Quốc hội Botswana
Quốc hội Botswana Palamente ya Botswana | |
|---|---|
| Nghị viện khóa XIII | |
| Tập tin:Parliament of Botswana (logo).svg | |
| Dạng | |
| Mô hình | Đơn viện của Nghị viện Botswana |
Thời gian nhiệm kỳ | Không có |
| Lịch sử | |
| Thành lập | 1966 |
| Lãnh đạo | |
Chủ tịch | Dithapelo Keorapetse Từ 7 November 2024 |
Phó Chủ tịch | Helen Manyeneng, UDC Từ 7 tháng 11 năm 2024 |
Duma Boko Từ 1 tháng 11 năm 2024 | |
Leader of the House | Moeti Mohwasa, UDC Từ 19 tháng 11 năm 2024 |
Government Whip | Sam Digwa, UDC Từ 19 tháng 11 năm 2024 |
Lãnh đạo đảng đối lập | Dumelang Saleshando, BCP Từ 11 tháng 11 năm 2024 |
Opposition whip | Caterpillar Hikuama, BCP Từ 11 tháng 11 năm 2024 |
| Cơ cấu | |
| Số ghế | 69 |
| Chính đảng | Chính phủ (49)
Đảng đối lập chính thức (15)
Đảng đối lập khác (4)
Chủ tọa (1)
|
Nhiệm kỳ | 5 năm |
| Bầu cử | |
| Hệ thống đầu phiếu | Đầu phiếu đa số tương đối |
| Bầu cử vừa qua | 30 tháng 10 năm 2024 |
| Bầu cử tiếp theo | Trước tháng 10 năm 2029 |
| Trụ sở | |
| Nhà Quốc hội Gaborone South-East District | |
| Trang web | |
| www | |
Quốc hội Botswana là cơ quan lập pháp đơn viện của Botswana, cấu thành Nghị viện cùng với tổng thống.[2] Quốc hội có nhiệm vụ làm luật, quyết định ngân sách nhà nước, cung cấp bộ trưởng và giám sát chính phủ. Hội đồng Tù trưởng là cơ quan tư vấn của Quốc hội.[3]
Hiện tại, Quốc hội gồm 65 nghị sĩ Quốc hội,[4] trong đó 57 nghị sĩ Quốc hội được bầu trực tiếp từ các khu vực bầu cử đơn thành viên theo hệ thống đầu phiếu đa số tương đối, sáu nghị sĩ Quốc hội do tổng thống đề cử, Quốc hội bầu và tổng thống, chủ tịch Quốc hội là nghị sĩ Quốc hội dựa chức.[5][6]
Từ năm 1965 đến năm 2024, Đảng Dân chủ Botswana là đảng đa số trong Quốc hội.[7][8] Ngoài ra, các học giả khoa học chính trị đôi khi bày tỏ lo ngại về số lượng nữ nghị sĩ Quốc hội ít ỏi và mối liên hệ mật thiết giữa Quốc hội với Chính phủ.[9][10]
Tổ chức
Chủ tịch Quốc hội chủ trì các phiên họp của Quốc hội,[10] nhưng không nhất thiết phải là một nghị sĩ Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội bị miễn nhiệm nếu hai phần ba số nghị sĩ Quốc hội biểu quyết tán thành.[5] Nghị sĩ Quốc hội có thể kiêm nhiệm thành viên Nội các. Luôn luôn có 26 bộ trưởng Nội các trong Quốc hội, trong đó có 8 thứ trưởng,[10] tức là 42% số nghị sĩ Quốc hội đồng thời là thành viên Nội các.[2]
Quốc hội có nhiệm vụ làm luật. Thông thường, tổng thống trình dự luật trước Quốc hội và thành viên Nội các có quyền xem xét trước dự luật. Một số dự luật đã được trình trước Quốc hội thông qua những phương thức khác.[10] Dự luật được thông qua nếu quá nửa số nghị sĩ Quốc hội biểu quyết tán thành. Tổng thống ban hành luật của Quốc hội.[5] Luật của Quốc hội trái với Hiến pháp Botswana có thể bị tòa án tuyên bố hủy bỏ.[10]
Lịch sử
Thời kỳ thuộc địa
Vào thời kỳ thuộc địa, thực dân Anh thành lập Xứ bảo hộ Bechuanaland tại khu vực ngày nay là Botswana và thực hiện chính sách cai trị gián tiếp. Các tù trưởng được trao quyền quản trị địa phương trong suốt thời kỳ thuộc địa.[11] Anh ban đầu không can thiệp sâu vào Bechuanaland so với những thuộc địa khác, một phần là vì thực dân Anh không định cư tại Bechuanaland.[12][13] Năm 1919, chính quyền thuộc địa thành lập Hội đồng Tư vấn Bản xứ. Năm 1920, chính quyền thuộc địa thành lập Hội đồng Tư vấn châu Âu. Hai hội đồng này hoạt động riêng biệt cho đến năm 1956, khi Hội đồng Tư vấn chung được thiết lập. Hội đồng Tư vấn chung không có quyền làm luật, nhưng có thể tranh luận, thảo luận về luật hiện hành.[13] Những hội đồng này không thực sự đại diện cho quyền lợi của người bản xứ và duy trì các chính sách bóc lột kinh tế.[14]
Thời kỳ độc lập
Năm 1959, Công sứ Botswana Peter Fawcus hợp tác với những chính trị gia Botswana nổi bật như Seretse Khama để thành lập Hội đồng Lập pháp.[13][15] Hội đồng Lập pháp có quyền làm luật, gồm mười quan chức, mười người châu Phi, mười người châu Âu và một người châu Á cư trú tại Botswana. Hầu hết các thành viên đại diện cho người châu Phi và người châu Âu đến từ Hội đồng châu Phi và Hội đồng châu Âu mới thành lập.[13] Hội đồng Lập pháp đóng vait rò then chốt trong quá trình độc lập của Botswana.
Năm 1962, Seretse Khama và các thành viên người châu Phi của Hội đồng Lập pháp thành lập Đảng Dân chủ Bechuanaland.[13][16] Sau đó, một nhóm gồm các tù trưởng, cư dân da trắng và thành viên của những đảng mới thành lập của Botswana họp để soạn thảo hiến pháp mới.[13] Trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên vào tháng 3 năm 1965,[12] Đảng Dân chủ Bechuanaland giành được 81% số phiếu bầu và 28 trong số 31 ghế.[13] Botswana trở thành một nước độc lập vào năm 1966.[12]
Kể từ năm 1966, Botswana theo hệ thống đa đảng và đã có năm cuộc chuyển giao quyền lực thống hòa bình.[12][17] Đảng Dân chủ Bechuanaland đổi tên thành Đảng Dân chủ Botswana và là đảng đa số trong Quốc hội cho đến năm 2024.[4][12][16]
Bầu cử
Bầu cử Quốc hội được tổ chức theo hệ thống đầu phiếu đa số tương đối.[9][10] Ban đầu, phiếu bầu là đĩa màu, mỗi màu tương ứng với một ứng cử viên. Từ năm 1999, phiếu bầu chuyển sang phiếu giấy.[18] Trong một cuộc khảo sát, 89% người trả lời cho biết họ không bị áp lực từ bên ngoài khi đi bầu cử Quốc hội.[19]
Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 5 năm. Cuộc bầu cử Quốc hội gần nhất được tổ chức vào năm 2024.[4][13] Một số đảng tổ chức bầu cử sơ bộ để chọn ứng cử viên nghị sĩ Quốc hội, nhưng pháp luật không yêu cầu tổ chức bầu cử sơ bộ. Hiện tại, Quốc hội không áp dụng hạn ngạch giới đối với số nữ nghị sĩ Quốc hội.[9] Trong một cuộc khảo sát gần đây, 48% ủng hộ áp dụng hạn ngạch giới, 47% phản đối.[19]
Ứng cử viên nghị sĩ Quốc hội phải là công dân Botswana, đủ 18 tuổi trở lên, đã đăng ký cử tri, có khả năng đọc, nói tiếng Anh[5] và không thuộc những trường hợp mất tư cách ứng cử, ví dụ như phá sản, mất trí hoặc bị phạt tù hơn sáu tháng. Ứng cử viên nghị sĩ Quốc hội cũng không được kiêm nhiệm thành viên Hội đồng Tù trưởng hoặc là cán bộ giám sát bầu cử.[5]
Thành phần các khóa Quốc hội
| Tổng số ghế | ||||||||||||||
| 1965 |
| 31 | |||||||||||||
| 1969 |
| 31 | |||||||||||||
| 1974 |
| 32 | |||||||||||||
| 1979 |
| 32 | |||||||||||||
| 1984 |
| 34 | |||||||||||||
| 1989 |
| 34 | |||||||||||||
| 1994 |
| 40 | |||||||||||||
| 1999 |
| 40 | |||||||||||||
| 2004 |
| 57 | |||||||||||||
| 2009 |
| 57 | |||||||||||||
| 2014 (Với Chiếc ô cho sự Thay đổi Dân chủ) |
| 57 | |||||||||||||
| 2019 (Với Chiếc ô cho sự Thay đổi Dân chủ) |
| 57 | |||||||||||||
| 2024 (Với Chiếc ô cho sự Thay đổi Dân chủ) |
| 61 | |||||||||||||
Xem thêm
Ghi chú
- ↑
- Mặt trận Dân tộc Botswana (23)
- Alliance for Progressives (6)
- Đảng Nhân dân Botswana (3)
- Chính khách độc lập (4)
Tham khảo
- 1 2 "FAQs". parliament.gov.bw. Parliament of Botswana. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2021.
2 are Ex-officios being the President and The Speaker
- 1 2 Botlhale, Emmanuel; Lotshwao, Kebapetse (2013). "The Uneasy Relationship Between Parliament and the Executive in Botswana". Botswana Notes and Records. 45: 39–51. JSTOR 90024373.
- ↑ Norton, Philip (ngày 21 tháng 12 năm 2004). "How many bicameral legislatures are there?". The Journal of Legislative Studies. 10 (4): 1–9. doi:10.1080/1357233042000322436. S2CID 143950774.
- 1 2 3 "Botswana's ruling party BDP wins general election: Chief justice". www.aljazeera.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.
- 1 2 3 4 5 "Botswana 1966 (rev. 2016) Constitution - Constitute". www.constituteproject.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Office-Bearers & Members". www.parliament.gov.bw. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2022.
- ↑ Poteete, Amy R. (2012). "Electoral competition, factionalism, and persistent party dominance in Botswana". The Journal of Modern African Studies. 50 (1): 75–102. doi:10.1017/S0022278X11000619. JSTOR 41474960. S2CID 154672233.
- ↑ "Botswana: législatives sur fond de crise économique – Jeune Afrique". JeuneAfrique.com (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2022.
- 1 2 3 Bauer, Gretchen (2010). "'Cows Will Lead the Herd into a Precipice': Where Are the Women MPs in Botswana?". Botswana Notes and Records. 42: 56–70. JSTOR 23237971.
- 1 2 3 4 5 6 Sebudubudu, David; Maripe, Bugalo; Botlhomilwe, Mokganedi Z.; Malila, Ikanyeng S. (2013). "The Mutation of Parliament into a 'Registration Chamber': Executive Dominance over the Legislature in Botswana". The African Review: A Journal of African Politics, Development and International Affairs. 40 (2): 33–59. JSTOR 45341655.
- ↑ Harden, Blaine (ngày 24 tháng 4 năm 1988). "A Lesson for Africa—Democracy Works: A Lesson for Africa". The Washington Post. tr. 57. ProQuest 139741948.
- 1 2 3 4 5 Tesfahun, Amsalu Tebeje (2015). "The Endurance and Decline of Single Party Dominance in African States: A Case Study of Botswana and Senegal". Ethiopian Journal of the Social Sciences and Humanities (bằng tiếng Anh). 11 (1): 1–28.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Lewis, Stephen R. Jr. "Explaining Botswana's Success: The Importance of Culture - Carleton College". www.carleton.edu (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Opalo, Ken Ochieng' (2019). Legislative development in Africa : politics and postcolonial legacies. Cambridge. ISBN 978-1-108-68465-1. OCLC 1108755974.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ↑ Kachip, Sitinga; e (ngày 17 tháng 8 năm 2015). "Botswanan or Batswana? It's complicated – Voices of Africa" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2022.
- 1 2 "Khama's hand still rocks Botswana". The Mail & Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Episode 1.7: How Strong Legislatures Emerge, with Ken Opalo". Scope Conditions Podcast (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "BBC News | Africa | Botswana votes for new assembly". news.bbc.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2022.
- 1 2 "Summary of results: Afrobarometer Round 8 survey in Botswana in 2019 | Afrobarometer". afrobarometer.org. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.