng Master Games rơi vào khủng hoảng tài chính trong khi Ariolasoft thề sẽ không bao giờ hợp tác với Sega nữa. Bản thân Mastertronic trước đó đã bán một phần nhỏ cổ phần cho Virgin Group để bước chân vào thị trường máy chơi game và buộc phải bán nốt phần còn lại để tránh phá sản. Công ty sau đó đổi tên thành Virgin Mastertronic và nắm toàn bộ quyền phân phối ở châu Âu vào năm 1988.[39]
Virgin Mastertronic tập trung chiến lược tiếp thị Master System vào các bản chuyển hệ từ trò chơi máy thùng của Sega và định vị nó như một giải pháp thay thế trò chơi điện tử ưu việt hơn so với các máy tính Commodore 64 và ZX Spectrum. Nhờ chiến dịch tiếp thị này cộng với các phương pháp tiếp cận kém hiệu quả ban đầu của Nintendo tại châu Âu, Master System bắt đầu thu hút được sự chú ý từ các nhà phát triển ở châu lục này.[44] Master System chiếm lĩnh một phần đáng kể thị trường máy chơi game ở châu Âu cho đến khi hệ máy kế nhiệm của Sega là Mega Drive ra mắt.[d][23][44] Năm 1989, Virgin Mastertronic bắt đầu cung cấp dịch vụ cho thuê máy Master System cùng 20 trò chơi. Vương quốc Anh cũng tổ chức một giải vô địch trò chơi điện tử Sega quốc gia, trong đó người chiến thắng sẽ thi đấu với các nhà vô địch đến từ Nhật Bản và Mỹ trên chương trình truyền hình Anh Motormouth. Những người tham gia đã tranh tài ở nhiều trò chơi khác nhau bao gồm Astro Warrior, trò chơi đi cảnh và trò chơi thể thao.[45] Trong suốt cuối thập niên 1980, Master System đã vượt mặt NES về doanh số tại Vương quốc Anh.[46]
Master System đã gặt hái thành công ở châu Âu, trở thành máy chơi game bán chạy nhất khu vực này vào năm 1990; tuy nhiên, vào thời điểm đó NES cũng bắt đầu sở hữu cơ sở người dùng tăng trưởng nhanh chóng ở Vương quốc Anh.[47] Chỉ tính riêng năm 1990, Virgin Mastertronic đã bán được 150.000 máy Master System tại Vương quốc Anh, cao hơn 60.000 máy Mega Drive và 80.000 máy của Nintendo được tiêu thụ trong cùng kỳ. Trên toàn bộ lãnh thổ châu Âu trong năm đó, Sega bán được tổng cộng 918.000 máy, vượt trội so với con số 655.000 của Nintendo.[48]
Master System cũng thành công rực rỡ tại Brasil, nơi nó được ra mắt vào tháng 9 năm 1989[8] và do Tectoy phân phối.[23][44] Đây là một công ty khởi nghiệp đồ chơi của Brasil tập trung vào lĩnh vực đồ chơi điện tử. Tectoy đã chủ động liên hệ với Sega về việc phân phối sản phẩm và bất chấp sự do dự của Sega trước bối cảnh rắc rối với Tonka ở Mỹ, công ty cuối cùng cũng được trao quyền tự chủ quản lý các sản phẩm của Sega tại Brasil. Thành công của họ trong việc phân phối súng laser tag của Sega dựa trên bộ anime Zillion đã tiếp thêm sự tự tự tin để Sega cho phép Tectoy phân phối Master System.[49] Đến cuối năm 1990, cơ sở lắp đặt tại Brasil đã đạt khoảng 280.000 máy.[50] Tectoy đã giới thiệu một dịch vụ hỗ trợ mẹo chơi game qua điện thoại, thành lập câu lạc bộ Master System và phát sóng chương trình Master Tips trong các khung giờ quảng cáo của chương trình truyền hình Sessão Aventura trên mạng lưới Rede Globo.[8] Nintendo phải đến tận năm 1993 mới đặt chân đến Brasil[51] và không thể cạnh tranh chính thức do các bản sao lậu của NES đã tràn ngập thị trường nước này.[52] Tectoy tuyên bố họ nắm giữ 80% thị trường trò chơi điện tử tại Brasil.[49]
Tại Hàn Quốc, Sega Mark III được Samsung phát hành dưới tên "Gam*Boy" vào tháng 4 năm 1989, tiếp theo là Master System II dưới tên "Aladdin Boy" vào năm 1992.[7] Tính đến năm 1993, hãng đã bán được 720.000 máy tại Hàn Quốc, đánh bại NES (được tập đoàn Hyundai phát hành trong khu vực với tên gọi "Comboy") và trở thành hệ máy bán chạy nhất khu vực cho đến năm 1993.[15] Master System cũng rất phổ biến tại New Zealand[53] và Úc; tại Úc, nó thành công hơn cả NES,[54] với 250.000 máy được bán ra chỉ trong năm 1990.[55] Tính đến tháng 11 năm 1994, đã có 650.000 máy được tiêu thụ ở Úc.[16]
Suy thoái



Mặc dù Master System gặt hái thành công ở châu Âu và sau này là tại Brasil, hệ máy này lại thất bại trong việc khơi dậy sự quan tâm đáng kể tại các thị trường Nhật Bản hay Bắc Mỹ, những nơi mà vào thời điểm giữa đến cuối thập niên 1980 đều nằm dưới sự thống trị của Nintendo,[21][56][57] công ty nắm giữ tới 83% thị trường trò chơi điện tử Bắc Mỹ vào năm 1988.[58] Trước bối cảnh Sega tiếp tục gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường nội địa, đội ngũ R&D máy chơi game của hãng do Ishikawa dẫn dắt và Sato giám sát đã bắt tay vào phát triển một hệ máy kế nhiệm Master System gần như ngay sau khi hệ thống này ra mắt.[59][60] Một đối thủ cạnh tranh khác ở Nhật Bản nổi lên vào năm 1987 khi gã khổng lồ máy tính Nhật Bản NEC ra mắt PC Engine (sau này được phát hành ở Bắc Mỹ với tên TurboGrafx-16) trong sự phô trương rầm rộ.[61]
Sega phát hành máy chơi game tiếp theo của họ là Mega Drive 16-bit tại Nhật Bản vào ngày 29 tháng 10 năm 1988.[62] Bản phát hành được cấp phép cuối cùng cho Master System ở Nhật Bản là Bomber Raid vào năm 1989.[23] Cùng năm đó, Sega đang rục rịch chuẩn bị tung Mega Drive với tên gọi Sega Genesis tại Bắc Mỹ. Bất mãn trước cách thức quản lý Master System của Tonka, Sega đã thâu tóm lại quyền tiếp thị và phân phối Master System tại Hoa Kỳ. Năm 1990, Sega tung ra mẫu Master System II được thiết kế lại với tư cách là một phiên bản giá rẻ loại bỏ khe cắm Sega Card.[23][34] Sega đã đẩy mạnh quảng bá cho mẫu máy mới nhưng nó vẫn bán rất chậm.[23] Đầu năm 1992, quá trình sản xuất Master System tại Bắc Mỹ đã chấm dứt với doanh số bán ra dao động từ 1,5 triệu đến 2 triệu máy,[13][63] xếp sau cả Nintendo lẫn Atari vốn lần lượt kiểm soát 80% và 12% thị trường.[64] Trò chơi Master System được cấp phép cuối cùng ở Bắc Mỹ là Sonic the Hedgehog (1991).[23][65]
Tại châu Âu nơi Master System từng là máy chơi game bán chạy nhất cho đến năm 1990,[47][48] NES đã bắt kịp và vượt qua Master System với khoảng cách sít sao ở Tây Âu trong đầu thập niên 1990; dẫu vậy, Master System vẫn duy trì được thế dẫn đầu ở một vài thị trường như Vương quốc Anh, Bỉ và Tây Ban Nha.[66] Vào năm 1993, cơ sở người dùng cài đặt đang hoạt động ước tính của Master System ở châu Âu là 6,25 triệu máy, cao hơn so với 5,73 triệu máy Mega Drive trong năm đó nhưng vẫn thấp hơn 7,26 triệu máy của NES.[14] Nếu cộng gộp với Mega Drive, Sega đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường máy chơi game châu Âu trong năm ấy.[67] Master System II cũng gặt hái thành công và giúp Sega duy trì được thị phần đáng kể của mình. Các tựa game vẫn tiếp tục được phát hành ở châu Âu vào những năm 1990, bao gồm Mercs, Sonic the Hedgehog 2 (đều ra mắt năm 1992) và Streets of Rage 2 (1994).[23]
Master System vẫn tiếp tục tận hưởng chuỗi thành công tại Brasil, nơi các máy chơi game "cắm và chơi" (plug and play) chuyên dụng mô phỏng lại phần cứng gốc vẫn tiếp tục được Tectoy bày bán, bao gồm cả các phiên bản cầm tay. Các hệ máy này bao gồm Master System Compact[23] và Master System III,[68] và Tectoy thậm chí còn nhận được nhiều yêu cầu chế tạo lại Master System nguyên bản.[49] Vào năm 2012, UOL đã báo cáo rằng các đợt tái phát hành Master System và Mega Drive của Tectoy đã tẩu tán được tổng cộng khoảng 150.000 máy mỗi năm ở Brasil.[69][70] Tính đến năm 2016, Tectoy cho biết họ đã bán được 8 triệu máy mang thương hiệu Master System tại Brasil.[17]
Thông số kỹ thuật Master System
Bộ xử lý trung tâm (CPU) chính của Master System là Zilog Z80A 8-bit được định mức ở tốc độ 4 MHz nhưng hoạt động ở mức 3,58 MHz. Máy sở hữu 8 KB ROM, 8 KB bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM) và 16 KB RAM video (VRAM). Hình ảnh được xuất qua một bộ chuyển mạch RF (mặc dù các máy Model 1 có cổng AV cũng có thể xuất video tổng hợp và thậm chí cả video thành phần RGB) và hiển thị ở độ phân giải 256 × 192 pixel với tối đa 32 màu cùng lúc từ tổng bảng màu gồm 64 màu;[6] chip đồ họa Bộ xử lý hiển thị video (VDP) do Sega thiết kế riêng cho Mark III.[24] Master System có kích thước 365 mm × 170 mm × 70 mm (14,4 in × 6,7 in × 2,8 in),[6] trong khi Mark III có kích thước 318 mm × 145 mm × 52 mm (12,5 in × 5,7 in × 2,0 in).[1] Cả hai hệ máy đều sử dụng hai khe cắm để đưa trò chơi vào: một khe cắm Mega Cartridge và một khe cắm Sega Card, cùng với một cổng mở rộng và hai cổng cắm tay cầm.[6][1] Âm thanh do chip PSG Texas Instruments SN76489 được tích hợp trong VDP cung cấp, có khả năng phát ra ba kênh sóng vuông và một kênh tiếng ồn trắng. Phiên bản Nhật Bản còn được tích hợp thêm chip âm thanh FM Yamaha YM2413,[6] vốn là một tính năng tùy chọn trên Mark III. Với một vài ngoại lệ, phần cứng của Master System hoàn toàn giống với phần cứng trong Mark III. Các trò chơi của hệ máy này có thể chơi được trên Sega Genesis bằng cách sử dụng phụ kiện Power Base Converter,[23] và trên Game Gear thông qua Master Gear Converter.[71] So với NES phiên bản tiêu chuẩn, Master System sở hữu bộ nhớ hệ thống lớn gấp bốn lần, bộ nhớ video lớn gấp tám lần và tốc độ xung nhịp CPU cao hơn.[26]
Sega đã sản xuất một số phiên bản khác nhau của Master System. Master System II ra mắt năm 1990 đã loại bỏ một số thành phần nhằm tiết giảm chi phí: khe cắm Sega Card, nút khởi động lại (reset), đèn nguồn, cổng mở rộng cùng âm nhạc và biểu trưng khởi động.[34] Ở hầu hết các khu vực, cổng A/V của Master System II đã bị lược bỏ, chỉ giữ lại đầu ra RF; điều này được làm ngược lại ở Pháp, nơi phiên bản nội địa của Master System II chỉ có đầu ra video A/V và loại bỏ phần cứng RF.[72] Tại Brasil, Tectoy đã tung ra một vài biến thể được cấp phép; Master System Super Compact hoạt động không dây với bộ phát tín hiệu RF, còn Master System Girl được đúc bằng nhựa màu hồng tươi nhắm đến đối tượng khách hàng là các bé gái. Master System 3 Collection phát hành năm 2006 được cài đặt sẵn 120 trò chơi tích hợp.[68] Các phiên bản cầm tay của Master System cũng được phát hành dưới một số thương hiệu, chẳng hạn như máy của công ty Coleco ra mắt năm 2006.[73]
Phụ kiện
Tay cầm Master System | Light Phaser | Kính SegaScope 3-D |
Rất nhiều phụ kiện có khả năng tương thích chéo đã được tạo ra cho Mark III và Master System. Tay cầm điều khiển bao gồm một hình chữ nhật có D-pad và hai nút bấm. Sega cũng giới thiệu thêm các tay cầm khác cho Mark III, ví dụ như tay cầm paddle dạng mái chèo.[74] Một bộ vô lăng kết hợp cần điều khiển bay mang tên Handle Controller đã được phát hành vào năm 1989. Sega Control Stick là một cần gạt joystick kiểu máy thùng với các nút bấm được đặt ở phía đối diện so với tay cầm tiêu chuẩn. Mặc dù không được phát hành ở châu Âu, Sega Sports Pad sử dụng bóng xoay trackball và tương thích với ba trò chơi. Sega còn tạo ra một bộ cắm mở rộng cho tay cầm có tên là Rapid Fire Unit, cho phép tự động bắn liên thanh (auto-fire) bằng cách giữ một trong hai nút bấm. Thiết bị này kết nối ở giữa máy chơi game và tay cầm.[75] Súng quang học Light Phaser[34] được thiết kế dựa trên vũ khí cùng tên trong bộ anime Nhật Bản Zillion.[68] Khẩu súng này tương thích với 13 trò chơi và được phát hành độc quyền tại phương Tây.[75]
Một cặp kính 3D có tên là SegaScope 3-D đã được chế tạo cho các trò chơi như Space Harrier 3-D, mặc dù người dùng Mark III cần thêm một bộ chuyển đổi để sử dụng chúng. SegaScope 3-D hoạt động thông qua một hệ thống 3D màn trập chủ động, tạo ra hiệu ứng nổi ba chiều.[76] Do cần phải kết nối vào khe cắm Sega Card nên kính không thể hoạt động với máy Master System II vốn đã bị loại bỏ khe cắm thẻ. Tổng cộng có tám trò chơi tương thích với kính, trong đó có Zaxxon 3-D và OutRun 3-D.[75]
Mark III có một phụ kiện phát tín hiệu RF tùy chọn, cho phép chơi game không dây bằng cách phát sóng trò chơi đang chơi lên tín hiệu truyền hình UHF.[77]
Game Gear

Được phát triển dưới tên mã "Project Mercury"[71] và có thiết kế dựa trên phần cứng của Master System,[78] Game Gear là một máy chơi trò chơi điện tử cầm tay. Nó được phát hành lần đầu tại Nhật Bản vào ngày 6 tháng 10 năm 1990,[10] tại Bắc Mỹ và châu Âu vào năm 1991, và tại Úc cùng New Zealand vào năm 1992.[71] Với mức giá bán lẻ ban đầu là 19.800 Yên tại Nhật Bản,[10] 149,99 đô la Mỹ tại Bắc Mỹ và 99,99 Bảng Anh tại Vương quốc Anh,[71] Game Gear được thiết kế nhằm cạnh tranh với máy Game Boy do Nintendo ra mắt vào năm 1989.[79] Có nhiều điểm tương đồng giữa phần cứng của Game Gear và Master System; người chơi hoàn toàn có thể thưởng thức các tựa game Master System trên Game Gear thông qua phụ kiện Master Gear Converter.[80] Một phần lớn trong thư viện trò chơi của Game Gear bao gồm các bản chuyển hệ từ Master System. Nhờ những điểm chung về phần cứng, điển hình như định hướng màn hình ngang (landscape), các trò chơi Master System rất dễ dàng được chuyển hệ sang hệ máy cầm tay này.[71] Cụ thể, Tectoy đã thực hiện rất nhiều bản chuyển hệ từ các trò chơi Game Gear sang Master System dành riêng cho thị trường Brasil, bởi lẽ Master System tại khu vực này phổ biến hơn so với Game Gear.[49]
Thư viện trò chơi Master System

Các trò chơi trên Master System được phát hành dưới hai định dạng: Băng ROM có khả năng chứa tối đa 4 Mbit (512 KB) mã lệnh và dữ liệu, trong khi Sega Card chỉ chứa tối đa 256 Kbit (32 KB). Băng trò chơi được tiếp thị dựa trên dung lượng lưu trữ của chúng: One Mega (1 Mbit), Two Mega (2 Mbit) và Four Mega (4 Mbit). Thẻ nhớ (Card) tuy có chi phí sản xuất rẻ hơn băng nhưng lại bị giới hạn về bộ nhớ, tiêu biểu có thể kể đến các trò chơi như Spy vs. Spy và Super Tennis,[23][34] và cuối cùng định dạng này đã bị khai tử do dung lượng quá nhỏ.[24] Quy mô của thư viện trò chơi có sự phân hóa rõ rệt tùy theo khu vực; Bắc Mỹ nhận được hơn 100 trò chơi, trong khi con số này ở Nhật Bản còn thấp hơn. Ngược lại, châu Âu chứng kiến sự bùng nổ với hơn 300 trò chơi được cấp phép, bao gồm cả các bản chuyển hệ 8-bit từ dòng máy Genesis và những tựa game độc quyền cho hệ PAL.[75] Băng trò chơi đầu tiên dành riêng cho Mark III là Fantasy Zone, phát hành vào ngày 15 tháng 6 năm 1986,[81] và Bomber Raid là bản phát hành cuối cùng vào ngày 4 tháng 2 năm 1989, chỉ vài tháng sau màn ra mắt của Mega Drive.[81] Trò chơi cuối cùng được phát hành tại Bắc Mỹ là Sonic the Hedgehog vào tháng 10 năm 1991.[23][65] Tuy nhiên, các khu vực PAL vẫn liên tục đón nhận những trò chơi mới cho đến tận giữa thập niên 1990.[23][75]
Sega Mark III và Master System phiên bản Nhật Bản có khả năng tương thích ngược với các băng trò chơi của SC-3000/SG-1000, đồng thời có thể chơi trực tiếp các tựa game Sega Card mà không cần đến thiết bị ngoại vi Card Catcher.[1][6] Dẫu vậy, các băng trò chơi giáo dục và lập trình dành cho SC-3000 lại bắt buộc phải kết hợp với thiết bị ngoại vi bàn phím SK-1100 vốn được thiết kế tương thích với Mark III.[82] Các trò chơi dành riêng cho Mark III ban đầu được phân phối dưới định dạng thẻ (dán nhãn My Card Mark III để phân biệt với các trò chơi thiết kế cho SC-3000/SG-1000), khởi đầu với Teddy Boy Blues và Hang-On, cả hai đều ra mắt vào ngày 20 tháng 10 năm 1985.[81]
Trong số các tựa game được phát hành cho Master System, Phantasy Star được coi là một chuẩn mực của thể loại trò chơi nhập vai (RPG) và đã vươn mình trở thành một thương hiệu nhượng quyền thành công.[83] Linh vật biểu tượng của Sega thời bấy giờ là Alex Kidd đã được ưu ái góp mặt trong nhiều trò chơi, điển hình như Alex Kidd in Miracle World. Wonder Boy III: The Dragon's Trap cũng tạo được tiếng vang lớn nhờ sự pha trộn khéo léo giữa lối chơi đi cảnh và các yếu tố nhập vai RPG.[84] Các mẫu máy Master System khác nhau được tích hợp sẵn những trò chơi khác nhau ngay trong phần cứng, chẳng hạn như Snail Maze, Hang-On/Safari Hunt, Alex Kidd in Miracle World và Sonic the Hedgehog.[23] Tính năng lưu trò chơi (save game) bằng pin dự phòng đã được tích hợp vào tám băng trò chơi, bao gồm Penguin Land, Phantasy Star, Ys I: Ancient Ys Vanished và Miracle Warriors: Seal of the Dark Lord.[81]
Thư viện trò chơi đồ sộ hơn tại khu vực PAL quy tụ các phiên bản 8-bit của những thương hiệu Genesis đình đám như Streets of Rage,[75] một loạt các tựa game Sonic the Hedgehog bổ sung,[65] cùng hàng chục trò chơi độc quyền hệ PAL như The Lucky Dime Caper Starring Donald Duck, Asterix (trò chơi điện tử 1991), Ninja Gaiden (trò chơi điện tử 1992), Master of Darkness và Power Strike II (trò chơi điện tử Master System).[75] Damien McFerran từ tạp chí Retro Gamer đã ca ngợi thư viện PAL là "tuyệt đỉnh" với "những bản chuyển hệ thú vị và các tựa game độc quyền xuất sắc", phong phú hơn hẳn thư viện Bắc Mỹ và mang đến "một luồng sinh khí mới mẻ của những tựa game chất lượng".[23]
Sau khi Master System bị ngừng sản xuất ở các thị trường khác, Tectoy vẫn tiếp tục tung ra những trò chơi mới tại Brasil, bao gồm cả các bản chuyển hệ của Street Fighter II: Champion Edition và Dynamite Headdy.[23] Tectoy còn tiến hành dịch các tựa game độc quyền của khu vực này sang tiếng Bồ Đào Nha. Một số trong đó được lồng ghép với các thương hiệu giải trí nổi tiếng tại Brasil; ví dụ: Teddy Boy được biến tấu thành Geraldinho, một số tựa game Wonder Boy nhất định trở thành trò chơi Monica's Gang, và Ghost House (trò chơi điện tử) hóa thân thành Chapolim vs. Dracula: Um Duelo Assutador dựa trên loạt phim truyền hình Mexico El Chapulín Colorado. Tectoy cũng tự tay thực hiện các bản chuyển hệ từ Genesis và Game Gear sang Master System.[85][52] Bên cạnh mảng chuyển hệ, công ty này còn tự phát triển Férias Frustradas do Pica-Pau sau khi nhận ra rằng Woody Woodpecker (tên tiếng Bồ Đào Nha là Pica-Pau) là bộ phim hoạt hình được yêu thích nhất trên truyền hình Brasil,[85] cùng với ít nhất hai mươi tựa game độc quyền khác.[75] Những trò chơi này đều do Tectoy tự phát triển nội bộ tại Brasil.[85]
Một phần do các chính sách cấp phép khắt khe của Nintendo, trong đó quy định rõ các nhà phát triển NES bên thứ ba không được phép phát hành trò chơi trên các nền tảng cạnh tranh, rất hiếm nhà phát triển bên thứ ba nào chịu tung ra trò chơi cho Master System.[23] Theo Sato chia sẻ, Sega lúc bấy giờ chỉ mải mê tập trung vào việc chuyển hệ các trò chơi máy thùng của hãng thay vì dốc sức xây dựng mối quan hệ bền chặt với các đối tác thứ ba.[24] Dẫn lời nhà thiết kế Mark Cerny của Sega, hầu hết các trò chơi Master System thuở sơ khai của hãng đều phải chạy đua phát triển trong một thời hạn ngặt nghèo chỉ vỏn vẹn ba tháng, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tổng thể của chúng.[86][87][88] Tạp chí Computer Gaming World thậm chí còn ví von các tựa game mới của Sega như "những giọt nước nhỏ nhoi giữa sa mạc khô cằn".[89] Tuy nhiên, các trò chơi trên Master System lại được hưởng lợi lớn từ phần cứng tiên tiến hơn so với NES; điển hình như Alex Kidd in Miracle World đã phô diễn "những gam màu rực rỡ cùng các nhân vật (sprite) chi tiết sắc nét hơn" hẳn các trò chơi trên hệ máy của Nintendo.[90][91] Bản chuyển hệ của R-Type trên Master System cũng nhận được nhiều lời khen ngợi về chất lượng đồ họa, thậm chí có thể sánh ngang với phiên bản trên máy TurboGrafx-16.[92]
Vào năm 2005, Sega đã đạt được thỏa thuận với công ty AtGames để phát hành các phần mềm giả lập Master System tại thị trường Đài Loan, Hồng Kông và Trung Quốc đại lục.[93] Một số trò chơi Master System cũng đã được phát hành dưới dạng tải xuống trên dịch vụ Virtual Console của máy Wii do Nintendo cung cấp, bắt đầu bằng tựa game Hokuto no Ken vào năm 2008 tại Nhật Bản và Wonder Boy (trò chơi điện tử) tại Bắc Mỹ.[94] Ngoài ra, các trò chơi Master System còn được phân phối thông qua nền tảng trực tuyến GameTap.[95]
Đón nhận và di sản Master System
Nhờ việc liên tục cho ra mắt các phiên bản mới tại Brasil, Master System được nhiều ấn phẩm trò chơi điện tử công nhận là hệ máy chơi game có tuổi thọ lâu đời nhất trong lịch sử, một danh hiệu mà nó đã soán ngôi từ tay Atari 2600.[96][97][98] Doanh số của Master System ước tính đạt từ 10 triệu đến 13 triệu máy, chưa tính đến doanh số bán ra sau này tại Brasil.[10][11] Hệ máy này gặt hái được nhiều thành công nối tiếp ở châu Âu và Brasil hơn hẳn so với thị trường Nhật Bản hay Bắc Mỹ.[23] Vào năm 1989, Master System đã vinh dự lọt vào danh sách 20 sản phẩm hàng đầu của Dịch vụ Theo dõi Doanh số Bán lẻ Đồ chơi do NPD Group thực hiện.[99] Mặc dù vậy, Cẩm nang Người mua năm 1992 của tạp chí Electronic Gaming Monthly lại cho thấy sự sụt giảm rõ rệt về mức độ quan tâm dành cho hệ máy này. Bốn người đánh giá đã chấm cho nó những số điểm lần lượt là 5, 4, 5 và 5 trên thang điểm 10, trong đó phần lớn tập trung vào việc Genesis mang lại giá trị tốt hơn hẳn và sự thiếu hụt các tựa game chất lượng cho Master System.[100] Đến năm 1993, các nhà đánh giá chỉ còn chấm cho nó 2, 2, 3 và 3 trên 10 điểm, đồng thời nhấn mạnh việc Sega đã "đem con bỏ chợ" tại Bắc Mỹ cũng như tình trạng vắng bóng hoàn toàn các bản phát hành mới.[101] Ở một thái cực hoàn toàn đối lập, chỉ tính riêng tại Bắc Mỹ, đã có hơn 34 triệu máy NES được bán ra, gấp gần ba lần tổng doanh số trọn đời của Master System trên toàn cầu.[102][11] Theo nhận định của Bill Pearse từ tạp chí Playthings, NES đã giành được lợi thế áp đảo nhờ sở hữu phần mềm ưu việt hơn cùng hệ thống nhân vật dễ nhận diện hơn.[103] Mãi đến thế hệ máy chơi game tiếp theo, Sega mới có thể thu hẹp khoảng cách với Nintendo nhờ sự xuất hiện của Genesis, hệ máy đã tiêu thụ được 30,75 triệu chiếc so với con số 49 triệu máy của Super Nintendo Entertainment System.[104][105]
Các luồng ý kiến đánh giá nhìn lại sau này dành nhiều lời khen ngợi cho Master System vì những đóng góp nền tảng của nó đối với quá trình phát triển Sega Genesis, nhưng đồng thời cũng lên tiếng chỉ trích về quy mô khiêm tốn của thư viện trò chơi. Cây bút Dave Beuscher của AllGame lưu ý rằng Master System "đã sớm bị định đoạt số phận bởi sự thiếu hụt hỗ trợ phần mềm từ bên thứ ba và gần như biến mất hoàn toàn khỏi thị trường Mỹ vào năm 1992."[34] Adam Buchanan của tạp chí Retro Gamer lại tán dương thư viện đồ sộ ở hệ máy PAL là "một thư viện tuyệt đỉnh gồm các bản chuyển hệ thú vị và những tựa game độc quyền xuất sắc".[75] Đồng nghiệp của anh tại Retro Gamer là Damien McFerran cũng công nhận tầm quan trọng của hệ máy này đối với thành công của Genesis, anh nhận định: "Nếu không có cỗ máy bị đánh giá thấp một cách bất công này, Sega sẽ chẳng bao giờ có thể tận hưởng được thành công đáng kể như họ đã từng làm với Mega Drive. Master System đã trao cho Sega đặc quyền được thử nghiệm với các bản chuyển hệ từ máy thùng, các sở hữu trí tuệ gốc (IP) và thậm chí là tạo ra một linh vật biểu tượng dưới hình hài của cậu bé khỉ Alex Kidd đáng yêu."[23] Vào năm 2009, Master System đã được IGN vinh danh là máy chơi game xuất sắc thứ 20 mọi thời đại, xếp ngay sau Atari 7800 (thứ 17) và NES (số 1). IGN chỉ ra rằng chính thư viện trò chơi NTSC vừa mỏng manh lại vừa thiếu đồng đều là những vấn đề nan giải nhất của Master System: "Hàng tháng trời có thể trôi qua trong vô vọng giữa những bản phát hành lớn và điều đó khiến việc mua phải một tựa game dở tệ trên Master System mang lại cảm giác đau đớn tột cùng."[106]
Ghi chú Master System
Tham khảo Master System
- 1 2 3 4 5 "Sega Mark III" [Sega Mark III]. Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 3 Gamers High! Futabasha Super Mook [Gamers High! Siêu sách Futabasha] (bằng tiếng Nhật). Futabasha. 2015. tr. 55. ISBN 978-4-575-45554-0.
- ↑ "家庭用 컴퓨터 시판" [Phát hành máy tính gia đình]. 매일경제 (bằng tiếng Hàn). ngày 13 tháng 10 năm 1988. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
- 1 2 "Comparing the New Videogame Systems" [So sánh các hệ thống trò chơi điện tử mới]. Computer Entertainer (bằng tiếng Anh). Quyển 5 số 11. tháng 2 năm 1987. tr. 13.
- 1 2 "Sega Release Schedule to November 1987 - UK" [Lịch trình phát hành của Sega đến tháng 11 năm 1987 - Vương quốc Anh]. Computer and Video Games (bằng tiếng Anh). Số 73. tháng 11 năm 1987. tr. 132.
- 1 2 3 4 5 6 7 "Master System" [Master System]. Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
- 1 2 Derboo, Sam (ngày 13 tháng 7 năm 2010). "A History of Korean Gaming: Part 1" [Lịch sử trò chơi điện tử Hàn Quốc: Phần 1]. Hardcore Gaming 101 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2021.
- 1 2 3 "Master System completa 20 anos de vida no Brasil" [Master System tròn 20 tuổi ở Brasil]. UOL (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Grupo Folha. ngày 4 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014.
- ↑ "The SEGA Master System in Brazil: History of a Forgotten Video Game Console" [SEGA Master System tại Brasil: Lịch sử về một máy chơi trò chơi điện tử bị lãng quên]. Munib Rezaie: Media Blog and Academic Portfolio (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 1 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
- 1 2 3 4 Forster, Winnie (2005). The Encyclopedia of Game Machines: Consoles, Handhelds, and Home Computers 1972–2005 [Bách khoa toàn thư về máy chơi game: Máy chơi game tại gia, máy cầm tay và máy tính gia đình 1972–2005] (bằng tiếng Anh). Magdalena Gniatczynska. tr. 139. ISBN 3-00-015359-4.
- 1 2 3 Buchanan, Levi (ngày 20 tháng 3 năm 2009). "Genesis vs. SNES: By the Numbers" [Genesis vs. SNES: Nhìn từ những con số]. IGN (bằng tiếng Anh). Ziff Davis. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014.
- 1 2 Nihon Kōgyō Shinbunsha (1986). "Amusement" [Giải trí]. Business Japan (bằng tiếng Anh). 31 (7–12). Nihon Kogyo Shimbun: 89. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2012.
- 1 2 Sheff, David (1993). Game Over [Game Over] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). New York, New York: Random House. tr. 349. ISBN 0-679-40469-4. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2012.
- 1 2 "Sega Consoles: Active installed base estimates" [Máy chơi game Sega: Ước tính cơ sở lắp đặt hoạt động]. Screen Digest (bằng tiếng Anh). Screen Digest Ltd.: 60 tháng 3 năm 1995.
- 1 2 게임월드 [Game World] (bằng tiếng Hàn). 1994.
- 1 2 "Sega's Secrets" [Bí mật của Sega]. Sega MegaZone (bằng tiếng Anh). Australia: Mason Stewart Publishing Pty Ltd. tháng 11 năm 1994. tr. 23.
- 1 2 Azevedo, Théo (ngày 12 tháng 5 năm 2016). "Console em produção há mais tempo, Master System já vendeu 8 mi no Brasil" [Hệ máy được sản xuất lâu nhất, Master System đã bán được 8 triệu ở Brasil]. UOL (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Grupo Folha. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2016.
Comercializado no Brasil desde setembro de 1989, o saudoso Master System já vendeu mais de 8 milhões de unidades no país, segundo a Tectoy.
- ↑ "SG-1000" [SG-1000]. Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Lưu trữ bản gốc tháng 7 11, 2018. Truy cập tháng 2 13, 2025.
- 1 2 Kohler, Chris (tháng 10 năm 2009). "Playing the SG-1000, Sega's First Game Machine" [Chơi thử SG-1000, máy chơi game đầu tiên của Sega]. Wired (bằng tiếng Anh). Condé Nast Publications. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2009.
- ↑ "G&W Wins Cheers $1 Billion Spinoff Set" [G&W giành được sự hoan hô, dự kiến tách riêng 1 tỷ đô la]. The Miami Herald (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 8 năm 1983. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013 – qua NewsBank.
- 1 2 Kent, Steven L. (2001). The Ultimate History of Video Games: The Story Behind the Craze that Touched our Lives and Changed the World [Lịch sử tối thượng của trò chơi điện tử: Câu chuyện đằng sau cơn sốt chạm đến cuộc sống của chúng ta và thay đổi thế giới] (bằng tiếng Anh). Roseville, California: Prima Publishing. tr. 303, 343, 360. ISBN 0-7615-3643-4.
- ↑ Pollack, Andrew (ngày 4 tháng 7 năm 1993). "Sega Takes Aim at Disney's World" [Sega nhắm vào thế giới của Disney]. The New York Times (bằng tiếng Anh). tr. 3–1. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 McFerran, Damien. "Retroinspection: Master System" [Đánh giá quá khứ: Master System]. Retro Gamer (bằng tiếng Anh) (44). London, UK: Imagine Publishing: 48–53. ISSN 1742-3155.
- 1 2 3 4 5 6 Sato, Hideki; Famitsu DC (ngày 15 tháng 2 năm 2002). "Interview: The Witness of History". セガ・コンシューマー・ヒストリー [Lịch sử người tiêu dùng Sega]. Famitsu Books (bằng tiếng Nhật). Enterbrain. tr. 22–25. ISBN 978-4-75770789-4. (Bản dịch tiếng Anh bởi Shmuplations. Lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại Wayback Machine).
- ↑ Plunkett, Luke (ngày 27 tháng 2 năm 2012). "The Story of Sega's First Ever Home Console" [Câu chuyện về máy chơi game tại gia đầu tiên của Sega]. Kotaku (bằng tiếng Anh). Gawker Media. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2014.
- 1 2 3 4 5 Parkin, Simon (ngày 2 tháng 6 năm 2014). "A history of video game hardware: Sega Master System" [Lịch sử phần cứng trò chơi điện tử: Sega Master System]. Edge (bằng tiếng Anh). Future plc. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
- ↑ Sato (ngày 18 tháng 9 năm 2013). "Sega's Original Hardware Developer Talks About The Company's Past Consoles" [Nhà phát triển phần cứng gốc của Sega nói về các máy chơi game trong quá khứ của công ty]. Siliconera (bằng tiếng Anh). Curse LLC. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Plunkett, Luke (ngày 19 tháng 1 năm 2017). "The Story of Sega's First Console, Which Was Not The Master System" [Câu chuyện về máy chơi game đầu tiên của Sega, vốn không phải là Master System]. Kotaku (bằng tiếng Anh). Gizmodo Media Group. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Wolf, Mark (2012). Encyclopedia of Video Games: The Culture, Technology, and Art of Gaming · Volume 1 [Bách khoa toàn thư về trò chơi điện tử: Văn hóa, Công nghệ và Nghệ thuật chơi game · Tập 1] (bằng tiếng Anh). Greenwood Publishing Group. tr. 553. ISBN 9780313379369.
- 1 2 3 4 5 6 7 Horowitz, Ken (2016). Playing at the Next Level: A History of American Sega Games [Chơi ở đẳng cấp tiếp theo: Lịch sử các trò chơi Sega của Mỹ] (bằng tiếng Anh). McFarland & Company. tr. 4–15. ISBN 9781476625577.
- 1 2 "Bruce Lowry: The Man That Sold the NES" [Bruce Lowry: Người đàn ông bán NES]. Game Informer (bằng tiếng Anh). Quyển 12 số 110. GameStop. tháng 6 năm 2002. tr. 102–103.
- ↑ Horowitz, Ken (2016). Playing at the Next Level: A History of American Sega Games [Chơi ở đẳng cấp tiếp theo: Lịch sử các trò chơi Sega của Mỹ] (bằng tiếng Anh). McFarland & Company. tr. 6–15. ISBN 9781476625577.
- ↑ "New, Advanced Videogame Systems Revealed" [Hệ thống trò chơi điện tử mới, tiên tiến được tiết lộ]. Computer Entertainer (bằng tiếng Anh). Quyển 5 số 3. tháng 6 năm 1986. tr. 1.
- 1 2 3 4 5 6 Beuscher, David. "Sega Master System – Overview" [Sega Master System – Tổng quan]. AllGame (bằng tiếng Anh). All Media Network. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014.
- 1 2 Takiff, Jonathan (ngày 20 tháng 6 năm 1986). "Video Games Gain In Japan, Are Due For Assault On U.S." [Trò chơi điện tử thu lợi ở Nhật Bản, chuẩn bị tấn công thị trường Mỹ]. The Vindicator (bằng tiếng Anh). tr. 2. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012.
- ↑ Advokat, Stephen (ngày 30 tháng 1 năm 1987). "Consumers eat up successors to Pac-Man; video games being gobbled up" [Người tiêu dùng háo hức với những sản phẩm kế nhiệm Pac-Man; trò chơi điện tử đang bị càn quét]. Detroit Free Press (bằng tiếng Anh). tr. 2B. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020 – qua Newspapers.com.
Sega came on the scene late, offering its Master System ($150) in late September. Even so, it sold more than 250,000 units by Christmas.
- ↑ Sharpe, Roger (ngày 26 tháng 12 năm 1987). "Sega Challenge Travels Cross-Country Promoting Video" [Sega Challenge du hành xuyên quốc gia để quảng bá trò chơi điện tử]. Cashbox (bằng tiếng Anh). Quyển 51 số 27. tr. 126.
- ↑ Sharpe, Roger (ngày 22 tháng 8 năm 1987). "Sega Makes News with Tonka Toy Announcement" [Sega lên tin tức với thông báo về đồ chơi Tonka]. Cashbox (bằng tiếng Anh). tr. 35–36.
- 1 2 Hewison, Richard. "From the Archives: Virgin Games, Part 1" [Từ kho lưu trữ: Virgin Games, Phần 1]. Retro Gamer (bằng tiếng Anh) (84). London, UK: Imagine Publishing: 50–55. ISSN 1742-3155.
- ↑ "Ariola Sega link" [Mối liên kết Ariola Sega]. Popular Computing Weekly (bằng tiếng Anh). Quyển 5 số 37. ngày 11 tháng 9 năm 1986. tr. 6.
- ↑ "News" [Tin tức]. Computer and Video Games (bằng tiếng Anh). Số 62. tháng 12 năm 1986. tr. 9.
- ↑ "The master" [Bậc thầy]. Your Computer (bằng tiếng Anh). Quyển 6 số 12. tháng 12 năm 1986. tr. 19.
- ↑ "Mastertronic Ends Sega Saga" [Mastertronic kết thúc kỷ nguyên Sega]. Popular Computing Weekly (bằng tiếng Anh). Quyển 6 số 22. ngày 5 tháng 6 năm 1987. tr. 10.
- 1 2 3 McFerran, Damien (ngày 22 tháng 7 năm 2014). "Hardware Classics: Sega Master System" [Phần cứng kinh điển: Sega Master System]. Nintendo Life (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
- ↑ "Rent a Sega" [Thuê một chiếc Sega]. New Computer Express (bằng tiếng Anh). Số 56. ngày 2 tháng 12 năm 1989. tr. 2.
- ↑ "The rise and rise of Nintendo" [Sự vươn lên không ngừng của Nintendo]. New Computer Express (bằng tiếng Anh). Số 39 (5 August 1989). ngày 3 tháng 8 năm 1989. tr. 2.
- 1 2 "The Complete Machine Guide" [Hướng dẫn máy chơi game hoàn chỉnh]. Computer + Video Games: Complete Guide to Consoles (bằng tiếng Anh). Quyển 4. tháng 11 năm 1990. tr. 7–23.
- 1 2 "Segas sell better than Nintendos - official!" [Sega bán chạy hơn Nintendo - chính thức!]. Sega Power (bằng tiếng Anh). Số 18. tháng 5 năm 1991. tr. 6.
- 1 2 3 4 Sponsel, Sebastian (ngày 16 tháng 11 năm 2015). "Interview: Stefano Arnhold (Tectoy)" [Phỏng vấn: Stefano Arnhold (Tectoy)]. Sega-16 (bằng tiếng Anh). Ken Horowitz. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2015.
- ↑ "Tec Toy lança no País o videogame Mega Drive" [Tec Toy ra mắt máy chơi game Mega Drive tại Việt Nam]. O Estado de S.Paulo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Quyển 111 số 35513. São Paulo: Grupo Estado. ngày 22 tháng 11 năm 1990. tr. 81. ISSN 1516-2931. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Estrela e Gradiente trazem jogos Nintendo" [Estrela và Gradiente mang đến trò chơi Nintendo]. Folha de S.Paulo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Quyển 73 số 23360. São Paulo: Grupo Folha. ngày 18 tháng 3 năm 1993. tr. 2–13. ISSN 1414-5723. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016.
- 1 2 Szczepaniak, John (tháng 11 năm 2006). "Company Profile: Tec Toy" [Hồ sơ công ty: Tec Toy]. Retro Gamer (bằng tiếng Anh). Số 30. Imagine Publishing. tr. 50–53. ISSN 1742-3155.
- ↑ VIDEO GAMES AROUND THE WORLD EDITED BY MARK J.P. WOLF, Published by MIT Press, 2015, P.388
- ↑ Biggs, Tim (ngày 11 tháng 7 năm 2017). "Nintendo's NES launched 30 years ago this month in Australia, or did it?" [NES của Nintendo ra mắt cách đây 30 năm trong tháng này ở Úc, hay không phải?]. The Sydney Morning Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2021.
- ↑ Cantlon, Gavin (ngày 17 tháng 11 năm 1991). "Cut-throat selling in video games" [Cạnh tranh khốc liệt trong ngành trò chơi điện tử]. The Sydney Morning Herald (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020 – qua Newspapers.com.
Ozi Soft, [sic] has been distributing Sega video games since 1988 and also offers computer games. Christina Caddy, the company's public relations manager, said that last year it sold 250,000 units of the Sega Master system [sic], which carried an eight-bit console, at a recommended retail price of $99.
- ↑ McGill, Douglas C. (ngày 4 tháng 12 năm 1988). "Nintendo Scores Big" [Nintendo thắng lớn]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2009.
- ↑ Harris, Blake J. (2014). Console Wars: Sega, Nintendo, and the Battle That Defined a Generation [Cuộc chiến máy chơi game: Sega, Nintendo và trận chiến định hình một thế hệ] (bằng tiếng Anh). New York, New York: HarperCollins. tr. 386. ISBN 978-0-06-227669-8.
- ↑ Sato (ngày 18 tháng 9 năm 2013). "Sega's Original Hardware Developer Talks About The Company's Past Consoles" [Nhà phát triển phần cứng gốc của Sega nói về các máy chơi game trong quá khứ của công ty]. Siliconera (bằng tiếng Anh). Curse LLC. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Fahs, Travis (ngày 21 tháng 4 năm 2009). "IGN Presents the History of Sega (page 4)" [IGN trình bày Lịch sử của Sega (trang 4)]. IGN (bằng tiếng Anh). Ziff Davis. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Sczepaniak, John (2006). "Retroinspection: Mega Drive" [Đánh giá quá khứ: Mega Drive]. Retro Gamer (bằng tiếng Anh) (27). London, UK: Imagine Publishing: 42–47. ISSN 1742-3155.
- ↑ "16-Bit Hits – New video games offer better graphics, action" [Sức nóng 16-Bit – Trò chơi điện tử mới mang đến đồ họa và hành động tốt hơn]. Minneapolis Star Tribune (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 10 năm 1991. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014 – qua NewsBank.
- ↑ "Company News; Nintendo Suit by Atari Is Dismissed" [Tin tức công ty; Vụ kiện Nintendo của Atari bị bác bỏ]. The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 5 năm 1992. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2014.
- 1 2 3 Thorpe, Nick (ngày 22 tháng 3 năm 2014). "The History of Sonic on the Master System" [Lịch sử Sonic trên Master System]. Retro Gamer (bằng tiếng Anh) (179): 46–51.
- ↑ "Finance & Business" [Tài chính & Kinh doanh]. Screen Digest (bằng tiếng Anh). tháng 3 năm 1995. tr. 56–62. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Total 8-bit and 16-bit Cartridge Consoles: Active installed base estimates" [Tổng số máy chơi game băng 8-bit và 16-bit: Ước tính cơ sở lắp đặt hoạt động]. Screen Digest (bằng tiếng Anh). Screen Digest Ltd.: 61 tháng 3 năm 1995. (cf. here Lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2017 tại Wayback Machine and here Lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2017 tại Wayback Machine)
- 1 2 3 Szczepaniak, John (2006). "Company Profile: Tec Toy" [Hồ sơ công ty: Tec Toy]. Retro Gamer (bằng tiếng Anh) (30). London, UK: Imagine Publishing: 50–53. ISSN 1742-3155.
- ↑ Azevedo, Theo (ngày 30 tháng 7 năm 2012). "Vinte anos depois, Master System e Mega Drive vendem 150 mil unidades por ano no Brasil" [Hai mươi năm sau, Master System và Mega Drive bán được 150.000 máy mỗi năm tại Brasil]. UOL (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Smith, Ernie (ngày 27 tháng 7 năm 2015). "Brazil Is An Alternate Video Game Universe Where Sega Beat Nintendo" [Brasil là một vũ trụ trò chơi điện tử song song nơi Sega đánh bại Nintendo]. Atlas Obscura (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017.
- 1 2 3 4 5 "Retroinspection: Sega Game Gear". Retro Gamer (41). London, UK: Imagine Publishing: 78–85. 2009. ISSN 1742-3155.
- ↑ "SMS 2 RGB". www.smspower.org.
- ↑ Ransom-Wiley, James (ngày 26 tháng 10 năm 2006). "Coleco Tiptoes Back with Sega-filled Handheld". Joystiq. AOL. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
- ↑ "Sega Mark III Controllers" [Tay cầm Sega Mark III]. Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Lưu trữ bản gốc tháng 8 3, 2014. Truy cập tháng 2 12, 2014.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Buchanan, Adam (tháng 7 năm 2013). "The Collector's Guide: Sega Master System" [Hướng dẫn của người sưu tầm: Sega Master System]. Retro Gamer (bằng tiếng Anh). tr. 20–31.
- ↑ "SegaScope 3-D". Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Lưu trữ bản gốc tháng 4 7, 2014. Truy cập tháng 2 12, 2014.
- ↑ "Telecon Pack". Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Lưu trữ bản gốc tháng 8 3, 2014. Truy cập tháng 2 12, 2014.
- ↑ Buchanan, Levi (ngày 9 tháng 10 năm 2008). "Remember Game Gear?" [Bạn còn nhớ Game Gear không?]. IGN. Ziff Davis. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
- ↑ Beuscher, David. "Sega Game Gear – Overview" [Sega Game Gear – Tổng quan]. AllGame. All Media Network. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013.
- ↑ Dandumont, Pierre (ngày 26 tháng 11 năm 2017). "Ces jeux Game Gear qui sont en fait des jeux Master System" [Những trò chơi Game Gear thực chất là trò chơi Master System]. journaldulapin.com (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020.
- 1 2 3 4 "Software List" [Danh sách phần mềm]. Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "SK-1100" [SK-1100]. Sega Hardware Encyclopedia (bằng tiếng Nhật). Sega Corporation. Lưu trữ bản gốc tháng 2 22, 2014. Truy cập tháng 2 12, 2014.
- ↑ Semrad, Steve (ngày 2 tháng 2 năm 2006). "The Greatest 200 Videogames of Their Time, Page 8" [200 trò chơi điện tử vĩ đại nhất trong thời đại của chúng, Trang 8]. 1UP.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
- ↑ Mott, Tony (2013). 1001 Video Games You Must Play Before You Die [1001 trò chơi điện tử bạn phải chơi trước khi chết] (bằng tiếng Anh). New York, New York: Universe Publishing. tr. 177. ISBN 978-0-7893-2090-2.
- 1 2 3 Sponsel, Sebastian (ngày 16 tháng 11 năm 2015). "Interview: Stefano Arnhold (Tectoy)" [Phỏng vấn: Stefano Arnhold (Tectoy)]. Sega-16 (bằng tiếng Anh). Ken Horowitz. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2015.
- ↑ Horowitz, Ken (ngày 5 tháng 12 năm 2006). "Interview: Mark Cerny" [Phỏng vấn: Mark Cerny]. Sega-16 (bằng tiếng Anh). Ken Horowitz. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2014.
- ↑ Parkin, Simon (ngày 13 tháng 9 năm 2013). "Sonic the Hedgehog: past, present and future" [Sonic the Hedgehog: quá khứ, hiện tại và tương lai]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014.
They made 40 games in this way ...But by my judgment only two were really worth playing.
- ↑ Totilo, Stephen (ngày 10 tháng 3 năm 2014). "A Candid Talk With Mark Cerny, Who Designed The PS4, Among Other Things" [Cuộc trò chuyện thẳng thắn với Mark Cerny, người thiết kế PS4, cùng những điều khác]. Kotaku (bằng tiếng Anh). Gizmodo Media Group. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014.
- ↑ Kunkel, Bill; Worley, Joyce; Katz, Arnie (tháng 11 năm 1988). "Video Gaming World" [Thế giới trò chơi điện tử]. Computer Gaming World (bằng tiếng Anh). tr. 54. ISSN 0744-6667. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2016.
- ↑ Buchanan, Levi (ngày 25 tháng 1 năm 2008). "Alex Kidd in Miracle World Review" [Đánh giá Alex Kidd in Miracle World]. IGN (bằng tiếng Anh). Ziff Davis. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014.
- ↑ Mott, Tony (2013). 1001 Video Games You Must Play Before You Die [1001 trò chơi điện tử bạn phải chơi trước khi chết] (bằng tiếng Anh). New York, New York: Universe Publishing. tr. 108. ISBN 978-0-7893-2090-2.
- ↑ "Retro Reviews: R-Type" [Đánh giá quá khứ: R-Type]. Game Informer (bằng tiếng Anh). Quyển 12 số 114. GameStop. tháng 10 năm 2002. tr. 114.
- ↑ "Sega expands distribution in Greater China" [Sega mở rộng phân phối tại Đại Trung Hoa.]. Screen Digest (bằng tiếng Anh). Screen Digest Ltd. ngày 1 tháng 3 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
- ↑ "Cruis'n USA and Wonder Boy Now Available on Wii Shop Channel!" [Cruis'n USA và Wonder Boy hiện đã có trên Wii Shop Channel!] (bằng tiếng Anh). Nintendo. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2010.
- ↑ Leupold, Tom (ngày 3 tháng 2 năm 2006). "Games on tap, or 'History of the Gaming World, Part I'" [Trò chơi trên tap, hay 'Lịch sử thế giới game, Phần I']. Oakland Tribune (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2014.
- ↑ "5 Consoles That Lasted The Longest (& 5 That Lasted The Shortest)" [5 máy chơi game tồn tại lâu nhất (& 5 máy tồn tại ngắn nhất)]. Game Rant (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "The 5 longest console lifespans" [5 vòng đời máy chơi game dài nhất]. IGN Africa (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 1 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Adams, Kara Jane (ngày 26 tháng 7 năm 2020). "Sega Master System" [Sega Master System]. Medium (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Leccesse, Donna (ngày 5 tháng 5 năm 1989). "Retailers say video is a dream come true; Nintendo is leading the way to better sales" [Các nhà bán lẻ gọi trò chơi điện tử là giấc mơ có thật; Nintendo đang dẫn đường đến doanh số tốt hơn.]. Playthings (bằng tiếng Anh). Sandow Media LLC. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
- ↑ Steve; Ed; Martin; Sushi-X (tháng 1 năm 1992). "EGM Rates The Systems Of 1992!!!" [EGM xếp hạng các hệ máy của năm 1992!!!]. Electronic Gaming Monthly (bằng tiếng Anh). Sendai Publishing. tr. 74.
- ↑ Steve; Ed; Martin; Sushi-X (tháng 1 năm 1993). "Electronic Gaming Monthly's Buyer's Guide" [Cẩm nang người mua của Electronic Gaming Monthly]. Electronic Gaming Monthly (bằng tiếng Anh). Sendai Publishing. tr. 32.
- ↑ "Consolidated Sales Transition by Region" (PDF). Nintendo. March 2016. Lưu trữ (PDF) từ bản gốc vào ngày 27 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Pearse, Bill (ngày 1 tháng 1 năm 1992). "Nintendo and Sega gear up for battle. (Nintendo of America Inc. and Sega Inc. compete for 16-bit video game market; includes related articles) (Industry Overview)" [Nintendo và Sega chuẩn bị cho trận chiến. (Nintendo of America Inc. và Sega Inc. cạnh tranh trên thị trường trò chơi điện tử 16-bit; bao gồm các bài viết liên quan) (Tổng quan ngành)]. Playthings (bằng tiếng Anh). Sandow Media LLC. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
- ↑ Zackariasson, Peter; Wilson, Timothy L.; Ernkvist, Mirko (2012). "Console Hardware: The Development of Nintendo Wii". The Video Game Industry: Formation, Present State, and Future [Ngành công nghiệp trò chơi điện tử: Sự hình thành, Trạng thái hiện tại và Tương lai] (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 158. ISBN 978-1-138-80383-1.
- ↑ "Sonic Boom: The Success Story of Sonic the Hedgehog" [Sonic Boom: Câu chuyện thành công của Sonic the Hedgehog]. Retro Gamer — the Mega Drive Book (bằng tiếng Anh). London, UK: Imagine Publishing: 31. 2013. ISSN 1742-3155.
- ↑ "Top 25 Videogame Consoles of All Time: SEGA Master System is Number 20" [Top 25 máy chơi game điện tử mọi thời đại: SEGA Master System xếp số 20]. IGN (bằng tiếng Anh). Ziff Davis. 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014.


