RSA (tên lửa)
| RSA | |
|---|---|
RSA được trưng bày tại Startlafette | |
| Loại | Tên lửa phòng không |
| Nơi chế tạo | Thụy Sỹ |
| Lược sử chế tạo | |
| Năm thiết kế | 1946 - 1958 |
| Nhà sản xuất | Oerlikon Contraves |
| Thông số | |
| Khối lượng | Tên lửa: 400 kg, xe phóng: 4000 kg |
| Đường kính | 40 cm |
| Đầu nổ | đầu đạn nặng 40 kg |
| Động cơ | Axit nitric và dầu hỏa |
| Sải cánh | 140 cm |
| Tốc độ | Mach 1,8 |
| Hệ thống chỉ đạo | Beam riding |
| Hệ thống lái | Cánh điều khiển |
| Nền phóng | phương tiện hoặc xe kéo |
RSA là một trong những hệ thống tên lửa đất đối không đầu tiên, được phát triển bởi các công ty Thụy Sĩ Oerlikon-Bührle và Contraves bắt đầu từ năm 1947. Tên lửa này trải qua một quá trình phát triển nhanh chóng với nhiều phiên bản nâng cấp khác nhau và là tên lửa phòng không đầu tiên được chào bán thương mại dưới định danh RSC-50. Hoa Kỳ đã thử nghiệm 25 tên lửa phiên bản RSC-51 có một số phiên bản khác biệt nhỏ dưới tên gọi MX-1868, nhưng không có đơn hàng thương mại nào tiếp theo. Một số phiên bản cải tiến khác cũng được phát triển, bao gồm các phiên bản RSC-54, RSC-56, RSC-57 và RSC/RSD-58, nhưng số lượng bán ra rất hạn chế, chủ yếu phục vụ cho mục đích huấn luyện.
Lịch sử
Bối cảnh
Oerlikon đã trở thành một công ty dẫn đầu trong việc phát triển vũ khí phòng không sau khi mua lại công ty SEMAG vào năm 1924, và sau đó bị Emil Georg Bührle tiếp quản vào năm tiếp theo. Những sản phẩm nổi tiếng nhất của họ là các loại pháo 20 mm Oerlikon, vốn bắt đầu từ SEMAG và được phát triển đáng kể trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ. Vào thời điểm đó, hai phát triển đã được biết đến rộng rãi và sử dụng phổ biến là Oerlikon FF trong vai trò trang bị trên máy bay, và Oerlikon SS, được nhiều lực lượng hải quân sử dụng làm vũ khí phòng không tầm ngắn, và trong biên chế Canada, còn được dùng như vũ khí chống tàu nhẹ và chống tàu ngầm.
Vào giữa thời kỳ chiến tranh, hầu hết các quân đội đi đến kết luận rằng pháo phòng không hầu như vô dụng đối với các mục tiêu bay cao, và sẽ trở nên hoàn toàn vô dụng với sự xuất hiện của động cơ phản lực. Người Đức, Anh và Mỹ đều bắt đầu các nỗ lực phát triển tên lửa dẫn đường để đảm nhận vai trò này, với hy vọng thay thế pháo phòng không hạng nặng. Tuy nhiên, không một thiết kế nào trong số này được đưa vào phục vụ trong chiến tranh, mặc dù tên lửa Wasserfall của Đức là gần nhất với một thiết bị có chất lượng phục vụ thực tế.
Khi chiến tranh kết thúc, thông tin về những phát triển này nhanh chóng lan rộng trong cộng đồng vũ khí, và Oerlikon, cùng một số công ty khác, bắt đầu các chương trình phát triển tên lửa riêng của mình.
Phát triển
Hệ thống RSA được phát triển trong sự hợp tác giữa Oerlikon-Bührle và Contraves, bắt đầu từ năm 1947. Quá trình phát triển diễn ra nhanh chóng, và hệ thống lần đầu tiên được chào bán thương mại vào năm 1950 dưới dạng RSC-50 (nếu tồn tại phiên bản RSB thì không được ghi lại trong những nguồn tài liệu hạn chế về hệ thống này). Quá trình phát triển tiếp tục, và đến năm sau, quân đội Mỹ đã mua hai mươi lăm quả tên lửa RSC-51 được cải tiến nhẹ làm đạn thí nghiệm. Chúng được thử nghiệm dưới tên MX-1868 bởi Trung tâm Phát triển Tên lửa của Không quân tại căn cứ Không quân Holloman vào năm 1952.[1]
Phát triển thêm
Việc phát triển ý tưởng cơ bản vẫn tiếp tục, với các phiên bản phát hành khác nhau là RSC-54, RSC-56, RSC-57 và cuối cùng là RSD-58. Tất cả những phiên bản này đều sử dụng hệ thống dẫn đường tương tự, với sự khác biệt nổi bật hơn ở thiết kế tên lửa.
Sử dụng
Dòng RSA hầu như không được sử dụng trong vai trò phòng không, và chỉ có số lượng rất ít phiên bản trang bị vũ khí được sản xuất. Tuy nhiên, nó được sử dụng một phần như đạn huấn luyện, bằng cách thay thế đầu đạn nổ bằng một hệ thống dù cho phép thu hồi và tái sử dụng tên lửa. Một số lượng nhỏ các thiết kế này được bán cho Thụy Sĩ, Ý, Thụy Điển và Nhật Bản[2]
Mô tả
RSA là một quả tên lửa dài, mảnh với tỉ lệ thon cao, tương tự như các máy bay siêu thanh hiện đại như Concorde. Nó được trang bị bốn cánh hình chữ nhật gần như dạng delta cắt ngắn tại điểm giữa thân tên lửa, và sử dụng điều khiển vectơ lực đẩy để điều hướng. Năng lượng được cung cấp bởi một động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng đốt hỗn hợp axit nitric và dầu hỏa, với nhiên liệu được đẩy vào động cơ nhờ áp suất khí nitơ.
Hệ thống điều khiển sử dụng radar Brown-Boveri và các bộ thu theo dõi chùm tia gắn trên tên lửa. Hệ thống theo dõi chùm tia là một trong những hệ thống đơn giản nhất để triển khai, vì hệ thống trên mặt đất chỉ bao gồm radar theo dõi. Mục tiêu được radar phát hiện và "khóa". Tên lửa được phóng trực tiếp vào đường đi của tia sóng radar, các bộ thu ở phía sau tên lửa nhận tín hiệu radar và giữ cho tên lửa ở giữa chùm tia. Tên lửa sau đó bay trực tiếp về phía mục tiêu miễn là radar vẫn hướng về mục tiêu.
Một nhược điểm của phương pháp này là tín hiệu radar có dạng nón, khiến tên lửa trở nên kém chính xác hơn khi bay ra xa radar. RSA giải quyết vấn đề này bằng cách sử dụng tín hiệu radio thứ hai cho việc theo dõi chùm tia, cho phép radar có góc quét rộng hơn mà không ảnh hưởng đến độ chính xác của tên lửa.
Toàn bộ hệ thống phóng được đặt trên hai khung gắn xe, được điều chỉnh từ khẩu pháo Flab.Kan. 38 cỡ 34 mm, một thiết kế trước chiến tranh, vốn sau này được thay thế bởi dòng pháo nổi tiếng KD cỡ 35 mm trong thời hậu chiến. Một khung giữ radar và ăng-ten dẫn đường trên giá quay, khung còn lại giữ tên lửa trong một cấu trúc hình thang khá phức tạp.
Các phiên bản tiếp theo sử dụng hệ thống dẫn đường tương tự, nhưng thay đổi nhiều hơn về cách gắn tên lửa. Việc gắn đôi khá phổ biến, và các giá phóng nói chung ít phức tạp hơn nhiều so với phiên bản RSA ban đầu.
Tên lửa được thử nghiệm tại Walenstadt, S-chanf, và đèo Oberalp, cũng được cung cấp cho Mỹ và Pháp. Oerlikon-Bührle đã phát triển hệ thống này, trở thành cơ sở cho việc phát triển hệ thống tên lửa RSC/D, còn được gọi là RSD 58. Một tên lửa RSA cùng với giá phóng tên lửa của nó hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Hàng không – Phòng không Dübendorf.
Giá phóng
- Khung gầm của pháo phòng không cỡ 34 mm Flab.Kan. 38
- Chiều dài = 6,5 m
- Chiều rộng = 2,0 m
- Chiều cao = 1,5 m (trong chế độ di chuyển)
Radar theo dõi mục tiêu và chiếu xạ radar
Được gắn trên khung kéo của pháo 34 mm Flab 38, radar theo dõi và chiếu xạ mục tiêu có một hệ thống căn chỉnh ba trục cho ăng-ten theo dõi và chiếu xạ. Hệ thống có khả năng theo dõi chính xác các mục tiêu phía trên. Tên lửa tự dẫn tới trung tâm của chùm tia radar dẫn đường. Radar này được chế tạo bởi Contraves AG và BBC. Hệ thống theo dõi mục tiêu sử dụng radar quét nón và chùm dẫn đường. Nó sử dụng một đèn hiệu quay với bộ phát chính không có gương phản xạ, được điều khiển điện tử theo ba trục định hướng.
- Chiều rộng = 2 m
- Chiều cao (trong chế độ di chuyển) = 3,5 m
- Chiều cao = 4 m
- Trọng lượng = 4 tấn
Ảnh
- Radar dẫn đường/khóa mục tiêu tại Flieger-Flab-Museum
- Tên lửa trên giá phóng trưng bày tại Flieger-Flab-Museum
Tham khảo
Trích dẫn
- ↑ Parsch, Andreas (ngày 1 tháng 7 năm 2007). "Oerlikon/Contraves RSC-51 (MX-1868)". Directory of U.S. Military Rockets and Missiles, Appendix 4: Undesignated Vehicles. Designation-Systems. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
- ↑ "Oerlikon Missiles for Japan?, Flight International, 6 August 1954, p. 168.
Thư mục
- Air Force Center "Fliegermuseum Dübendorf"
- Hugo Schneider: armament and equipment of the Swiss Army since 1817: light and medium anti-aircraft air defence anti-aircraft missiles, Volume 12 of armament and equipment of the Swiss Army since 1817, Author Publisher Stocker-Schmidt, 1982
Link ngoài
Tư liệu liên quan tới Oerlikon Contraves tại Wikimedia Commons