Quyền tự quyết kỹ thuật số


Quyền tự quyết kỹ thuật số (Digital self-determination) là một khái niệm liên ngành bắt nguồn từ khái niệm pháp lý về quyền tự quyết và được áp dụng vào lĩnh vực kỹ thuật số, nhằm giải quyết những thách thức độc nhất đối với khả năng tự chủ và sự độc lập, tự quyết, tự làm chủ chính mình của cá nhân và tập thể phát sinh cùng với sự số hóa ngày càng tăng của nhiều khía cạnh trong xã hội và đời sống hằng ngày. Khái niệm này lần đầu tiên được đưa vào một tài liệu chính thức do Cơ quan Quản lý Viễn thông Pháp ARCEP, trong một phần của Báo cáo về Tình trạng Internet năm 2021 do giáo sư Luca Belli chắp bút[1] nhằm khám phá nghiên cứu về "Quyền tự quyết Mạng lưới" (Network Self-determination).[2] Chưa có khái niệm thống nhất về quyền tự quyết kỹ thuật số được chấp thuận về mặt triết học hay pháp lý mà thuật ngữ này mô tả nỗ lực phóng chiếu một cách toàn diện khuôn mẫu về quyền tự quyết của con người (như được khám phá lần đầu tiên trong các kỷ luật như triết học, tâm lý học và pháp luật) vào thời đại kỹ thuật số. Khái niệm tự quyết liên quan đến các khái niệm về tính chủ quan, nhân phẩm và quyền tự trị trong triết học Trung Âu cổ điển và bắt nguồn từ quan niệm về tự do của Immanuel Kant. Quyền tự quyết giả định rằng con người là những thực thể có khả năng suy lý và chịu trách nhiệm cho các hành động được lựa chọn một cách có lý trí và được biện minh của chính họ (quyền tự trị), và nên được đối xử tương xứng. Khi xây dựng mệnh lệnh tuyệt đối (Kategorischer Imperativ) của mình, Kant cho rằng con người, như một điều kiện cho quyền tự trị của họ, không bao giờ được bị đối xử như một phương tiện để đạt được mục đích mà phải được coi như một mục đích tự thân. Tương tự như vậy, khuôn mẫu của quyền tự quyết nhằm mục đích tạo điều kiện cho những con người tự trị có thể tạo ra, lựa chọn và theo đuổi bản sắc, hành động và những lựa chọn cuộc sống của chính họ mà không có sự can thiệp quá đáng.
Đại cương
Trong tâm lý học, khái niệm tự quyết có liên quan chặt chẽ đến sự tự điều chỉnh và động lực nội tại, tức là việc tham gia vào một hành vi hoặc hoạt động vì bản thân việc đó đã mang lại phần thưởng, trái ngược với việc bị thúc đẩy bởi những động lực hoặc áp lực bên ngoài, chẳng hạn như những khuyến khích bằng tiền bạc, địa vị, hoặc nỗi sợ hãi. Trong bối cảnh này, quyền tự quyết và động lực nội tại có liên kết với cảm giác kiểm soát được các lựa chọn và hành vi của chính mình, đồng thời được coi là cần thiết cho sức khỏe tâm lý. Lý thuyết tự quyết (SDT), được giới thiệu lần đầu tiên do công của các nhà tâm lý học Richard Ryan và Eduard Deci vào những năm 1980,[3][4] và được phát triển thêm trong suốt những năm 1990 và 2000, đã có ảnh hưởng lớn đến việc định hình khái niệm tự quyết trong lĩnh vực tâm lý học. Lý thuyết SDT của Ryan và Deci đề xuất rằng hành vi có động cơ của các cá nhân được đặc trưng bởi ba nhu cầu cơ bản và phổ quát: quyền tự trị (autonomy), năng lực (competence), và sự gắn kết (relatedness).[5] Quyền tự trị ở đây đề cập đến nhu cầu cảm thấy tự do trong việc quyết định quá trình hành động của bản thân. Năng lực đề cập đến nhu cầu có đủ khả năng và kỹ năng để đảm nhận và hoàn thành hành vi có động cơ một cách hiệu quả. Cuối cùng, sự gắn kết đề cập đến nhu cầu trải nghiệm những mối quan hệ xã hội ấm áp, đầy sự quan tâm và cảm thấy được kết nối với những người khác. Theo SDT, cả ba nhu cầu này phải được đáp ứng để có được sự hoạt động tối ưu và sức khỏe tâm lý. Tuy nhiên, các nhà tâm lý học khác như Barry Schwartz đã lập luận rằng nếu quyền tự quyết bị đẩy đến mức cực đoan, quyền tự do lựa chọn có thể biến thành "sự chuyên chế của sự lựa chọn" (tyranny of choice).[6]
Khái niệm quyền tự quyết về thông tin (Informational Selbstbestimmung), được coi là một quyền cơ bản hiện đại giúp bảo vệ chống lại việc xử lý dữ liệu phi lý, đã nổi bật trong hệ thống luật học của Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức (Bundesverfassungsgericht) và có thể là tiền thân và nguồn cảm hứng trực tiếp nhất cho khái niệm về quyền tự quyết kỹ thuật số.[7][8] Vào năm 1983, Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức đã ra phán quyết rằng "trong bối cảnh xử lý dữ liệu hiện đại, quyền nhân cách chung theo Điều 2.1 kết hợp với Điều 1.1 của Luật Cơ bản bao gồm việc bảo vệ cá nhân chống lại việc thu thập, lưu trữ, sử dụng và chia sẻ dữ liệu cá nhân không giới hạn. Quyền cơ bản này đảm bảo thẩm quyền được trao cho cá nhân để, về nguyên tắc, tự quyết định việc tiết lộ và sử dụng dữ liệu cá nhân của mình". (Volkszählungsurteil, tóm tắt 1). Về mặt triết học, quyền tự quyết về thông tin bắt nguồn sâu xa từ cách hiểu của Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức về Nhân phẩm bất khả xâm phạm (Điều 1 của Luật Cơ bản - Grundgesetz) như một sự cấm đoán đối với việc vật hóa con người (Objektformel). Cách hiểu này bắt nguồn từ triết học Khai sáng của Đức vào cuối thế kỷ XVIII. Phán quyết Volkszählungsurteil được lấy cảm hứng từ mối lo ngại rằng công nghệ xử lý dữ liệu hiện đại có thể dẫn đến việc "đăng ký và phân loại tính cách của một người theo cách không tương thích với nhân phẩm" (Volkszählungsurteil, tóm tắt 4). Theo quan điểm này, con người, do có nhân phẩm bất khả xâm phạm, có thể không bao giờ bị đối xử như những nguồn tài nguyên bị phi cá nhân hóa và bị vật hóa có thể được thu thập để lấy dữ liệu. Thay vào đó, con người, do có năng lực tự trị, là những tác nhân tự quyết sở hữu một mức độ kiểm soát đáng kể đối với các hình ảnh thông tin của họ.
Hình thành
Sự số hóa ngày càng gia tăng đối với hầu hết các khía cạnh của xã hội đặt ra những thách thức mới cho khái niệm và việc hiện thực hóa quyền tự quyết.[9] Mặc dù không gian kỹ thuật số đã mở ra kỷ nguyên đổi mới và tạo ra những cơ hội mới để tự thể hiện và giao tiếp cho các cá nhân trên toàn cầu, phạm vi tiếp cận và lợi ích của nó không được phân bổ đồng đều, thường khoét sâu thêm những bất bình đẳng và cấu trúc quyền lực hiện có, thường được gọi là khoảng cách kỹ thuật số (Digital divide). Hơn nữa, quá trình chuyển đổi số đã cho phép, mà cá nhân thường không hay biết, việc các công ty tư nhân và chính phủ thu thập, phân tích và khai thác dữ liệu cá nhân hàng loạt để suy ra thông tin và sở thích của cá nhân (ví dụ: bằng cách theo dõi lịch sử duyệt web và mua sắm), tác động đến ý kiến và hành vi như thông qua cơ chế bong bóng lọc và quảng cáo nhắm mục tiêu), để đưa ra quyết định về họ như phê duyệt hoặc không phê duyệt khoản vay hoặc đơn xin việc, qua đó đặt ra những mối đe dọa mới đối với quyền riêng tư và quyền tự quyết của cá nhân.[10]
Mặc dù định nghĩa về quyền tự quyết kỹ thuật số vẫn đang được phát triển, thuật ngữ này đã được sử dụng để giải quyết khả năng (hoặc sự thiếu khả năng) của con người trong việc thực thi quyền tự quyết đối với sự tồn tại và việc sử dụng của họ trong các phương tiện truyền thông, không gian, mạng lưới và công nghệ kỹ thuật số, với việc bảo vệ tiềm năng cho sự phát triển hưng thịnh của con người trong thế giới kỹ thuật số là một trong những mối quan tâm hàng đầu.[11] Bắt đầu từ những năm 2010, một vài sáng kiến đa ngành và liên ngành trên khắp thế giới đã và đang nỗ lực phát triển một khuôn khổ lý thuyết cho khái niệm quyền tự quyết kỹ thuật số. Vào năm 2015, Trung tâm Đạo đức, Quyền, Kinh tế và Khoa học Xã hội về Sức khỏe Cologne, đặt tại Đại học Köln (CERES) đã tiến hành một nghiên cứu để giúp định nghĩa quyền tự quyết kỹ thuật số và phát triển các số liệu để đo lường mức độ hoàn thành của nó.[12] Báo cáo nghiên cứu của họ định nghĩa quyền tự quyết kỹ thuật số là "sự phát triển cụ thể tính cách của con người hoặc khả năng hiện thực hóa các kế hoạch hành động và quyết định hành động của chính mình, chừng nào điều này liên quan đến việc sử dụng phương tiện kỹ thuật số một cách có ý thức hoặc (đồng) phụ thuộc vào sự tồn tại hoặc hoạt động của các phương tiện kỹ thuật số".
Năm 2017, Giáo sư Luca Belli đã trình bày tại Diễn đàn Quản trị Internet của Liên Hợp Quốc về khái niệm Quyền tự quyết Mạng lưới như là "quyền tự do lập hội nhằm xác định, theo cách thức dân chủ, thiết kế, phát triển và quản lý cơ sở hạ tầng mạng lưới như một lợi ích chung, để mọi cá nhân đều có thể tự do tìm kiếm, truyền đạt và tiếp nhận thông tin cũng như sự đổi mới".[13] Lập luận rằng quyền tự quyết mạng lưới tìm thấy cơ sở của nó trong quyền cơ bản về quyền tự quyết của các dân tộc cũng như trong quyền tự quyết về thông tin, Belli mặc định rằng quyền tự quyết mạng lưới đóng vai trò then chốt cho phép các cá nhân liên kết và hợp sức để thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số theo cách thức từ dưới lên, tự do phát triển cơ sở hạ tầng chung. Khái niệm này đã đạt được sức hút ở cấp độ Mỹ Latinh, bắt đầu hình thành một yếu tố cốt lõi trong nghiên cứu và các đề xuất chính sách dành riêng cho các mạng lưới cộng đồng.[14]
Vào năm 2018, chính phủ Thụy Sĩ đã ra mắt Mạng lưới Quyền tự quyết Kỹ thuật số (Digital Self-Determination network) để hưởng ứng kế hoạch hành động cho chiến lược Thụy Sĩ Kỹ thuật số (Digital Switzerland) của Hội đồng Liên bang, bao gồm các đại diện từ Cơ quan Hành chính Liên bang Thụy Sĩ, giới học thuật, xã hội dân sự và khu vực tư nhân.[15] Công việc của mạng lưới này khái niệm hóa quyền tự quyết kỹ thuật số như là "một cách thức để nâng cao niềm tin vào quá trình chuyển đổi số trong khi cho phép tất cả các chủ thể của xã hội được hưởng lợi từ tiềm năng của nền kinh tế dữ liệu". Công việc này đề xuất rằng các nguyên tắc cốt lõi của quyền tự quyết kỹ thuật số là tính minh bạch và niềm tin, sự kiểm soát và tự quyết việc chia sẻ dữ liệu, không gian dữ liệu hướng đến người dùng, và các không gian dữ liệu phi tập trung hoạt động gần gũi với nhu cầu của công dân. Công việc của mạng lưới nhằm mục đích "tạo ra một mạng lưới quốc tế đại diện cho các nguyên tắc cơ bản của quyền tự quyết kỹ thuật số và trên cơ sở này sẽ xây dựng các phương pháp thực hành, tiêu chuẩn và thỏa thuận tốt nhất để phát triển các không gian dữ liệu quốc tế".
Vào năm 2021, Cơ quan Quản lý Viễn thông Pháp (ARCEP) đã đề cập đến khái niệm Quyền tự quyết Kỹ thuật số trong báo cáo thường niên chính thức của mình dành riêng cho "Tình hình Internet",[1] dựa trên báo cáo tài liệu đầu ra của Diễn đàn Quản trị Internet (IGF) về "Giá trị của Sự cởi mở của Internet trong Thời kỳ Khủng hoảng".[16] Vào năm 2021, Trung tâm Quản trị AI & Dữ liệu tại Đại học Quản lý Singapore đã khởi động một dự án nghiên cứu lớn tập trung vào khái niệm quyền tự quyết kỹ thuật số, phối hợp với chính phủ Thụy Sĩ và các đối tác nghiên cứu khác.[17] Khuôn khổ lý thuyết của họ[9] tập trung vào quản trị dữ liệu và quyền riêng tư, đồng thời đề xuất rằng các thành phần cốt lõi của quyền tự quyết kỹ thuật số là trao quyền cho các chủ thể dữ liệu để giám sát ý thức về bản ngã của họ trong không gian kỹ thuật số, khả năng quản lý dữ liệu, sự đồng ý như một nền tảng của quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu, bảo vệ chống lại hành vi sử dụng dữ liệu sai trái, cũng như tính chính xác và tính xác thực của dữ liệu được thu thập. Khuôn khổ đề xuất này cũng nhấn mạnh rằng quyền tự quyết kỹ thuật số đề cập đến cả cá nhân và tập thể và khái niệm này nên được hiểu trong bối cảnh "các quyền phụ thuộc vào nghĩa vụ" và song song với các khái niệm về cái tôi mang tính xã hội hoặc quan hệ, trách nhiệm xã hội, và sự đoàn kết kỹ thuật số.
Vào năm 2021, Digital Asia Hub (Trung tâm Kỹ thuật số Châu Á) với sự phối hợp của Trung tâm Berkman Klein tại Đại học Harvard và Mạng lưới Toàn cầu của các Trung tâm Internet & Xã hội, đã tiến hành một đợt chạy nước rút nghiên cứu để khám phá khái niệm quyền tự quyết kỹ thuật số từ các góc độ khác nhau và xuyên suốt các bối cảnh văn hóa. Sáng kiến này tiếp cận quyền tự quyết kỹ thuật số "như một tác nhân thúc đẩy - hoặc ít nhất là người đóng góp - vào việc thực thi quyền tự trị và khả năng tự chủ khi đối mặt với những sự lựa chọn đang bị thu hẹp dần", nhằm giải quyết các câu hỏi về sự kiểm soát, quyền lực và tính công bằng "trong một thế giới ngày càng được kiến tạo, được làm trung gian, và đôi khi thậm chí bị chi phối bởi các công nghệ kỹ thuật số và phương tiện truyền thông kỹ thuật số, bao gồm cả các cơ sở hạ tầng cơ bản".[18]
Ngoài công việc của các chính phủ và trung tâm nghiên cứu, các thành viên xã hội dân sự cũng đã lên tiếng ủng hộ quyền tự quyết kỹ thuật số. Chẳng hạn, Ferdinand von Schirach, một luật sư và là nhà văn người Đức có nhiều độc giả chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết về luật pháp, đã phát động một sáng kiến mang tên "JEDER MENSCH", có nghĩa là "Mọi con người". Trong "JEDER MENSCH", von Schirach kêu gọi bổ sung sáu quyền cơ bản mới vào Hiến chương Các Quyền Cơ bản của Liên minh Châu Âu. Điều 2 của đề xuất này có tiêu đề "quyền tự quyết kỹ thuật số", và đề xuất rằng "Mọi người đều có quyền tự quyết kỹ thuật số. Việc lập hồ sơ quá mức hoặc thao túng con người là bị cấm".[19] Vào tháng 10 năm 2021, một Mạng lưới Quốc tế về Quyền tự quyết Kỹ thuật số (International Network on Digital Self-Determination)[20] đã được thành lập với mục đích "tập hợp các góc nhìn đa dạng từ nhiều lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới để nghiên cứu và thiết kế các cách thức tham gia vào các không gian dữ liệu đáng tin cậy và đảm bảo các cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm".[21] Mạng lưới này bao gồm các chuyên gia từ Tổng cục Luật pháp Quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Liên bang Thụy Sĩ;[22] Trung tâm Quản trị Trí tuệ Nhân tạo và Dữ liệu tại Đại học Quản lý Singapore;[23] Trung tâm Berkman Klein tại Đại học Harvard;[24] Nhóm Thực hành Chính sách Công nghệ Toàn cầu tại Trường Khoa học Xã hội và Công nghệ TUM (Đại học Kỹ thuật München)[25] và The GovLab tại Đại học New York.[26]
Thực tiễn
Các cấu phần khác nhau của xã hội, trải dài từ các nhà lập pháp và các nhà hoạch định chính sách, đến các tổ chức công và các học giả, cho đến các nhà hoạt động và các thành viên của xã hội dân sự, đã kêu gọi về các hệ thống, công cụ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số giúp bảo vệ và thúc đẩy quyền tự quyết của các cá nhân, bao gồm quyền truy cập bình đẳng và tự do, thiết kế lấy con người làm trung tâm, các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư tốt hơn và quyền kiểm soát dữ liệu. Những yếu tố này có liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Chẳng hạn, quyền truy cập bình đẳng vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số có thể tạo điều kiện cho sự đại diện của các quan điểm đa dạng và quản trị có sự tham gia trong không gian kỹ thuật số, và các hệ thống phi tập trung có thể là cần thiết để đảm bảo sự kiểm soát của cá nhân đối với dữ liệu của họ. Việc thu hẹp các hình thức khác nhau của khoảng cách kỹ thuật số đang tồn tại và cung cấp quyền truy cập công bằng, bình đẳng vào công nghệ kỹ thuật số và internet đã được đề xuất là yếu tố mang tính quyết định để đảm bảo rằng tất cả các cá nhân đều có khả năng hưởng lợi từ thời đại kỹ thuật số, bao gồm quyền tiếp cận thông tin, dịch vụ, và các cơ hội thăng tiến.[27][28]
Theo nghĩa này, khái niệm Quyền tự quyết Kỹ thuật số trùng lặp với khái niệm "Quyền tự quyết Mạng lưới"[29] vì nó nhấn mạnh rằng các nhóm gồm những cá nhân không được kết nối và ít được kết nối có thể giành lại quyền kiểm soát đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, bằng cách xây dựng chúng và định hình khuôn khổ quản trị sẽ tổ chức chúng như một lợi ích chung.[30] Vì vậy, Belli nhấn mạnh rằng quyền tự quyết mạng lưới dẫn đến một số tác động ngoại ứng tích cực đối với các cộng đồng bị ảnh hưởng, bảo tồn Internet như một mạng lưới các mạng lưới mở, phân tán, có thể tương tác và có khả năng tạo ra cái mới.[2] Nhà hoạt động Internet Eli Pariser đã đặt ra thuật ngữ bong bóng lọc (filter bubble) để chỉ sự suy giảm về mức độ sẵn có của các ý kiến và hiện thực trái chiều mà chúng ta bắt gặp trực tuyến như một hệ quả của các thuật toán cá nhân hóa chẳng hạn như tìm kiếm được cá nhân hóa và các hệ thống gợi ý.[31] Các bong bóng lọc đã được cho là tạo điều kiện cho một sự hiểu biết méo mó về quan điểm của người khác và thế giới. Đảm bảo một sự đại diện rộng rãi của các hiện thực đa dạng trên các nền tảng kỹ thuật số có thể là một cách để tăng cường sự tiếp xúc với các quan điểm trái chiều và tránh sự cô lập về mặt tri thức vào các bong bóng thông tin.

Hiểu biết về kỹ thuật số (Digital literacy) và hiểu biết về truyền thông (Media literacy) đã được đề xuất là cần thiết để các cá nhân có được kiến thức và kỹ năng sử dụng các công cụ kỹ thuật số cũng như để đánh giá một cách có tư duy phản biện những nội dung mà họ gặp trực tuyến, tạo ra nội dung của riêng họ, và hiểu được các tính năng và ý nghĩa của công nghệ kỹ thuật số được sử dụng trên họ cũng như công nghệ mà họ tương tác một cách có ý thức và tự nguyện.[32] Ngoài các kỹ năng điều hướng kỹ thuật số cơ bản và việc tiêu thụ thông tin có tư duy phản biện, các định nghĩa về hiểu biết về kỹ thuật số đã được mở rộng để bao gồm nhận thức về các lựa chọn thay thế hiện có đối với các dịch vụ và nền tảng kỹ thuật số được sử dụng, sự hiểu biết về cách xử lý dữ liệu cá nhân, nhận thức về quyền và các biện pháp bảo vệ pháp lý hiện có, cũng như các biện pháp để bảo vệ độc lập bảo mật và quyền riêng tư trực tuyến của cá nhân (như việc áp dụng các kỹ thuật làm xáo trộn như một cách để né tránh và phản đối sự giám sát kỹ thuật số[33]).
Các học giả đã đặt ra thuật ngữ nền kinh tế chú ý (attention economy) để chỉ việc coi sự chú ý của con người như một loại hàng hóa khan hiếm trong bối cảnh lượng thông tin và sản phẩm ngày càng tăng. Theo quan điểm này, sự cạnh tranh ngày càng tăng đối với sự chú ý có hạn của người dùng, đặc biệt là khi dựa vào các mô hình doanh thu quảng cáo, tạo ra một mục tiêu cấp bách cho các nền tảng kỹ thuật số là khiến càng nhiều người càng tốt dành ra càng nhiều thời gian và sự chú ý càng tốt để sử dụng dịch vụ hoặc sản phẩm của họ. Trong nỗ lực tìm kiếm sự chú ý khan hiếm của người dùng, những nền tảng này sẽ bị thôi thúc để khai thác những điểm yếu về mặt nhận thức và cảm xúc của người dùng, ví dụ như thông qua các thông báo liên tục, mô hình đen tối (dark pattern), sự ép buộc đa nhiệm, sự so sánh xã hội, và các nội dung mang tính kích động.[10] Những người ủng hộ thiết kế lấy con người làm trung tâm trong công nghệ (hoặc công nghệ nhân văn) đề xuất rằng công nghệ nên kiềm chế các hoạt động "đánh cắp não bộ" như vậy, mà thay vào đó nên hỗ trợ khả năng tự chủ của người dùng đối với thời gian và sự chú ý của họ cũng như sức khỏe tổng quát của họ.[34]
Quản trị dữ liệu
Học giả Shoshana Zuboff đã phổ biến thuật ngữ Chủ nghĩa tư bản giám sát (Surveillance capitalism) để chỉ việc khu vực tư nhân đã thương mại hóa dữ liệu cá nhân của người dùng vì lợi nhuận (chẵng hạn như thông qua quảng cáo nhắm mục tiêu), dẫn đến sự gia tăng về tính dễ bị tổn thương trước sự giám sát và khai thác. Chủ nghĩa tư bản giám sát dựa vào các mô hình quản lý dữ liệu tập trung, trong đó các công ty tư nhân giữ quyền sở hữu và kiểm soát đối với dữ liệu của người dùng. Để bảo vệ khỏi những thách thức đối với quyền riêng tư và quyền tự quyết của cá nhân, nhiều mô hình quản trị dữ liệu thay thế khác nhau gần đây đã được đề xuất trên khắp thế giới, bao gồm các mô hình tín thác (trust),[35] nguồn lực chung (common),[36] hợp tác xã (cooperative),[37] tập thể cộng tác (collaborative),[38] người được ủy thác (fiduciary),[39] và "các khoang lưu trữ" (pod).[40] Các mô hình này có một số điểm trùng lặp và chia sẻ một sứ mệnh chung là trao nhiều quyền kiểm soát hơn cho cá nhân đối với dữ liệu của họ, qua đó giải quyết sự mất cân bằng quyền lực hiện tại giữa những người nắm giữ dữ liệu và các chủ thể dữ liệu.[41]
Các vấn đề
Tự chủ
Việc thực thi khả năng tự chủ của một cá nhân có thể gắn liền mật thiết với các môi trường kỹ thuật số mà người đó tham gia, vốn có thể định hình kiến trúc lựa chọn, sự tiếp cận với thông tin và cơ hội cũng như sự tiếp xúc với các tác hại và sự bóc lột của người đó, do đó ảnh hưởng đến khả năng điều hành cuộc sống của cá nhân đó một cách tự do và tự trị. Một loạt các công nghệ kỹ thuật số và cơ sở hạ tầng cơ bản của chúng, bất kể giao diện người dùng của chúng có tương đối rõ ràng hay gián tiếp hay không, có thể góp phần tạo ra các điều kiện củng cố hoặc làm suy yếu quyền tự quyết của một cá nhân trong các lĩnh vực tham gia vào kinh tế xã hội, thể hiện bản sắc văn hóa và sự biểu đạt chính trị. Phạm vi của các không gian được công nghệ làm trung gian nơi ảnh hưởng như vậy có thể diễn ra đối với các lựa chọn tự quyết của một cá nhân là tâm điểm của các cuộc tranh luận đương đại ngày càng tăng ở khắp các vùng địa lý khác nhau. Một trong những cuộc tranh luận liên quan đến việc liệu quyền riêng tư của cá nhân, như một hình thức kiểm soát thông tin của chính mình,[42] có thể được bảo vệ một cách đầy đủ hay không khỏi việc thu thập siêu dữ liệu mang tính bóc lột và quảng cáo nhắm mục tiêu theo người dùng (nhắm mục tiêu vi mô) vốn có thể gây ra ảnh hưởng hành vi không chính đáng đối với cá nhân đó như là một phần của nhóm mục tiêu.
Sự phát triển trong lĩnh vực này rất đa dạng giữa các quốc gia và khu vực nơi có các khuôn khổ quyền riêng tư và chính sách dữ liệu lớn khác nhau, chẳng hạn như Quy định Chung về Bảo vệ Dữ liệu của Liên minh Châu Âu và Hệ thống Tín nhiệm Xã hội của Trung Quốc,[43] những khu vực tiếp cận dữ liệu cá nhân một cách hoàn toàn khác biệt.[44] Các cuộc tranh luận khác xoay quanh việc liệu khả năng tự chủ của cá nhân trong quá trình ra quyết định có thể bị làm suy yếu bởi các thuật toán phân tích dự đoán hay không;[45] liệu một cá nhân lao động, đặc biệt là ở Nam Toàn cầu,[46] có thể gặp phải những cơ hội việc làm mới cũng như những điểm yếu đặc biệt trong nền kinh tế kỹ thuật số; liệu sự tự thể hiện của một cá nhân có thể bị kiểm soát một cách không chính đáng và mang tính phân biệt đối xử bởi các công nghệ giám sát được triển khai trong các Thành phố thông minh hay không, đặc biệt là những công nghệ tích hợp khả năng nhận dạng khuôn mặt và nhận dạng cảm xúc chạy trên dữ liệu sinh trắc học, như một dạng nhà tù hình mẫu (panopticon) kỹ thuật số;[47] và liệu quyền truy cập của một cá nhân vào thông tin đa dạng có thể bị ảnh hưởng bởi khoảng cách kỹ thuật số và sự thống trị của các nền tảng trực tuyến tập trung hay không, điều này có khả năng hạn chế năng lực của một người trong việc hình dung bản sắc của họ[48] và đưa ra các quyết định sáng suốt.
Trẻ em
Phương tiện truyền thông kỹ thuật số và công nghệ kỹ thuật số tiên tiến mang lại cho trẻ em cơ hội tham gia vào các hoạt động khác nhau hỗ trợ sự phát triển, học tập và thời gian vui chơi của các em.[49][50] Các hoạt động này bao gồm vui chơi, tương tác với những người khác, chia sẻ và sáng tạo nội dung, và thử nghiệm các hình thức nhận dạng bản sắc khác nhau được cung cấp bởi các phương tiện mà các em tương tác.[51] Đồng thời, mặc dù phương tiện kỹ thuật số có nhiều tính năng cung cấp (affordances), trẻ em là những người dùng dưới 18 tuổi, điều này có thể dẫn đến những hậu quả ngoài ý muốn đối với cách trẻ em tiêu thụ nội dung, dễ bị tổn thương, và các cách mà sự tương tác với công nghệ ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, hành vi và cảm xúc của trẻ. Do đó, các lời kêu gọi trong khuôn khổ hiểu biết về kỹ thuật số và nghiên cứu về sự tương tác của trẻ em với công nghệ khẳng định rằng thiết kế công nghệ có đạo đức là điều cần thiết để thiết kế các môi trường công bằng cho trẻ em.[52] Công trình nghiên cứu về phương tiện kỹ thuật số và việc học tập thừa nhận các tính năng của công nghệ trong việc tạo ra các cách thức mở rộng cho việc học tập và phát triển của trẻ em, đồng thời, cũng chú ý đến việc trẻ em nên học các kỹ năng hiểu biết kỹ thuật số phản biện, cho phép các em giao tiếp, đánh giá và xây dựng kiến thức bên trong các phương tiện kỹ thuật số.[53]
Hơn nữa, việc cân nhắc về mặt đạo đức nên được đưa vào quá trình xem xét để hỗ trợ quyền tự quyết của trẻ em.[54] Ngoài những cân nhắc về mặt đạo đức, sự tham gia của trẻ em vào các công nghệ kỹ thuật số và các thực tiễn của thị trường kỹ thuật số cũng có mối liên quan quan trọng với các quyền về quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu của các em. Việc sử dụng các phân tích dự đoán và các hệ thống phần mềm theo dõi có thể tác động đến các lựa chọn trong cuộc sống thực và trên kỹ thuật số của trẻ em bằng cách khai thác các hoạt động phân tích hồ sơ (profiling) quy mô lớn. Trên thực tế, do việc sử dụng các hệ thống thuật toán này một cách phổ biến ở cả cấp nhà nước và khu vực tư nhân, quyền riêng tư của trẻ em có thể dễ dàng bị xâm phạm và các em có thể có thể nhận dạng cá nhân trong không gian kỹ thuật số.[55] Điều 12 của Công ước về Quyền Trẻ em của Liên hợp quốc (CRC) ngụ ý một trách nhiệm đối với các quốc gia rằng trẻ em nên có quyền hình thành và bày tỏ quan điểm riêng của mình "một cách tự do, không có bất kỳ áp lực nào".[56]
Trong phân tích theo nghĩa đen, áp lực đề cập đến bất kỳ loại hành vi thao túng, áp bức hoặc bóc lột nào. Các quốc gia thành viên nên công nhận rằng mọi trẻ em bất kể tuổi tác đều có khả năng hình thành và bày tỏ những ý kiến tự chủ của riêng mình.[56] Đồng thời, Ủy ban cũng tuyên bố rằng trẻ em nên có quyền được lắng nghe ngay cả khi các em không có sự hiểu biết toàn diện về vấn đề đang ảnh hưởng đến mình.[56] Hơn nữa, Điều 3 của UNCRC tuyên bố rằng lợi ích tốt nhất của trẻ em sẽ được gắn kết vào các quá trình ra quyết định của tư nhân và chính phủ và sẽ là một xem xét hàng đầu liên quan đến các thủ tục và dịch vụ liên quan đến trẻ em.[57] Neo giữ những trách nhiệm này vào các thực hành kỹ thuật số của công và tư, và như được nhấn mạnh trong Bình luận Chung số 25 của Ủy ban về Quyền trẻ em, trẻ em đang có nguy cơ gặp rủi ro lớn trong lĩnh vực kỹ thuật số đối với bản sắc đang phát triển và dễ bị tổn thương của các em.[58]
Cùng với sự gia tăng của hoạt động giám sát hàng loạt và các phân tích dự đoán, các tranh chấp mới đang trên đà diễn ra đối với các quốc gia trong việc bảo vệ các quyền rất bẩm sinh của trẻ em. Vì mục đích này, các vụ kiện tập thể và nỗ lực quản lý gần đây. Các công ty công nghệ có thể là những ví dụ đầy hứa hẹn trong bối cảnh thúc đẩy khu vực tư nhân áp dụng nhiều phương pháp bảo vệ quyền riêng tư hơn đối với trẻ em, điều này có thể mang lại một tấm khiên vàng cho quyền tự chủ của các em.[59][60]Trong một bầu không khí được quản lý không thận trọng này, việc kiếm lợi nhuận với sự trợ giúp của quảng cáo hành vi nhắm vào trẻ em đã trở nên dễ dàng hơn.[61] Không có các biện pháp cung cấp thông tin/sự đồng ý/sự đồng ý của phụ huynh phù hợp, rất dễ thao túng và khai thác những điểm yếu rất cố hữu của trẻ em và thúc đẩy các em lựa chọn các sản phẩm và ứng dụng cụ thể. Về vấn đề này, điều 8 của Quy định Chung về Bảo vệ Dữ liệu (GDPR) đưa ra một tập hợp các giới hạn độ tuổi đối với việc xử lý dữ liệu cá nhân của trẻ em liên quan đến các dịch vụ xã hội thông tin (ISS). Ngoài GDPR, một trong những quy định được cấu trúc là Quy tắc về Trẻ em của Cơ quan Quản lý Thông tin của Vương quốc Anh (ICO) (tên chính thức là Quy tắc Thiết kế Phù hợp với Độ tuổi), được thông qua vào tháng 9 năm 2020.[62] Quy tắc về Trẻ em của ICO cũng được thấm nhuần khái niệm về lợi ích tốt nhất của trẻ em đã được đặt ra trong UNCRC.[63]
Các tác nhân
Chính trị
Yếu tố chính trị của chủ nghĩa đế quốc vốn đã len lỏi vào những ký ức lịch sử chung. Những quan hệ xã hội bất bình đẳng giữa các dân tộc đi xâm chiếm và các dân tộc bị xâm chiếm được vật chất hóa thông qua sự bóc lột, phân biệt đối xử, bạo lực nhận thức (epistemic violence). Trên toàn thế giới, những diễn ngôn này về chủ nghĩa thực dân đã thống trị các nhận thức và nền văn hóa của các dân tộc. Các nhà phê bình hậu thuộc địa đã tranh luận về cách thức mà các dân tộc bị thuộc địa hóa có thể đạt được quyền tự chủ về văn hóa, kinh tế và xã hội chống lại các cấu trúc và sự đại diện áp bức được áp đặt lên cuộc sống và xã hội của họ.[64] Tuy nhiên, thông qua tính chất thời gian, tiền tố "hậu" (post) ngụ ý rằng thời kỳ lịch sử của sự thuộc địa hóa đã kết thúc, và các thần dân bị thuộc địa hóa giờ đây đã thoát khỏi các diễn ngôn của nó. Các học giả đã tập trung vào tính liên tục của chủ nghĩa thực dân ngay cả khi nó đã kết thúc về mặt lịch sử. Các cấu trúc và diễn ngôn tân thực dân đã là một phần của các nền văn hóa "hậu thuộc địa" khác nhau.[65] Kỷ nguyên hậu thuộc địa mà trong đó các nước bị thuộc địa hóa đã giành được độc lập và tự chủ là một phương tiện để quần chúng nhân dân giành lại quyền tự quyết và tự do cho riêng mình. Tuy nhiên, các cấu trúc tân thực dân vẫn còn tràn lan trong các xã hội hậu thuộc địa. Mặc dù quốc gia-dân tộc có thể thúc đẩy ý tưởng về quyền tự trị và quyền tự quyết, những hình thức thực dân mới vẫn luôn nổi lên.
Biện chứng này giữa chủ nghĩa thực dân và quyền tự quyết bao hàm một loạt các lĩnh vực, thay đổi về hình thức, tiêu điểm và phạm vi theo thời gian. Nó được phản ánh trong các mối quan hệ chính sách và chính trị phức tạp giữa các dân tộc "hậu thuộc địa" và nhà nước, đặc biệt là khi hầu hết các quốc gia đang sao chép hệ thống chính trị và pháp lý của những kẻ thực dân trước đây của họ. Lịch sử chỉ ra rõ ràng rằng chính sách của nhà nước trong các lĩnh vực đa dạng như y tế, giáo dục, nhà ở, công trình công cộng, việc làm và tư pháp đã, và vẫn tiếp tục có những ảnh hưởng tiêu cực đối với người bản địa sau khi giành được độc lập.[66] Tác động tiêu cực này được chia sẻ trên khắp các dân tộc từng bị thuộc địa hóa. Cùng với những căng thẳng chính trị này, các lợi ích kinh tế đã thao túng các khuôn khổ quản trị và pháp lý để lấy đi giá trị và tài nguyên từ các vùng lãnh thổ từng bị thuộc địa hóa, thường là không có sự tham vấn hoặc đền bù thỏa đáng đối với các cá nhân và cộng đồng bị ảnh hưởng.[67] Do đó, Chủ nghĩa Thực dân Kỹ thuật số (Digital Colonialism) nổi lên như một diễn ngôn thống trị trong không gian kỹ thuật số. Chủ nghĩa thực dân số là một hình thức thống trị mang tính cấu trúc được thực thi thông qua quyền sở hữu và kiểm soát tập trung đối với ba trụ cột cốt lõi của hệ sinh thái kỹ thuật số: phần mềm, phần cứng và kết nối mạng. Quyền kiểm soát đối với ba yếu tố sau mang lại cho các tập đoàn khổng lồ một sức mạnh chính trị, kinh tế và xã hội vô cùng to lớn không chỉ đối với các cá nhân, mà thậm chí cả các quốc gia-dân tộc.[68] Sự đồng hóa vào các sản phẩm công nghệ, mô hình và ý thức hệ của các cường quốc nước ngoài cấu thành nên một sự thực dân hóa của kỷ nguyên internet.[69]
Ngày nay, một hình thức thực dân hóa mới của các tập đoàn đang diễn ra. Thay vì chinh phục lãnh thổ, xâm chiếm đất đai, các tập đoàn Big Tech đang thực dân hóa công nghệ kỹ thuật số. Các chức năng sau đây bị chi phối bởi một số ít các công ty đa quốc gia điển hình như công cụ tìm kiếm (Google); trình duyệt web (Google Chrome); hệ điều hành điện thoại thông minh và máy tính bảng (Google Android, Apple iOS); hệ điều hành máy tính để bàn (PC) và máy tính xách tay (Microsoft Windows); phần mềm văn phòng (Microsoft Office, Google Docs); cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và dịch vụ đám mây (Amazon, Microsoft, Google, IBM); nền tảng mạng xã hội (Facebook, Twitter); phần mền vận tải (Uber, Lyft); mạng lưới kinh doanh (Microsoft LinkedIn); video phát trực tuyến (Google YouTube, Netflix, Hulu); và quảng cáo trực tuyến (Google, Facebook) – và các nền tảng khác. Số này bao gồm năm tập đoàn giàu có nhất thế giới, với tổng vốn hóa thị trường vượt quá 3 nghìn tỷ USD.[70] Nếu bất kỳ quốc gia dân tộc nào tích hợp các sản phẩm Big Tech này vào xã hội của họ, các tập đoàn đa quốc gia này sẽ có được sức mạnh to lớn đối với nền kinh tế của quốc gia đó và tạo ra sự phụ thuộc về công nghệ. Điều này giống với thời kỳ Thực dân mà trong đó các thuộc địa bị bắt phải phụ thuộc vào nền kinh tế của kẻ thực dân để tiếp tục bị bóc lột.
Dưới chủ nghĩa thực dân kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số ở Phương Nam Toàn cầu được thiết kế cho nhu cầu của các công ty công nghệ lớn, tạo điều kiện cho sự thống trị về kinh tế và văn hóa trong khi áp đặt các hình thức quản trị được tư nhân hóa.[71] Để hoàn thành nhiệm vụ này, các tập đoàn lớn thiết kế công nghệ kỹ thuật số nhằm đảm bảo sự thống trị của chính họ đối với các chức năng quan trọng trong hệ sinh thái công nghệ. Điều này cho phép họ tích lũy lợi nhuận từ các khoản thu bắt nguồn từ tiền thuê; để thực thi quyền kiểm soát đối với luồng thông tin, các hoạt động xã hội, và hàng loạt các chức năng chính trị, xã hội, kinh tế và quân sự khác sử dụng các công nghệ của họ. Chủ nghĩa thực dân kỹ thuật số phụ thuộc vào mã lập trình (code). Trong cuốn Code: And Other Laws of Cyberspace (Mã lập trình: Và Các Luật Lệ Khác Của Không Gian Mạng), tác giả Lawrence Lessig đã nổi tiếng khi lập luận rằng mã lập trình máy tính định hình các quy tắc, chuẩn mực và hành vi của các trải nghiệm có sự trung gian của máy tính. Kết quả là, "mã lập trình là luật" (Code is law) theo nghĩa là nó có quyền năng chiếm đoạt các chuẩn mực pháp lý, thể chế và xã hội tác động đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa của xã hội. Cái nhìn sâu sắc mang tính phê phán này đã được áp dụng trong các lĩnh vực như bản quyền, quy định về quyền tự do ngôn luận, quản trị Internet, blockchain, quyền riêng tư, và thậm chí cả các hành vi vi phạm pháp luật.[72]
Điều này tương tự như kiến trúc trong không gian vật lý trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân. Việc xây dựng và các cơ sở hạ tầng được xây lên để củng cố sự thống trị và tầm vươn tới của chủ nghĩa thực dân.[73] Do đó, các dân tộc "hậu thuộc địa" phải đối mặt với nhiều hạn chế kỹ thuật số trong việc tiếp cận và sử dụng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật số được kết nối mạng của họ. Điều này đe dọa phản ánh và tái cấu trúc các quan hệ bất bình đẳng xã hội hiện có dựa trên chủ nghĩa thực dân và các quá trình tiếp diễn của chủ nghĩa tân thực dân. Các dân tộc bản địa nhận thức sâu sắc về khả năng này, và vì vậy đang hợp tác với nhiều đối tác khác nhau để phi thực dân hóa không gian kỹ thuật số. Họ đang thực hiện một loạt các dự án đại diện cho các trải nghiệm đa dạng và mang tính địa phương của họ. Các cộng đồng bản địa ở vùng sâu vùng xa và nông thôn phải đối mặt với các vấn đề tiếp cận bền bỉ đối với các công cụ kỹ thuật số có liên quan đến các tác động lịch sử và đang diễn ra của chủ nghĩa thực dân. Các cộng đồng bản địa ở vùng sâu vùng xa đang trở thành ngoại tuyến do thiết kế (offline by design) vì việc trực tuyến của họ đã bị thách thức.[74] Các dân tộc bản địa đang khẳng định quyền tự quyết kỹ thuật số của họ bằng cách sử dụng các nền tảng này để xây dựng cộng đồng trực tuyến, thể hiện các bản sắc ảo, và đại diện cho văn hóa của họ trên mạng ảo. Do đó, họ không còn tĩnh tại như ngoại tuyến nữa, mà trở thành chủ nghĩa cá nhân trên mạng lưới (networked individualism).[75] Sự tham gia của họ vào không gian kỹ thuật số chống lại các sự đại diện áp đặt về bản sắc của họ và phi lãnh thổ hóa các khái niệm về cộng đồng ảo. Theo đó, những dân tộc từng bị thuộc địa hóa luôn tham gia vào quá trình phi thực dân hóa các diễn ngôn tân thực dân/thuộc địa tiềm ẩn đang thống trị internet.
Phân biệt
Phân biệt chủng tộc số hay Apartheid kỹ thuật số (Digital apartheid) cũng là một khái niệm then chốt trong các cuộc tranh luận xoay quanh quyền tự quyết kỹ thuật số. Đối với các tác giả như Christian Fuchs thì Apartheid kỹ thuật số có nghĩa là "các nhóm và khu vực nhất định trên thế giới bị loại trừ một cách có hệ thống khỏi không gian mạng và những lợi ích mà nó có thể tạo ra".[76] Brown và Czerniewicz (2010), dựa trên một dự án nghiên cứu xem xét sự tiếp cận của sinh viên giáo dục đại học ở Nam Phi đối với Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT), đã nhấn mạnh rằng trong khi các khía cạnh về tuổi tác hay thế hệ từng là đặc điểm của các khoảng cách kỹ thuật số, thì giờ đây khoảng cách đó lại là một vấn đề về khả năng tiếp cận và cơ hội, khẳng định rằng ngày nay "Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc kỹ thuật số vẫn đang hiện hữu và hoạt động mạnh mẽ".[77] Vay mượn từ Graham (2011),[78] và mở rộng đến sự đại diện cho các điều kiện xoay quanh giáo dục đại học ở Nam Phi thời hậu Apartheid, Ashton và các cộng sự (2018)[79] đã làm nổi bật khái niệm Apartheid kỹ thuật số như một quá trình đa chiều với ba chiều kích.
Trong đó, một chiều kích vật chất (bao gồm sự tiếp cận với cơ sở hạ tầng, thiết bị, độ phủ sóng mạng di động, điện), một chiều kích kỹ năng (bao gồm di sản giáo dục liên quan đến đào tạo máy tính, vốn xã hội đối với các kỹ năng máy tính của gia đình/cộng đồng), và một chiều kích ảo (bao gồm ngôn ngữ, văn hóa và sự liên quan về mặt ngữ cảnh). Các tác giả lập luận rằng "Chiều kích ảo nảy sinh từ hành động có chủ ý của 'kẻ đường chỉ đỏ kỹ thuật số' (digital redlining) mang một số hình thức. Hành động này có thể dưới chiêu bài bảo vệ một tổ chức khỏi thư rác và các cuộc tấn công mạng độc hại, bất hợp pháp, nhưng lại có kết quả phụ là ngăn chặn hoặc lọc bỏ các cộng đồng chỉ có khả năng truy cập thông qua các cổng thông tin rẻ hơn".[79] Nó cũng bao gồm sự ảnh hưởng của internet bằng tiếng Anh, bị phương Tây hóa, thứ tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng hiển thị của nội dung web. Chiều kích kỹ năng nảy sinh từ sự hiểu biết trong đó các bài học Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) không phải là một phần của chương trình giảng dạy cho đến tận thời gian gần đây và do đó việc phát triển kỹ năng vẫn chưa được tiếp xúc đầy đủ và còn bị hạn chế. Các tác giả đề cập đến chiều kích vật chất như là mối quan tâm được trích dẫn nhiều nhất liên quan đến việc đưa công nghệ vào như một phần của chương trình giảng dạy, lập luận rằng "việc thiếu cơ sở hạ tầng điện lưới ở những khu vực có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn và chi phí dữ liệu cắt cổ, tác động đến khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên học tập của một số sinh viên".[79]
Quy định
Việc thúc đẩy các khái niệm và các quyền liên quan chặt chẽ đến quyền tự quyết kỹ thuật số là một mục tiêu chung đằng sau các sáng kiến quản lý trong nhiều hệ thống pháp lý khác nhau. Bắt nguồn từ khuôn khổ khái niệm của nhân quyền, và một khái niệm đã được thiết lập vững chắc về quyền tự quyết về thông tin, quyền tự quyết kỹ thuật số dần dần đóng một vai trò ngày càng quan trọng như một khái niệm bao hàm các giá trị và đức hạnh vẫn còn rất phù hợp trong bối cảnh của xã hội mạng lưới toàn cầu, chẳng hạn như quyền tự trị, nhân phẩm, và sự tự do. Tầm quan trọng của việc lồng ghép các giá trị cơ bản vào các khuôn khổ lập pháp nhằm quản lý không gian kỹ thuật số đã được các học giả nhấn mạnh rất nhiều lần,[80] cũng như các cơ quan công quyền, và đại diện của nhiều tổ chức khác nhau. Chính sách pháp lý của EU, mặc dù không tham chiếu rõ ràng đến quyền tự quyết kỹ thuật số, vẫn theo đuổi các mục tiêu liên quan chặt chẽ. Một trong những cơ sở bao trùm của Chiến lược Kỹ thuật số Châu Âu (European Digital Strategy) là khuyến khích việc phát triển công nghệ đáng tin cậy "hoạt động vì con người".[81]
Quy định và chính sách này nhằm mục đích thúc đẩy, trong số những thứ khác, "các dịch vụ và quản lý hành chính công kỹ thuật số lấy con người làm trung tâm", cũng như "các nguyên tắc đạo đức cho các thuật toán lấy con người làm trung tâm". Đạo luật Quản trị Dữ liệu và Chỉ thị Dữ liệu Mở của EU với các đề xuất lập pháp nhằm tạo ra các hệ thống chia sẻ dữ liệu đáng tin cậy giúp trao quyền cho công dân EU quyết định về việc chia sẻ dữ liệu của họ trên các lĩnh vực và các Quốc gia Thành viên, đồng thời làm tăng giá trị kinh tế hàng năm của việc chia sẻ dữ liệu tại EU và tạo ra các lợi ích kinh tế và xã hội.[82] Chỉ thị về Bản quyền,[83] nhằm bảo vệ sở hữu trí tuệ và, theo đó, là công trình trí tuệ. Chỉ thị về Dịch vụ Truyền thông Nghe nhìn,[84] điều chỉnh quyền tự do thông tin trong lĩnh vực Dịch vụ Truyền thông Nghe nhìn cũng như trách nhiệm pháp lý của các nền tảng. Hoa Kỳ vẫn chưa ban hành một luật quyền riêng tư thông tin toàn diện; luật liên quan đến dữ liệu và quyền kỹ thuật số hiện đang tồn tại ở cả cấp tiểu bang và liên bang và thường mang tính đặc thù theo ngành. Tại Hoa Kỳ, Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) có nhiệm vụ giám sát việc bảo vệ an ninh và quyền riêng tư kỹ thuật số của người tiêu dùng, phác thảo các nguyên tắc thực hành thông tin công bằng đối với việc quản trị các không gian trực tuyến.[85]
Yếu tố AI

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), không phải là một công nghệ đơn lẻ mà là một tập hợp các công nghệ,[86] đang ngày càng định hình các không gian được làm trung gian bằng công nghệ để các cá nhân và cộng đồng vận hành cuộc sống của họ. Từ tính năng đề xuất thuật toán trong thương mại điện tử[87] và trên các nền tảng mạng xã hội,[88] Giám sát thông minh trong công tác trị an,[89] đến phân bổ nguồn lực tự động trong các dịch vụ công,[90] phạm vi của các ứng dụng AI khả thi có thể ảnh hưởng đến khả năng tự chủ của một cá nhân đang liên tục bị tranh cãi, xem xét đến việc dữ liệu hóa phổ biến đối với cuộc sống của con người trên khắp các lĩnh vực chính trị và kinh tế xã hội ngày nay. Học máy (machine learning), một lĩnh vực con của trí tuệ nhân tạo, "cho phép chúng ta trích xuất thông tin từ dữ liệu và khám phá ra các mô hình mới, và có khả năng biến những dữ liệu có vẻ như vô hại thành dữ liệu cá nhân, nhạy cảm",[91] có nghĩa là tính ẩn danh và quyền riêng tư của một cá nhân có thể dễ bị tổn thương bên ngoài miền dữ liệu gốc, chẳng hạn như việc dữ liệu mạng xã hội của họ bị thu thập cho mục đích tuyên truyền thuật toán trong cuộc bầu cử dựa trên cơ sở nhắm mục tiêu vi mô (micro-targeting).[92]
Một lĩnh vực khác mà hệ thống AI có thể ảnh hưởng đến việc thực thi quyền tự quyết là khi các tập dữ liệu mà trên đó thuật toán được huấn luyện phản ánh các cấu trúc hiện có của sự bất bình đẳng xã hội, qua đó củng cố sự phân biệt đối xử mang tính cấu trúc hạn chế quyền tiếp cận của một số nhóm đối với sự đối xử và các cơ hội công bằng. Tại Hoa Kỳ, một công cụ tuyển dụng bằng AI được Amazon sử dụng đã cho thấy sự phân biệt đối xử đối với các ứng viên xin việc là nữ,[93] trong khi một công cụ lập mô hình dựa trên AI được Bộ Dịch vụ Nhân sinh ở Hạt Allegheny, Pennsylvania, sử dụng để gắn cờ các vụ lạm dụng trẻ em tiềm ẩn đã cho thấy sự phân loại không cân xứng đối với người nghèo và người thiểu số chủng tộc, làm dấy lên những câu hỏi về việc làm thế nào các biến số dự đoán trong thuật toán có thể thường là "những sự trừu tượng hóa" vốn "phản ánh các ưu tiên và những mối bận tâm".[94] Trong những năm gần đây, đã có sự gia tăng mạnh mẽ của các tài liệu hướng dẫn và nguyên tắc cấp cao,[95] đưa ra những đề xuất đối với các chính sách của khu vực công và bộ quy tắc ứng xử của khu vực tư nhân theo cách thức không mang tính ràng buộc. So với các đạo luật mang tính ràng buộc do các quốc gia ban hành, bối cảnh của các nguyên tắc đạo đức AI vẽ nên một bức tranh đa dạng hơn, với các tổ chức chính phủ và phi chính phủ bao gồm các công ty tư nhân, tổ chức học thuật và xã hội dân sự tích cực phát triển hệ sinh thái.
Một báo cáo năm 2020 của Liên Hợp Quốc đã xác định "hơn 160 bộ nguyên tắc quản trị và đạo đức AI ở cấp độ tổ chức, quốc gia và quốc tế trên toàn thế giới, mặc dù không có một nền tảng chung nào để gắn kết những sáng kiến riêng biệt này lại với nhau".[96] Các chủ đề chung của các nguyên tắc AI đã và đang nổi lên khi các nỗ lực nghiên cứu phát triển, với nhiều chủ đề được liên kết chặt chẽ với các điều kiện khác nhau của quyền tự quyết kỹ thuật số, chẳng hạn như quyền kiểm soát đối với dữ liệu của một người, sự bảo vệ khỏi bị đối xử thiên vị, và quyền tiếp cận bình đẳng đối với các lợi ích do AI mang lại. Một báo cáo cũng lưu ý "một khoảng cách rộng và chông gai giữa việc phân định rõ các khái niệm cấp cao này và việc thực sự đạt được chúng trong thế giới thực".[97] Hiện tại, có rất ít nguyên tắc quản trị AI được quốc tế công nhận.[98] Ở cấp độ quốc gia, nhiều chính sách AI của nhà nước có tham chiếu đến các nguyên tắc đạo đức AI, mặc dù theo một cách thức không đồng đều. Những tham chiếu như vậy có thể là các tài liệu độc lập.
Chính phủ Nhật Bản đã thiết lập "Các Nguyên tắc Xã hội của AI Lấy con người làm trung tâm" (Social Principles of Human-Centric AI),[99] vốn gắn liền mật thiết với "Chiến lược AI 2019: AI cho Mọi người: Con người, Các Ngành công nghiệp, Các Khu vực và Các Chính phủ",[100] và một bộ Hướng dẫn Sử dụng AI riêng biệt nhằm khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện và nhấn mạnh rằng AI sẽ được sử dụng để "mở rộng khả năng và sự sáng tạo của con người", sẽ không "xâm phạm đến quyền tự do cá nhân, nhân phẩm hoặc sự bình đẳng của một người", và tuân thủ "nguyên tắc về nhân phẩm con người và sự tự trị của cá nhân".[101] Các nguyên tắc AI cũng có thể được tích hợp vào một chiến lược AI quốc gia, vốn chủ yếu tập trung vào các công cụ chính sách thúc đẩy AI, chẳng hạn như đầu tư vào giáo dục STEM và các quan hệ đối tác công-tư. [102] Các nguyên tắc AI không mang tính ràng buộc do các tác nhân trong hoặc ngoài chính phủ đề xuất đôi khi có thể được cụ thể hóa thành những chính sách hoặc quy định cụ thể.[103] Đại diện về văn hóa và địa lý đã được nêu bật như một thách thức trong việc đảm bảo các chuẩn mực AI đang bùng nổ có xem xét đầy đủ đến các cơ hội và rủi ro độc nhất mà dân số toàn cầu phải đối mặt, những người thực thi quyền tự trị và sự tự do của mình trong các chế độ chính trị rất khác nhau với mức độ pháp quyền (rule of law) khác nhau.[104]
Chú thích
- 1 2 The State of Internet in France (PDF). ARCEP. 2021.
- 1 2 Belli, Luca (2018). "Network self-determination: When building the Internet becomes a right". IETF Journal.
- ↑ Deci, E. L., & Ryan, R. M. (1980). Self-determination theory: When the mind mediates behavior. The Journal of Mind and Behavior, 33-43.
- ↑ Deci, E. L., & Ryan, R. M. (1985). Intrinsic motivation and self-determination in human behavior. New York: Plenum.
- ↑ Ryan, R. M.; Deci, E. L. (2000). "Self-determination theory and the facilitation of intrinsic motivation, social development, and well-being". American Psychologist. 55 (1): 68–78. doi:10.1037/0003-066X.55.1.68 PMID 11392867.
- ↑ Schwartz, B. (2000). Self-determination: The tyranny of freedom. American psychologist, 55(1), 79.
- ↑ Kocharyan, H., & Vardanyan, L. (2024). The Right to Be Forgotten as a Legal Instrument for Expanding Informational Self-Determination in the Digital Age? Constitutional Discourse.https://constitutionaldiscourse.com/the-right-to-be-forgotten-as-a-legal-instrument-for-expanding-informational-self-determination-in-the-digital-age/
- ↑ Vardanyan, Lusine; Hamulak, Ondrej; Kocharyan, Hovsep "Fragmented Identities: Legal Challenges of Digital Identity, Integrity, and Informational Self-Determination" European Studies, vol. 11, no. 1, Sciendo, 2024, pp. 105-121. https://doi.org/10.2478/eustu-2024-0005
- 1 2 Remolina, Nydia and Findlay, Mark James, The Paths to Digital Self-Determination - A Foundational Theoretical Framework (April 22, 2021). SMU Centre for AI & Data Governance Research Paper No. 03/2021, http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3831726
- 1 2 Center for Humane Technology, “Ledger of Harms”, https://ledger.humanetech.com/, accessed May 22, 2021.
- ↑ Berkman Klein Center for Internet and Society at Harvard University, Digital Self-Determination call for participants (2021) <https://cyber.harvard.edu/story/2021-02/call-participants>, accessed May 5, 2021,
- ↑ Cologne center for ethics, rights, economics, and social sciences of health, "Digital self-determination", https://ceres.uni-koeln.de/en/research/projects/digital-self-determination, accessed May 22, 2021,
- ↑ Belli, Luca (2017). "Network Self-Determination and the Positive Externalities of Community Networks". Community Networks: The Internet by the People, for the People. FGV Direito Rio. tr. 24.
- ↑ Community Networks in Latin America: Challenges, Regulations and Solutions. 2018.
- ↑ Internet Governance Forum. Promoting Digital Self-Determination (2020). https://www.intgovforum.org/multilingual/index.php?q=filedepot_download/10271/2243, accessed May 22, 2021,
- ↑ The Value of Internet Openness in Times of Crisis
- ↑ Centre for AI and Data Governance, Singapore Management University, https://caidg.smu.edu.sg/digital-self-determination, accessed May 22, 2021,
- ↑ "Research sprint examines "digital self-determination" in increasingly interconnected world | Berkman Klein Center". cyber.harvard.edu (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Jeder Mensch, “The 6 European Fundamental Rights”, https://www.jeder-mensch.eu/informationen/?lang=en, accessed May 22, 2021.
- ↑ "International Digital Self-Determination Network". International Digital Self-Determination Network.
- ↑ "Announcing the International Digital Self-Determination Network". The GovLab. ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Directorate of International Law, Swiss Federal Department of Foreign Affairs".
- ↑ "Centre for Artificial Intelligence and Data Governance at Singapore Management University".
- ↑ "Berkman Klein Center at Harvard University".
- ↑ "Global Tech Policy Practice at TUM School of Social Sciences and Technology".
- ↑ "The GovLab, New York University".
- ↑ Digital Divide, World Wide Web Foundation, https://webfoundation.org/news/tag/digital-divide/. Retrieved 2021-05-28
- ↑ Closing the Digital Divide, Common Sense Media, https://www.commonsensemedia.org/kids-action/publications/closing-the-k-12-digital-divide-in-the-age-of-distance-learning. Retrieved 2021-05-28
- ↑ Belli, Luca (2019). "La emergencia de las redes comunitarias y del principio de autodeterminación de red: un ejemplo de gobernanza de Internet". Revista de privacidad y derecho digital. 4 (13): 77–112. ISSN 2444-5762.
- ↑ Belli, Luca (2018). "Community Networks: Bridging Digital Divides through the Enjoyment of Network Self-determination". The Community Network Manual: how to build the Internet yourself (PDF). FGV Direito Rio. tr. 23–41. ISBN 978-85-9597-029-8.
- ↑ Pariser, Eli (2011-05-12). The Filter Bubble: How the New Personalized Web Is Changing What We Read and How We Think. Penguin. ISBN 9781101515129. Retrieved 2020-10-11.
- ↑ "What is digital literacy?", Common Sense Media, https://www.commonsensemedia.org/news-and-media-literacy/what-is-digital-literacy Lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2022 tại Wayback Machine, accessed May 28, 2021
- ↑ Brunton, F., & Nissenbaum, H. (2015). Obfuscation: A User's Guide for Privacy and Protest. MIT Press https://mitpress.mit.edu/books/obfuscation
- ↑ Center for Humane Technology, “How Social Media Hacks Our Brains”, https://www.humanetech.com/brain-science. Retrieved 2021-05-22.
- ↑ "What is a data trust?", Data Futures Lab, Mozilla Foundation, https://foundation.mozilla.org/en/data-futures-lab/data-for-empowerment/shifting-power-through-data-governance/#what-is-a-data-trust
- ↑ "What is a data common?", Data Futures Lab, Mozilla Foundation, https://foundation.mozilla.org/en/data-futures-lab/data-for-empowerment/shifting-power-through-data-governance/#what-is-a-data-commons
- ↑ "What is a data cooperative?", Data Futures Lab, Mozilla Foundation, https://foundation.mozilla.org/en/data-futures-lab/data-for-empowerment/shifting-power-through-data-governance/#what-is-a-data-cooperative, accessed May 28, 2020
- ↑ "What is a data collaborative?", Data Futures Lab, Mozilla Foundation, https://foundation.mozilla.org/en/data-futures-lab/data-for-empowerment/shifting-power-through-data-governance/#what-is-a-data-collaborative, accessed May 28, 2020
- ↑ "What is a data fiduciary?", Data Futures Lab, Mozilla Foundation, https://foundation.mozilla.org/en/data-futures-lab/data-for-empowerment/shifting-power-through-data-governance/#what-is-a-data-fiduciary, accessed May 28, 2020
- ↑ Solid Project, https://solidproject.org/, accessed May 28, 2020
- ↑ "What does it mean? Shifting Power Through Data Governance", Data Futures Lab, Mozilla Foundation, https://foundation.mozilla.org/en/data-futures-lab/data-for-empowerment/shifting-power-through-data-governance/, accessed May 28, 2021
- ↑ "Dagstuhl Manifesto". Informatik-Spektrum. 34 (4): 413–423. ngày 15 tháng 6 năm 2011. doi:10.1007/s00287-011-0552-9. ISSN 0170-6012. S2CID 30112209.
- ↑ Suter, Viktor (2020), Algorithmic Panopticon: State Surveillance and Transparency in China's Social Credit System, Communications in Computer and Information Science, quyển 1349, Cham: Springer International Publishing, tr. 42–59, doi:10.1007/978-3-030-67238-6_4, ISBN 978-3-030-67237-9, S2CID 235011263, truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021
- ↑ Aho, Brett; Duffield, Roberta (ngày 2 tháng 4 năm 2020). "Beyond surveillance capitalism: Privacy, regulation and big data in Europe and China". Economy and Society. 49 (2): 187–212. doi:10.1080/03085147.2019.1690275. ISSN 0308-5147. S2CID 218914930.
- ↑ Brkan, Maja (2019). "Do algorithms rule the world? Algorithmic decision-making and data protection in the framework of the GDPR and beyond". International Journal of Law and Information Technology. 27 (2): 91–121. doi:10.1093/ijlit/eay017. ISSN 0967-0769.
- ↑ Graham, Mark; Hjorth, Isis; Lehdonvirta, Vili (tháng 5 năm 2017). "Digital labour and development: impacts of global digital labour platforms and the gig economy on worker livelihoods". Transfer: European Review of Labour and Research (bằng tiếng Anh). 23 (2): 135–162. doi:10.1177/1024258916687250. ISSN 1024-2589. PMC 5518998. PMID 28781494.
- ↑ Galič, Maša; Timan, Tjerk; Koops, Bert-Jaap (ngày 13 tháng 5 năm 2016). "Bentham, Deleuze and Beyond: An Overview of Surveillance Theories from the Panopticon to Participation". Philosophy & Technology. 30 (1): 9–37. doi:10.1007/s13347-016-0219-1. ISSN 2210-5433.
- ↑ Delacroix, Sylvie (2020). "Social Media Manipulation, Autonomy and Capabilities". SSRN Electronic Journal. doi:10.2139/ssrn.3710786. ISSN 1556-5068. S2CID 234659690.
- ↑ Ito, M.; Martin, C. (2013). "Connected learning and the future of libraries". Young Adult Library Services. 12 (1): 29–32.
- ↑ Ito, M.; Martin, C.; Pfister, R.C.; Rafalow, M.H.; Salen, K.; Wortman, A. (2019). Affinity Online: How Connection and Shared Interest Fuel Learning (Volume 2). NYU Press. ISBN 978-1-4798-8890-0.
- ↑ Gee, J.P. (2017). Teaching, learning, literacy in our high-risk high-tech world: A framework for becoming human. Teachers College Press. ISBN 978-0807758601.
- ↑ "Designing for Children's Rights Guide". The Designing for Children Rights (D4CR) Association. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Ávila, J.; Pandya, J.Z. (2013). "Critical Digital Literacies as Social Praxis: Intersections and Challenges". New Literacies and Digital Epistemologies. 54. New York. 29 Broadway 18th Floor, New York, NY 10006: Peter Lang.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: địa điểm (liên kết) - ↑ Steinberg, Stacey (ngày 28 tháng 4 năm 2021). "Ethical AI? Children's Rights and Autonomy in Digital Spaces". The London School of Economics and Political Science. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Palfrey, John; Gasser, Urs (2008). Born Digital. Basic Books. ISBN 978-0-465-00515-4.
- 1 2 3 "General comment No. 12 (2009): The right of the child to be heard". CRC/C/GC/12. UN Committee on the Rights of the Child (CRC). ngày 20 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "General comment No. 14 (2013) on the right of the child to have his or her best interests taken as a primary consideration (art. 3, para. 1)" (PDF). CRC /C/GC/14. UN Committee on the Rights of the Child (CRC). ngày 29 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "General comment No. 25 (2021) on children's rights in relation to the digital environment". CRC/C/GC/25. The UN Committee on the Rights of the Child. ngày 2 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Children's Privacy Plaintiffs Settle With Disney, Seek Trial With App Developer". Maeley’s Data Privacy News Reports/Lexis Legal News. ngày 6 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Stacey, Kiran; Murphy, Hannah (ngày 13 tháng 4 năm 2021). "Momentum builds US laws to protect children from Big Tech". Financial Times. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Lapierre, Matthew A.; Fleming-Milici, Frances; Rozendaal, Esther; McAlister, Anne R.; Castonguay, Jessica (tháng 11 năm 2017). "The Effect of Advertising on Children and Adolescents". Pediatrics. 140 (Supplement 2): S152 – S156. doi:10.1542/peds.2016-1758V. PMID 29093052.
- ↑ "Explanatory momerandum to the Age Appropriate Design Code". The U.K. Department for Digital, Culture, Media & Sport. ngày 11 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Best interest of the child, Age appropriate design: a code of practice for online services". The U.K. ICO’s Guide to data protection for Organizations. The UK Information Commissioner's Office. ngày 2 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Spivak, G. 1999. Can the subaltern speak? In Social Theory: The Multicultural and Classic Readings edited by C. Lemert. Boulder, CO: Westview Press. pp. 610-614; Said, E. 1979. Orientalism. New York: Vintage Books; Fanon, F. 1963. The Wretched of the Earth. New York: Grove Press.
- ↑ Appiah, K. A. 1991. “Is the Post- in Postmodernism the Post- in Postcolonial?” Critical Inquiry, vol 17. pp. 336-357; Shohat, E. 1992. “Notes on the “Post-Colonial.” Social Text, vol 31. pp. 99-113; Benharrousse, R. 2020 “The Dilapidated Prefix: Beyond Postcolonialism’s ‘Post’ and Towards the Process.” In Post-colonial Praxis: Ramifications and Intricacies. Mumbai: Notion Press. pp. 36-57.
- ↑ Valaskakis, G.G. 2005. Indian Country: Essays on Contemporary Native Culture. Waterloo: Wilfrid Laurier University Press.
- ↑ Alfred, T. 2009. Wasáse: Indigenous pathways of action and freedom. Toronto: University of Toronto Press.
- ↑ Kwet, M. 2019 “Digital Colonialism: US Empire and the New Imperialism in the Global South,” Race & Class Volume 60, No. 4 (April). pp. 3-26. doi:10.1177/0306396818823172
- ↑ Kwet, M. 2018 “Break the hold of digital colonialism,” Mail & Guardian, 29 June. https://mg.co.za/article/2018- 06-29-00-break-the-hold-of-digital-colonialism
- ↑ The Daily Records. 2018. “Top 10 Largest Companies in the World by Market Cap,” 26 March. http://www.thedailyrecords.com/2018-2019-2020-2021/world-famous-top-10-list/highest-selling-brands products-companies-reviews/largest-companies-world-by-market-cap-most-valuable/12829.
- ↑ Bakan, J. 2005. The Corporation: The Pathological Pursuit of Profit and Power. New York, NY: Free Press.
- ↑ Lessig, L. 1999. Code and Other Laws of Cyberspace. New York: Basic Books.
- ↑ Reidenberg, J. 1998. “Lex Informatica: The Formation of Information Policy Rules Through Technology,” Texas Law Review 76, no. 3.
- ↑ Sandvig, C. 2006. The Structural Problems of the Internet for Cultural Policy. In Critical Cyberculture Studies edited by D. Silver and A. Massanari. New York: NYU Press. pp.107-118.
- ↑ Raine, L. & Wellman, B. 2012. Networked: The New Social Operating System. Cambridge and London: The MIT Press.
- ↑ Finnemann, Niels Ole (2010). "Christian Fuchs: Internet and society – Social theory in the information age. London: Routledge. 2008". MedieKultur: Journal of Media and Communication Research. 26 (48): 4. doi:10.7146/mediekultur.v26i48.2316. ISSN 1901-9726.
- ↑ Brown, C.; Czerniewicz, L. (2010). "Debunking the 'digital native': beyond digital apartheid, towards digital democracy". Journal of Computer Assisted Learning. 26 (5): 357–369. doi:10.1111/j.1365-2729.2010.00369.x. hdl:11427/3334. ISSN 0266-4909.
- ↑ Graham, Mark (2011). "Time machines and virtual portals". Progress in Development Studies. 11 (3): 211–227. doi:10.1177/146499341001100303. ISSN 1464-9934. S2CID 17281619.
- 1 2 3 Barnard-Ashton, Paula; Adams, Fasloen; Rothberg, Alan; McInerney, Patricia (2018). "Digital apartheid and the effect of mobile technology during rural fieldwork". South African Journal of Occupational Therapy. 48 (2): 20–25. doi:10.17159/23103833/2018/vol48n2a4. ISSN 2310-3833.
- ↑ Rouvroy, Antoinnette; Poullet, Ives. The right to informational self-determination and the value of self-development: reassessing the importance of privacy for democracy (PDF). Springer. tr. 45–76.
- ↑ "The European Strategy for Data".
- ↑ "Proposal for a Regulation on European data governance (Data Governance Act)". 2020.
- ↑ "Directive (EU) 2019/790 of the European Parliament and of the Council of 17 April 2019 on copyright and related rights in the Digital Single Market and amending Directives 96/9/EC and 2001/29/EC (Text with EEA relevance.)".
- ↑ "DIRECTIVE (EU) 2018/1808 OF THE EUROPEAN PARLIAMENT AND OF THE COUNCIL of 14 November 2018 amending Directive 2010/13/EU on the coordination of certain provisions laid down by law, regulation or administrative action in the Member States concerning the provision of audiovisual media services (Audiovisual Media Services Directive) in view of changing market realities".
- ↑ "Privacy Online: A Report to Congress" (PDF). Federal Trade Commission. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Gasser, Urs; Almeida, Virgilio A.F. (tháng 11 năm 2017). "A Layered Model for AI Governance". IEEE Internet Computing. 21 (6): 58–62. Bibcode:2017IIC....21f..58G. doi:10.1109/MIC.2017.4180835. ISSN 1089-7801. S2CID 13089526.
- ↑ "The history of Amazon's recommendation algorithm". Amazon Science (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Dodds, Laurence (ngày 1 tháng 4 năm 2019). "Facebook to finally explain the decisions of its news feed algorithm". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Met police to begin using live facial recognition cameras in London". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Nearly half of councils in Great Britain use algorithms to help make claims decisions". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ↑ ""The ethics of artificial intelligence: Issues and initiatives"" (PDF). European Parliament. tháng 3 năm 2020.
- ↑ Bradshaw, Samantha; Howard, Philip N. "The Global Disinformation Disorder: 2019 Global Inventory of Organised Social Media Manipulation. Working Paper 2019" (PDF). Oxford, UK: Project on Computational Propaganda.
- ↑ Dastin, Jeffrey (ngày 10 tháng 10 năm 2018). "Amazon scraps secret AI recruiting tool that showed bias against women". Reuters (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Eubanks, Virginia (tháng 1 năm 2018). "Automating Inequalities: How High-Tech Tools Profile, Police and Punish The Poor". St. Martin’s Press. tr. 143.
- ↑ Jobin, Anna; Ienca, Marcello; Vayena, Effy (tháng 9 năm 2019). "The global landscape of AI ethics guidelines". Nature Machine Intelligence (bằng tiếng Anh). 1 (9): 389–399. arXiv:1906.11668. doi:10.1038/s42256-019-0088-2. ISSN 2522-5839. S2CID 201827642.
- ↑ ""Roadmap for Digital Cooperation"" (PDF). United Nations. tháng 6 năm 2020.
- ↑ Fjeld, Jessica; Achten, Nele; Hilligoss, Hannah; Nagy, Adam; Srikumar, Madhulika (2020). "Principled Artificial Intelligence: Mapping Consensus in Ethical and Rights-Based Approaches to Principles for AI". SSRN Electronic Journal (bằng tiếng Anh). doi:10.2139/ssrn.3518482. ISSN 1556-5068. S2CID 214464355.
- ↑ "The Recommendation on Artificial Intelligence (AI)". OECD. 2019.
- ↑ "Social Principles of Human-centric AI" (PDF). Government of Japan. 2019.
- ↑ "AI Strategy 2019: AI for Everyone: People, Industries, Regions and Governments" (PDF). Integrated Innovation Strategy Promotion Council, Government of Japan. ngày 11 tháng 6 năm 2019.
- ↑ "AI Utilization Guidelines" (PDF). Government of Japan. ngày 9 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "National Strategy for Artificial Intelligence: #AI for All (Discussion Paper)'" (PDF). Niti Aayog. 2018.
- ↑ "CDEI proposes a roadmap to tackle algorithmic bias". Centre for Data Ethics and Innovation, Gov.uk. ngày 27 tháng 11 năm 2020.
- ↑ "Towards Regulation of AI Systems". CAHAI Secretariat, Council of Europe. tháng 12 năm 2020.