Bước tới nội dung

Quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản

quan hệ quốc tế giữa Trung Quốc và Nhật Bản
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thủ tướng Nhật Bản Shinzō Abe (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) gặp nhau tại Đà Nẵng, Việt Nam vào tháng 11 năm 2017.
Đại sứ quán Trung Quốc tại Nhật Bản.
Đại sứ quán Nhật Bản tại Trung Quốc.

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã kéo dài hàng ngàn năm qua. Nhật Bản có mối liên kết lịch sử và văn hóa sâu sắc với Trung Quốc; các tiếp xúc văn hóa xuyên suốt lịch sử đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nhật Bản – bao gồm hệ thống chữ viết, kiến trúc, ẩm thực, văn hóa, văn học, tôn giáo, triết học và luật pháp.[1] Ngược lại, Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng đáng kể từ Nhật Bản, đặc biệt là trong giai đoạn hiện đại. Sau cuộc Minh Trị Duy tân năm 1868, Đế quốc Nhật Bản đẩy mạnh Tây phương hóa và coi nhà Thanh là "phi Trung Hoa", dẫn đến cuộc Chiến tranh Thanh–Nhật. Thắng lợi của Nhật Bản trong cuộc chiến này đã giúp họ giành quyền kiểm soát Đài Loan. Trong thế kỷ 20, Nhật Bản theo đuổi chính sách bành trướng ngày càng quyết liệt đối với Trung Quốc. Năm 1931, Nhật Bản xâm lược Mãn Châu, thiết lập quốc gia bù nhìn Mãn Châu Quốc, và tiếp tục xâm chiếm các vùng khác của Trung Quốc vào năm 1937, khơi mào cho cuộc Chiến tranh Trung–Nhật lần thứ hai với nhiều tội ác chiến tranh. Sau khi đầu hàng vào năm 1945, Nhật Bản hoàn trả toàn bộ lãnh thổ đã chiếm đóng cho Trung Quốc. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, quan hệ hai bên trở nên căng thẳng khi Nhật Bản tiếp tục công nhận chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan, mặc dù các mối liên hệ không chính thức với CHND Trung Hoa vẫn tồn tại.

Nhật Bản bình thường hóa quan hệ với CHND Trung Hoa vào năm 1972 thông qua Thông cáo chung Nhật – Trung, công nhận CHND Trung Hoa là đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc. Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị giữa Nhật Bản và Trung Quốc được ký kết vào năm 1978. Trong giai đoạn này, thương mại giữa hai quốc gia đã tăng trưởng vượt bậc. Quan hệ tiếp tục được cải thiện khi Thiên hoàng Nhật Bản Akihito đến thăm Trung Quốc năm 1992 và Thủ tướng Murayama Tomiichi đưa ra tuyên bố xin lỗi về những hành động của Nhật Bản trong Thế chiến II vào năm 1995. Tuy nhiên, mối liên kết giữa hai nước đã xấu đi sau các cuộc biểu tình chống Nhật tại Trung Quốc vào năm 2005. Thế kỷ 21 đánh dấu sự thay đổi cán cân quyền lực giữa hai nước; nền kinh tế Nhật Bản trở nên trì trệ sau Thập niên mất mát bắt đầu từ những năm 1990, trong khi sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc tăng trưởng mạnh mẽ sau khi bắt đầu quá trình cải cách và mở cửa từ năm 1978. Năm 2010, nền kinh tế Trung Quốc đã vượt qua kinh tế Nhật Bản về quy mô GDP. Quan hệ trở nên tồi tệ vào năm 2012, bắt nguồn từ việc chính phủ Nhật Bản mua lại Quần đảo Senkaku đang tranh chấp từ một chủ sở hữu tư nhân, dẫn đến các cuộc biểu tình chống Nhật tại Trung Quốc. Quan hệ bắt đầu khởi sắc vào cuối thập niên 2010 và đầu thập niên 2020, nhưng lại trở nên tồi tệ vào năm 2025 và 2026 sau những tuyên bố của Thủ tướng Nhật Takaichi Sanae liên quan đến vấn đề phòng thủ Đài Loan.

Trong thời đại hiện nay, Trung Quốc và Nhật Bản nằm trong số các nền kinh tế lớn nhất thế giới và là đối tác thương mại quan trọng của nhau, với kim ngạch thương mại song phương đạt 322 tỷ USD vào năm 2025; Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản kể từ năm 2005. Trung Quốc cũng là nguồn khách du lịch và du học sinh lớn nhất đến Nhật Bản. Bất chấp mối quan hệ kinh tế chặt chẽ, quan hệ chính trị vẫn căng thẳng do các tranh chấp về địa chính trị, lịch sử thời chiến và tranh chấp quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) – khu vực do Nhật Bản quản lý nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền. Ngoài ra, những lo ngại về an ninh của Nhật Bản đối với Đài Loan, các tranh cãi về hành động thời chiến của Nhật Bản bao gồm Thảm sát Nam Kinh và Đơn vị 731, việc các chính trị gia Nhật Bản viếng Đền Yasukuni, cùng những khác biệt trong diễn giải lịch sử vẫn tiếp tục khoét sâu thêm căng thẳng. Các khảo sát dư luận cho thấy đại đa số người dân ở cả hai nước đều có cái nhìn tiêu cực về nhau. Dù đã có nhiều nỗ lực cải thiện quan hệ, những bất đồng lâu nay vẫn còn tồn tại.

Lịch sử Quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản

Bình thường hóa quan hệ

Vào tháng 12 năm 1971, các văn phòng liên lạc thương mại của Trung Quốc và Nhật Bản bắt đầu thảo luận về khả năng khôi phục quan hệ thương mại ngoại giao. Đến tháng 7 năm 1972, Tanaka Kakuei kế nhiệm Satō Eisaku trở thành Thủ tướng mới của Nhật Bản.[2] Tanaka đã đảm nhận việc bình thường hóa quan hệ Trung – Nhật.[2] Hơn nữa, chuyến thăm Trung Quốc của Richard Nixon năm 1972 đã thúc đẩy tiến trình bình thường hóa này.[2] Quá trình này được tạo điều kiện thuận lợi một phần nhờ việc CHND Trung Hoa và Nhật Bản vẫn duy trì các hoạt động trao đổi nhân dân và thương mại phi chính thức.[2]

Chuyến thăm của Tanaka tới Bắc Kinh đã lên đến đỉnh điểm với việc ký kết Thông cáo chung Nhật – Trung vào ngày 29 tháng 9 năm 1972, chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản và CHND Trung Hoa.[2] Nhật Bản tuyên bố nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc gây ra những thiệt hại to lớn cho nhân dân Trung Quốc trong Thế chiến II, và phía Trung Quốc cũng từ bỏ yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh.[2] Việc tránh các tranh chấp chính trị xoay quanh lịch sử đau thương này đã tạo điều kiện cho sự hợp tác chiến lược ngay lập tức.[2] Phía Nhật Bản đồng ý với quan điểm của Trung Quốc về vị thế chính trị của Đài Loan, cụ thể là "Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa."[2]

Vào ngày 5 tháng 2 năm 1973, Trung Quốc và Nhật Bản đồng ý tái thiết lập quan hệ ngoại giao.[3] Các cuộc đàm phán về một hiệp ước hòa bình và hữu nghị Trung – Nhật đã bắt đầu vào năm 1974, nhưng sớm bị gián đoạn vào tháng 9 năm 1975. Trung Quốc kiên quyết yêu cầu đưa vào hiệp ước điều khoản chống chủ nghĩa bá quyền, vốn nhằm vào Liên Xô. Nhật Bản phản đối điều khoản này vì không muốn can dự vào cuộc Chia rẽ Trung – Xô.[cần dẫn nguồn] Các cuộc đàm phán về hiệp ước hòa bình được nối lại vào tháng 7 năm 1978, và một thỏa thuận đã đạt được vào tháng 8 dựa trên một phiên bản thỏa hiệp của điều khoản chống bá quyền.[4] Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị giữa Nhật Bản và Trung Quốc được ký kết vào ngày 12 tháng 8 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 10 năm 1978, dưới thời hai nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình và Fukuda Takeo.[cần dẫn nguồn]

Thập niên 1980

Vườn Hữu nghị Nhật – Trung

Thập niên 1980 là giai đoạn đỉnh cao trong quan hệ Trung – Nhật, khi Nhật Bản theo đuổi chiến lược "Ngoại giao hữu nghị" với Trung Quốc.[5](tr141) Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Diệu Bang, đã đến thăm Nhật Bản vào tháng 11 năm 1983, và Thủ tướng Nakasone Yasuhiro đã đáp lễ bằng chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 3 năm 1984.[cần dẫn nguồn]

Các vấn đề kinh tế tập trung vào những phàn nàn của Trung Quốc rằng dòng sản phẩm Nhật Bản tràn vào đã gây ra tình trạng thâm hụt thương mại nghiêm trọng cho Trung Quốc. Nakasone và các nhà lãnh đạo Nhật Bản khác đã cố gắng xoa dịu những lo ngại này trong các chuyến thăm Bắc Kinh và các cuộc thảo luận với quan chức Trung Quốc. Họ cam kết với Trung Quốc về việc tiếp tục hỗ trợ phát triển và thương mại quy mô lớn, đồng thời ngăn chặn bất kỳ sự tái xích lại gần nhau nào giữa Trung Quốc và Liên Xô để chống lại Nhật Bản. Hai nước cũng đã ký kết một hiệp ước đầu tư song phương vào năm 1988 sau bảy năm đàm phán gay gắt, trong đó Trung Quốc cuối cùng đã đồng ý cấp cho các khoản đầu tư của Nhật Bản "quy chế đãi ngộ quốc gia".[6] Vào cuối thập niên 1980, Trung Quốc và Nhật Bản bắt đầu hợp tác trong các vấn đề môi trường.[7](tr62) Sau cuộc biểu tình và thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, Nhật Bản gọi phản ứng của chính phủ Trung Quốc là "không thể chấp nhận được" và đóng băng các khoản vay cho Trung Quốc.[8][9]

Thập niên 1990

Thiên hoàng Akihito và Tổng Bí thư Giang Trạch Dân vào ngày 7 tháng 4 năm 1992.

Năm 1990, Nhật Bản trở thành thành viên đầu tiên của G7 khôi phục quan hệ cấp cao với Trung Quốc.[8][9] Vào ngày 10 tháng 8 năm 1991, Thủ tướng Nhật Bản Kaifu Toshiki trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên trong số các quốc gia phát triển lớn đến thăm Bắc Kinh.[10] Ngày 6 tháng 4 năm 1992, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân đã đến thăm Nhật Bản.[11] Vào tháng 10 năm 1992, Thiên hoàng Nhật Bản Akihito đã đến thăm Trung Quốc, đây là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của một Thiên hoàng Nhật Bản. Chuyến thăm đánh dấu sự cải thiện đáng kể trong mối quan hệ.[12] Quan hệ càng được củng cố khi Thủ tướng Murayama Tomiichi đến thăm Trung Quốc vào tháng 5 năm 1995, nơi ông đã tới thăm Cầu Lư Câu và Bảo tàng Kháng chiến chống Nhật của Nhân dân Trung Quốc, trở thành Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên thực hiện điều này. Ông cũng đưa ra Thông điệp Murayama vào tháng 8 năm 1995, xin lỗi về những hành động của Nhật Bản trong Thế chiến II, một hành động được phía Trung Quốc đánh giá rất cao.[13] Tuy nhiên, vào ngày 29 tháng 8 cùng năm, chính phủ Nhật Bản đã phản đối vụ thử hạt nhân của Trung Quốc và tuyên bố đóng băng các khoản viện trợ cho vay của chính phủ dành cho nước này.[10]

Sự thay đổi cấu trúc song phương diễn ra từ cuối những năm 1990 đến năm 2004. Nhật Bản đã đầu tư mạnh vào Trung Quốc đầu thập niên 1990; thương mại giảm nhẹ vào cuối thập kỷ nhưng đã trỗi dậy mạnh mẽ vào đầu thiên niên kỷ mới. Sự khởi sắc này có thể là nhờ triển vọng Trung Quốc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trung Quốc và Nhật Bản đã tham gia vào các hoạt động hợp tác song phương chừng mực xuyên suốt những năm 1990 và 2000.[7](tr51) Tiếp nối sự hợp tác song phương về môi trường từ cuối những năm 1980, Trung tâm Bảo vệ Môi trường Hữu nghị Trung – Nhật đã được thành lập vào năm 1996.[7](tr62) Năm 1998, Giang Trạch Dân đã có chuyến thăm Nhật Bản, nơi hai quốc gia tuyên bố thiết lập "quan hệ đối tác hợp tác hữu nghị vì hòa bình và phát triển".[11]

Thế kỷ 21

Thập niên 2000

Thủ tướng Nhật Bản Koizumi Junichiro đã đến thăm Bắc Kinh vào tháng 10 năm 2001. Tại đây, ông đã tới thăm Cầu Lư Câu và Bảo tàng Kháng chiến chống Nhật của Nhân dân Trung Quốc, đồng thời bày tỏ sự hối tiếc và xin lỗi về lịch sử xâm lược của Nhật Bản đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, sau đó Koizumi đã thực hiện sáu chuyến viếng thăm Đền Yasukuni trong suốt sáu năm làm Thủ tướng, gây tổn hại nghiêm trọng đến mối quan hệ song phương. Thương mại giữa hai nước trong thời gian này vẫn gia tăng, dẫn đến việc ra đời cụm từ "chính trị lạnh, kinh tế nóng".[10]

Trung tâm Hội nghị Hữu nghị Trung – Nhật Hiroshima-Tứ Xuyên (tiếng Nhật: 広島・四川中日友好会館, chữ Hán giản thể: 广岛・四川中日友好会馆) tại quận Vũ Hầu, Thành Đô

Đầu năm 2005, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã ra một tuyên bố chung đề cập đến các vấn đề liên quan đến eo biển Đài Loan.[14] Trung Quốc đã tức giận trước tuyên bố này và phản đối sự can thiệp vào công việc nội bộ của mình.[15] Luật chống chia cắt lãnh thổ đã được kỳ họp thứ ba của Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc khóa X thông qua và phê chuẩn vào tháng 3 năm 2005, sau đó luật có hiệu lực ngay lập tức. Hệ quả là các cuộc biểu tình chống Nhật đã diễn ra đồng loạt tại Trung Quốc và các quốc gia châu Á khác.

Tuy nhiên, mối quan hệ "ấm áp" giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã được hồi sinh bởi hai đời Thủ tướng Nhật Bản là Abe Shinzō và đặc biệt là Fukuda Yasuo – người có cha là người đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Vào tháng 5 năm 2008, Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đầu tiên sau hơn một thập kỷ được mời tới Nhật Bản trong một chuyến thăm chính thức, ông đã kêu gọi tăng cường "hợp tác" giữa hai nước. Một tuyên bố chung của Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Nhật Bản Fukuda Yasuo đã công bố về một mối quan hệ đôi bên cùng có lợi dựa trên các lợi ích chiến lược chung, trích dẫn nội dung:[16][17]

"Hai bên quyết tâm nhìn thẳng vào lịch sử, hướng tới tương lai và nỗ lực kiên trì để tạo ra một kỷ nguyên mới cho 'mối quan hệ đôi bên cùng có lợi dựa trên các lợi ích chiến lược chung' giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Hai nước tuyên bố sẽ điều chỉnh quan hệ Nhật – Trung phù hợp với xu thế của cộng đồng quốc tế và cùng nhau tạo dựng một tương lai tươi sáng cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và thế giới, đồng thời không ngừng làm sâu sắc thêm sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và mở rộng hợp tác cùng có lợi giữa hai quốc gia trong tương lai".

Vào tháng 10 năm 2008, Thủ tướng Nhật Bản Asō Tarō đã đến thăm Bắc Kinh để kỷ niệm 30 năm ngày ký kết Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Tại buổi tiếp đón, ông đã nhận định về "niềm tin cá nhân đối với quan hệ Nhật – Trung":[18]

"Chúng ta không nên gò bó bản thân dưới danh nghĩa tình hữu nghị Nhật – Trung. Thay vào đó, sự cạnh tranh lành mạnh và hợp tác tích cực sẽ cấu thành một 'mối quan hệ đôi bên cùng có lợi dựa trên các lợi ích chiến lược chung' đích thực. Khổng Tử đã nói: 'Tam thập nhi lập' (Ba mươi tuổi thì lập thân). Tương tự như vậy, Nhật Bản và Trung Quốc giờ đây phải đứng vững trên võ đài quốc tế và nỗ lực lan tỏa tinh thần cùng có lợi này ra phần còn lại của thế giới".

Mặc dù các nhà hoạch định chính sách của Nhật Bản và Trung Quốc khẳng định rằng hiện tượng "phá băng" và "tan băng" đã diễn ra trong quan hệ song phương từ năm 2006 đến năm 2010, tuy nhiên, chưa có vấn đề cốt lõi nào liên quan đến lịch sử và tranh chấp lãnh thổ đã được giải quyết, và thực tế vẫn tồn tại một "tảng băng trôi" ngay dưới bề mặt.[19][20]

Sau năm 2009, các chính quyền của Đảng Dân chủ dưới thời Hatoyama Yukio và Kan Naoto đã theo đuổi một "chính sách đối ngoại mới" nhằm xích lại gần Trung Quốc hơn và hội nhập vào châu Á, dẫn đến những tiến triển trong quan hệ. Tuy nhiên, những sai lầm trong chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng Dân chủ, đặc biệt là liên quan đến việc di dời các căn cứ quân sự của Mỹ tại Okinawa, đã khiến chính sách đối ngoại mới này đi đến hồi kết. Đến chính quyền cuối cùng của Đảng Dân chủ dưới thời Noda Yoshihiko, Nhật Bản đã tái diễn những bất đồng nghiêm trọng với Trung Quốc liên quan đến các vấn đề lịch sử và quần đảo Senkaku.[21]

Thập niên 2010

Năm 2010, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Đến năm 2012, tổng GDP của Trung Quốc đã gấp 1,4 lần so với Nhật Bản. Năm 2011, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc đã chỉ trích Sách trắng quốc phòng hàng năm của Nhật Bản vì sử dụng Thuyết mối đe dọa từ Trung Quốc.[22]

Vào tháng 8 năm 2012, các nhà hoạt động Hồng Kông đã đổ bộ lên một trong những hòn đảo thuộc quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) đang tranh chấp, và những người theo chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản đã đáp trả bằng cách đổ bộ lên đảo vào tuần sau đó. Tháng 9 năm 2012, chính phủ Nhật Bản đã mua lại ba hòn đảo từ một chủ sở hữu tư nhân người Nhật, dẫn đến các cuộc biểu tình chống Nhật lan rộng tại Trung Quốc.[23][24] Ngay sau khi chính phủ Nhật Bản công bố quốc hữu hóa các hòn đảo vào năm 2012, quan hệ giữa hai nước đã rơi xuống điểm đóng băng, châm ngòi cho một loạt hành động quân sự từ phía chính phủ Trung Quốc như một biện pháp đáp trả.[25] Thủ tướng Noda Yoshihiko đã thay mặt chính phủ trung ương mua lại các hòn đảo nhằm "ngăn chặn" kế hoạch mua đảo của Thống đốc Tokyo Ishihara Shintarō bằng ngân sách của thành phố. Ishihara vốn nổi tiếng với những hành động dân tộc chủ nghĩa gây hấn, và Noda lo ngại rằng Ishihara sẽ cố gắng chiếm đóng các hòn đảo hoặc sử dụng chúng để khiêu khích Trung Quốc.[25] Quan hệ tiếp tục xấu đi sau khi chính phủ Nhật Bản mua lại quần đảo Senkaku, đến mức Trung Quốc quyết định bỏ qua các cuộc họp của IMF được tổ chức tại Nhật Bản.[26] Các cuộc biểu tình rầm rộ phản đối hành động của Nhật Bản đã diễn ra tại các thành phố lớn của Trung Quốc. Quan hệ thương mại bị suy giảm nghiêm trọng trong nửa cuối năm 2012[27] và máy bay của chính phủ Trung Quốc đã xâm nhập vào không phận tranh chấp lần đầu tiên kể từ năm 1958.[28] Trung Quốc cũng đã gửi máy bay không người lái bay gần các hòn đảo. Nhật Bản đe dọa sẽ bắn hạ chúng, điều mà Trung Quốc tuyên bố sẽ coi là một hành động gây chiến.[29]

Đầu thập niên 2010, sự hợp tác song phương giữa Trung Quốc và Nhật Bản phần lớn đã bị đình trệ do căng thẳng chính trị dâng cao.[7](tr51)

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzō vào tháng 11 năm 2017.

Sau khi Abe Shinzō trở lại nắm quyền vào năm 2012, ông đã viếng thăm đền Yasukuni vào năm 2013, làm trầm trọng thêm mối quan hệ giữa hai nước.[30] Abe đã tăng cường liên minh Mỹ – Nhật, hợp tác với chính sách Xoay trục sang châu Á của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, và áp dụng chiến lược kiềm chế và ngăn chặn Trung Quốc. Trong Sách trắng năm 2013, Nhật Bản gọi các hành động gần đây của Trung Quốc là "không phù hợp với luật pháp quốc tế."[31] Tài liệu này cũng đề cập đến Chiến dịch Dawn Blitz, sau khi Trung Quốc kêu gọi cắt giảm quy mô cuộc tập trận này.[32] Đảng Dân chủ Tự do do ông lãnh đạo đã đề xuất sửa đổi hiến pháp và thay đổi cách diễn giải hiến pháp vào năm 2015 thông qua Luật Hòa bình và An ninh.[33] Phóng viên người Mỹ Howard French đã nhận định vào năm 2017:[34] :Việc bật truyền hình ở Trung Quốc là để đắm chìm trong những bộ phim đề tài chiến tranh, vốn tập trung áp đảo vào sự tàn ác của Nhật Bản. Hơn 200 bộ phim chống Nhật đã được sản xuất chỉ riêng trong năm 2012, với một học giả tính toán rằng 70% các bộ phim truyền hình Trung Quốc có liên quan đến cốt truyện chiến tranh với Nhật Bản.... Một nhà tư tưởng chính sách đối ngoại nổi tiếng của Trung Quốc, người có mối liên hệ sâu rộng với ban lãnh đạo đất nước đã nói với tôi rằng, "trong các cuộc họp kể từ khi Tập Cận Bình lên nắm quyền [2012], bạn có thể cảm nhận được sự căm thù. Mọi thứ đều xoay quanh việc trừng phạt Nhật Bản. Trừng phạt cái ông [Thủ tướng Nhật Bản Abe] Shinzō chết tiệt đó." Hành động gây chú ý nhất làm tổn hại đến quan hệ song phương là các chuyến viếng thăm đền Yasukuni của các Thủ tướng Nhật Bản, một nơi bị hầu hết người dân Trung Quốc coi là xúc phạm vì nhiều tội phạm chiến tranh Thế chiến II của Nhật Bản được thờ phụng tại đó. Quan hệ Trung – Nhật đã chạm mức thấp nhất kể từ nhiệm kỳ của Thủ tướng Koizumi trước đó cũng vì chuyến thăm đền của ông. Tuy nhiên, Thủ tướng Abe Shinzō cũng đã viếng đền Yasukuni nhiều lần sau khi tái đắc cử vào năm 2010, điều này đã kích ngòi cho các cuộc biểu tình chống Nhật dữ dội tại Trung Quốc do thái độ và nhận thức tiêu cực giữa hai quốc gia. Theo một nghĩa nào đó, cả Koizumi và Abe đều có "hành vi đơn độc", cụ thể là thực hiện các chuyến thăm đền Yasukuni như một minh chứng để thể hiện tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, điều đã đẩy quan hệ Trung – Nhật vào giai đoạn tồi tệ nhất.

Quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã được cải thiện sau cuộc Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung.[35][36] Sự cải thiện này được cho là nhờ mối quan hệ cá nhân tốt đẹp giữa Abe Shinzō và Tập Cận Bình, cũng như những tranh chấp thương mại của riêng Nhật Bản với Hoa Kỳ.[37][38] Abe đã đưa ra những lời khuyên cho Tập Cận Bình về các cuộc đàm phán thương mại với Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump.[39] Vào tháng 5 năm 2018, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đến thăm Nhật Bản.[40] Từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 10 năm 2018, nhận lời mời của Thủ tướng Lý Khắc Cường, Abe Shinzō đã thực hiện chuyến thăm chính thức tới Trung Quốc.[41]

Thập niên 2020

Quan hệ Trung – Nhật đã trải qua một giai đoạn "tan băng" ngắn ngủi do sự bùng phát của dịch bệnh corona mới. Vào ngày 15 tháng 1 năm 2020, Nhật Bản đã xác nhận ca nhiễm virus corona mới đầu tiên được phát hiện tại Sân bay Haneda ở Tokyo, có nguồn gốc từ Vũ Hán. Với một dòng thơ cổ của một Thiên hoàng Nhật Bản gửi một nhà sư Trung Quốc (vốn đã truyền cảm hứng để vị sư này sang Nhật truyền bá Phật giáo): "Tuy ở hai nơi khác nhau, nhưng chúng ta cùng sống dưới một bầu trời"[42] đã được các quan chức chính phủ đăng tải trên Twitter và in trên các thùng khẩu trang gửi viện trợ cho Trung Quốc. Khu vực tư nhân của Nhật Bản đã quyên góp hơn 3 triệu khẩu trang cùng với khoản tiền mặt 6,3 triệu USD cho Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng đã ca ngợi Nhật Bản vì sự hỗ trợ này.[43]

Trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng tại Nhật Bản, Trung Quốc đã đáp lại bằng cách tặng 12.500 bộ kit xét nghiệm COVID-19 cho Nhật Bản sau khi có báo cáo rằng nước này đang thiếu hụt kit xét nghiệm. Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phát biểu bằng tiếng Nhật rằng: "Trung Quốc và Nhật Bản là các quốc gia láng giềng chỉ cách nhau một dải nước hẹp. Sẽ không có biên giới trong cuộc chiến chống lại sự lây lan của virus."[44] Tính đến ngày 4 tháng 6 năm 2021, Nhật Bản cũng đã tặng 1,24 triệu liều Vắc-xin COVID-19 cho Đài Loan.[45] Động thái này đã khơi dậy một làn sóng biết ơn từ Người Đài Loan,[46] trong khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên án hành động của Nhật Bản.[47]

Vào ngày 2 tháng 12 năm 2021, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo rằng họ đã triệu tập đại sứ Nhật Bản tại Bắc Kinh, Tarumi Hideo, về những phát biểu của cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzō vào ngày 1 tháng 12 năm 2021 nhằm ủng hộ Đài Loan. Trong các ý kiến được cho là của Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh, Bắc Kinh cho biết đặc phái viên của Tokyo đã bị triệu tập vì những phát biểu "vô trách nhiệm" của Abe, vốn thể hiện sự "can thiệp thô bạo" vào công việc nội bộ của Trung Quốc.[48] Ngày 28 tháng 12 năm 2021, cả Nhật Bản và Trung Quốc đã đồng ý thiết lập một đường dây nóng quân sự nhằm xoa dịu các cuộc khủng hoảng tiềm tàng liên quan đến các hòn đảo tranh chấp và eo biển Đài Loan.[49]

Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio (trái) và nhà lãnh đạo tối cao Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) gặp gỡ tại San Francisco, Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2023.

Vào ngày 4 tháng 8 năm 2022, trong chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc "tấn công tên lửa chính xác" vào vùng biển gần Đài Loan, trong đó có 5 tên lửa rơi vào vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản.[50] Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Kishi Nobuo đã phản đối việc phóng tên lửa này vì cho rằng đây là "mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia của Nhật Bản và sự an toàn của người dân Nhật Bản."[50] Trung Quốc đã công bố lệnh cấm nhập khẩu hải sản Nhật Bản sau khi nước này xả nước thải từ nhà máy Fukushima vào năm 2023, điều này hiện vẫn là một điểm gây tranh cãi.[51] Vào tháng 10 năm 2023, Nhật Bản thông báo sẽ mở rộng thuế chống bán phá giá đối với một số sản phẩm của Trung Quốc, bao gồm cả hàng xuất khẩu qua các nước thứ ba, nhằm nỗ lực chống lại tình trạng sản xuất dư thừa của Trung Quốc.[52]

Vào tháng 7 năm 2024, truyền thông Nhật Bản đưa tin một tàu khu trục của Nhật Bản đã đi vào vùng biển của Trung Quốc bất chấp những cảnh báo từ các tàu phía Trung Quốc.[53] Tiếp đó, vào ngày 26 tháng 8 năm 2024, máy bay quân sự từ Trung Quốc đã xâm nhập ngắn hạn vào không phận của Nhật Bản, một sự việc chưa từng xảy ra trước đây. Theo Bộ Quốc phòng Nhật Bản, chiếc máy bay đã bay lượn quanh khu vực Quần đảo Danjo trước khi đi vào không phận địa phương trong hai phút, sau đó quay trở lại đại lục Trung Quốc.[53] Vào ngày 11 tháng 7 năm 2025, Nhật Bản đã thúc giục Trung Quốc chấm dứt các hoạt động diễn tập hàng không không an toàn sau khi một máy bay ném bom chiến đấu JH-7 của Trung Quốc bay cách máy bay tình báo YS-11EB của Nhật Bản chỉ 30 mét trên bầu trời Biển Hoa Đông. Những sự cố này, vốn xảy ra bên ngoài không phận Nhật Bản, đã được Bộ Quốc phòng Nhật Bản mô tả là lặp đi lặp lại và nguy hiểm, dẫn đến nguy cơ va chạm.[54] Đáp lại, Trung Quốc cáo buộc Nhật Bản đã giám sát chặt chẽ các hoạt động quân sự thông thường của Trung Quốc và yêu cầu chấm dứt các hoạt động như vậy.

Khủng hoảng ngoại giao năm 2025

Vào tháng 11 năm 2025, Thủ tướng Takaichi Sanae tuyên bố rằng các hành động quân sự của Trung Quốc chống lại Đài Loan, chẳng hạn như phong tỏa đường biển bằng tàu chiến, có thể được coi là một "tình huống đe dọa sự tồn vong" đối với Nhật Bản, kích hoạt các luật an ninh để huy động lực lượng dưới quyền "phòng vệ tập thể."[55] Đáp lại, Tổng lãnh sự Trung Quốc tại Osaka Tiết Kiếm (Xue Jian) đã đăng trên mạng xã hội rằng "cái đầu bẩn thỉu thò vào thì phải bị chặt đứt". Mặc dù thông điệp này sau đó đã bị xóa sau sự phản đối của chính phủ Nhật Bản, nó đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng ngoại giao giữa Trung Quốc và Nhật Bản.[56][57]

Bắc Kinh lập luận rằng các tuyên bố của bà Takaichi đã vi phạm thỏa thuận Nhật – Trung năm 1972 về Đài Loan, trong khi Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản tái khẳng định cam kết của Nhật Bản đối với thỏa thuận này và hy vọng vào một giải pháp hòa bình. Bà Takaichi sau đó làm rõ rằng những nhận định của mình chỉ mang tính "giả định".[58] Ngoài những lời kêu gọi trục xuất từ các đảng phái tại Nhật Bản, bình luận của ông Tiết cũng vấp phải sự chỉ trích từ chính quyền Đài Loan và đại sứ Hoa Kỳ tại Nhật Bản,[59][60] trong khi Trung Quốc lên án gay gắt các phát ngôn của bà Takaichi.[61]

Nhật Bản và Trung Quốc đã ban hành các cảnh báo du lịch lẫn nhau và triệu tập đại sứ của đối phương.[62] Sau đó, Trung Quốc đã phái các tàu của Cảnh sát biển Trung Quốc và máy bay không người lái quân sự tuần tra qua khu vực quần đảo Senkaku.[63] Ngoài ra, Bộ Thương mại Trung Quốc tuyên bố rằng sự hợp tác thương mại giữa hai nước đã bị "tổn hại nghiêm trọng" do những bình luận về vấn đề Đài Loan.[64]

Tham khảo Quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản

  1. Cartwright, Mark (ngày 27 tháng 6 năm 2017). "Ancient Japanese & Chinese Relations". World History Encyclopedia (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2022.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 Zhao, Suisheng (2022). The Dragon Roars Back: Transformational Leaders and Dynamics of Chinese Foreign policy. Stanford University Press. tr. 48. doi:10.1515/9781503634152. ISBN 978-1-5036-3415-2.
  3. "Chronology 1973". The World Book Year Book 1974. Chicago: Field Enterprises Educational Corporation. 1974. tr. 8. ISBN 0-7166-0474-4. LCCN 62-4818.
  4. (Điều 2) “Các Bên ký kết tuyên bố rằng không bên nào được tìm kiếm chủ nghĩa bá quyền ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hoặc ở bất kỳ khu vực nào khác và mỗi bên đều phản đối nỗ lực của bất kỳ quốc gia hoặc nhóm quốc gia nào khác nhằm thiết lập sự bá quyền đó.” MOFA: Treaty of Peace and Friendship between Japan and the People's Republic of China
  5. Crean, Jeffrey (2024). The Fear of Chinese Power: an International History. New Approaches to International History series. London, UK: Bloomsbury Academic. ISBN 978-1-350-23394-2.
  6. Hagström, Linus (2005) Japan's China Policy: A Relational Power Analysis, London and New York: Routledge http://www.routledge.com/books/details/9780415346795/.
  7. 1 2 3 4 Lewis, Joanna I. (2023). Cooperating for the Climate: Learning from International Partnerships in China's Clean Energy Sector. Cambridge, Massachusetts: The MIT Press. ISBN 978-0-262-54482-5.
  8. 1 2 Klien, S. Rethinking Japan's Identity and International Role: An Intercultural Perspective. Routledge, 2002. p. 89. ISBN 978-0-415-93438-1.
  9. 1 2 China rips US for halting arms flow, aiding dissident, Chicago Sun-Times, 8 June 1989.
  10. 1 2 3 "中国共产党新闻网中日双边关系". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009.
  11. 1 2 "MOFA: Japan-China Joint Declaration On Building a Partnership of Friendship and Cooperation for Peace and Development". www.mofa.go.jp (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2018.
  12. "Japan's Akihito Ends Historic and Cordial Visit to China". Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 10 năm 1992. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  13. "China hails ex-Japanese PM Murayama who stated 'deep remorse' over WWII". South China Morning Post (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  14. "Joint Statement U.S.-Japan Security Consultative Committee". MOFA. ngày 19 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
  15. một lập luận mà Trung Quốc thường xuyên sử dụng để hỗ trợ các mục tiêu dân tộc chủ nghĩa của họ
  16. Kawashima, Shin (ngày 29 tháng 2 năm 2024). "China and Japan: What's in a Term?". The Diplomat (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2025.
  17. "Joint Statement between the Government of Japan and the Government of the People's Republic of China on Comprehensive Promotion of a "Mutually Beneficial Relationship Based on Common Strategic Interests" (May 7, 2008)". MOFA. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
  18. "Remarks by H.E. Mr. Taro Aso, Prime Minister of Japan, at the Reception to Commemorate the Thirtieth Anniversary of the Conclusion of the Treaty of Peace and Friendship between Japan and the People's Republic of China "My Personal Conviction regarding Japan-China Relations" (October 24, 2008)". MOFA. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010.
  19. Hagström, Linus (2008/09) "Sino-Japanese Relations: The Ice That Won't Melt," International Journal 64 (1): 223–40, http://heinonline.org/HOL/LandingPage?collection=journals&handle=hein.journals/intj64&div=22&id=&page
  20. "Backlash over the alleged China curb on metal exports". The Daily Telegraph, London, 29 Aug 2010. Retrieved 30 August 2010.
  21. "Japan abandons bid to make China a key pillar of its foreign policy". Christian Science Monitor. ISSN 0882-7729. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
  22. "China says Japan defence paper 'irresponsible'." AFP, 4 August 2011.[liên kết hỏng]
  23. "Anti-Japan Protests sweep throughout China, after Japanese Nationalists Land on Disputed Island". Eastern Odyssey. ngày 19 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012.
  24. "China Sends More Ships, as Disputed Island Row Grows". Eastern Odyssey. ngày 14 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012.
  25. 1 2 Nye, Joseph (March–April 2013). "Our Pacific Predicament". The American Interest. VIII (4). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  26. "China banks pull out of meetings in Japan." Al Jazeera, 3 October 2012.
  27. "Japan Exports Tumble 10% as Maehara Presses BOJ to Ease: Economy". Bloomberg. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.
  28. "Japan protests Chinese plane entering their airspace."
  29. Sevastopulo, Demetri; Soble, Soble (ngày 28 tháng 10 năm 2013). "China-Japan relations take turn for worse". Financial Times. The Financial Times Ltd. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  30. "日本首相安倍晋三要参拜靖国神社". ngày 26 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2014.
  31. "Japan's Blunt Stance Riles China, S. Korea."
  32. "Dawn Blitz grabs China's attention". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013.
  33. "「憲法改正草案」を発表". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013.
  34. Howard W. French (2017). Everything Under the Heavens: How the Past Helps Shape China's Push for Global Power. Knopf Doubleday. tr. 21. ISBN 9780385353335.
  35. Landers, Peter (ngày 12 tháng 9 năm 2018). "Japan and China Find Common Ground in Trump's Tariffs as Leaders Meet". Wall Street Journal.
  36. "Shinzo Abe and Xi Jinping 'pledge Japan and China will deepen ties'". South China Morning Post (bằng tiếng Anh).
  37. "Japan and China forge new friendship during rare visit". SBS. ngày 27 tháng 10 năm 2018.
  38. "Japan and China try new approach to friendship, 40 years on". The Nikkei. ngày 23 tháng 10 năm 2018.
  39. "Shinzo Abe's advice to Xi Jinping on talking tariffs with Donald Trump at their G20 trade war dinner". South China Morning Post. ngày 6 tháng 12 năm 2018.
  40. "共同社:李克強下月訪日行程大致敲定". 香港電台. ngày 8 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2020.
  41. "日本首相安倍晋三将访华". Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
  42. Toàn văn Hán Việt: Sơn xuyên dị vực - Phong nguyệt đồng thiên - Ký chư Phật tử - Cộng kết lai duyên (山川異域 風月同天 寄諸佛子 共結來緣)
  43. Emiko Jozuka; Serenitie Wang (ngày 26 tháng 2 năm 2020). "China and Japan's budding relationship is thawing in the time of coronavirus". CNN. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2020.
  44. "Chinese gov't gives Japan 12,500 coronavirus test kits for free". Mainichi Daily News (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2020.
  45. "Taiwan's COVID-19 vaccine stocks more than doubled by Japan donation". Reuters. ngày 4 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2021.
  46. "'Thank you, Japan Airlines': Taiwan air traffic controller commends flight for bringing in vaccines". Apple Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2021.
  47. "China condemns Japan offering vaccine to Taiwan". NHK WORLD (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2021.
  48. "China summons Japan's ambassador over Taiwan comments | DW | 02.12.2021". Deutsche Welle (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2021.
  49. Lewis, Leo; Hille, Kathrin; Mitchell, Tom (ngày 28 tháng 12 năm 2021). "Japan and China agree to launch military hotline". Financial Times. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2021.
  50. 1 2 "China's missle [sic] landed in Japan's Exclusive Economic Zone". Asahi. ngày 5 tháng 8 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2022.
  51. "Hegseth to fly to the Philippines and Japan in first visit to Asian treaty allies at odds with China". AP News (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2025.
  52. Furubayashi, Yuka (ngày 6 tháng 10 năm 2025). "Japan to expand antidumping tariffs amid continued China overproduction". Nikkei Asia (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2025.
  53. 1 2 Gale, Alastair (ngày 26 tháng 8 năm 2024). "Chinese Military Plane Enters Japan Airspace for First Time". Bloomberg News. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2024.
  54. "Japan asks China not to fly jets too close to Japanese military aircraft". Business Standard. ngày 11 tháng 7 năm 2025.
  55. "'Taiwan contingency' could prompt Japanese armed reaction: Japan PM - Focus Taiwan". Focus Taiwan - CNA English News (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  56. "Japan protests 'inappropriate' post by Chinese consul-general on Takaichi remark". NHK World. ngày 10 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  57. "China Escalates Japan Spat With Threats of Economic Reprisal". Bloomberg News. ngày 17 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
  58. "Explainer: Why did Japan PM's Taiwan remarks cause such a stir?". Reuters. ngày 11 tháng 11 năm 2025.
  59. Chen, Laurie; Geddie, John (tháng 11 năm 2025). "Japan rebukes Chinese diplomat as Taiwan furore escalates". Reuters. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2025.
  60. Geddie, John; Lee, Liz (tháng 11 năm 2025). "'Crossed the line': Chinese state media blast Japan PM as Taiwan spat rumbles on". Reuters. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2025.
  61. "China and Japan in escalating spat over Taiwan: What to know". www.bbc.com (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
  62. Geddie, John; Lee, Liz (tháng 11 năm 2025). "Japan warns citizens in China about safety as diplomatic crisis deepens". Reuters. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2025.
  63. Davidson, Helen; McCurry, Justin (ngày 16 tháng 11 năm 2025). "China sends coast guard to Senkaku islands amid row with Japan". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
  64. Cash, Joe; Kelly, Tim (ngày 20 tháng 11 năm 2025). "China says trade cooperation with Japan 'severely damaged' by Taiwan comments". Reuters.