Phạt Tống lộ bố văn
Phạt Tống lộ bố văn (chữ Hán: 伐宋露布文 Bài tuyên bố về việc đánh Tống) là bài hịch văn do Lý Thường Kiệt, tướng nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, viết và cho yết bảng ở khắp nơi trên đất Tống mà quân lính đi qua trong Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076.
Hoàn cảnh ra đời và nội dung
Nhà Tống dưới thời Tống Thần Tông bị sự uy hiếp của các nước Liêu và Hạ phương Bắc phải cống nộp nhiều của cải và bị cắt nhiều phần lãnh thổ. Tể tướng Vương An Thạch chủ trương khuếch trương về phương Nam và lấy khí thế để mở rộng cương vực cho Trung Nguyên về phương Bắc (đánh Liêu và Hạ). Vua Tống liền phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây Kinh lược sứ năm 1073 lo việc xuất quân.
Phía nhà Lý, năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, Thái tử Càn Đức lúc này mới 7 tuổi lên thay, tức là vua Lý Nhân Tông. Thái phi Ỷ Lan và Lý Thường Kiệt làm phụ chính.
Đại Việt xét đánh trước có lợi hơn và tính rằng quân Tống có vào Đại Việt tất phải qua Ung Châu theo đường bộ và qua các cửa biển Khâm Châu và Liêm Châu theo đường thủy nên Lý Thường Kiệt chủ trương ra tay trước, quyết tâm phá trước các cứ điểm này của người Tống. Từ năm 1073, Lý Thường Kiệt đã tập trung nhiều quân ở biên giới.
Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt mang khoảng 10 vạn quân vào đất Tống. Để có danh chính ngôn thuận trong việc dùng binh bắc phạt, Lý Thường Kiệt soạn bài Phạt Tống lộ bố văn (Bài tuyên bố về việc đánh Tống), công bố cho dân Trung Quốc trong những vùng quân Lý đi qua được biết. Bài hịch trước hết giải thích cho mọi người dân Trung Hoa vùng biên giới thấy rõ tội ác của triều đình nhà Tống. Dựa theo sách Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên soạn thời Nam Tống thì nội dung bài hịch như sau:
Nguyên văn chữ Hán:
天生蒸民,君德則睦。君民之道,務在養民。今聞,宋主昏庸,不循聖范。聽安石貪邪之計,作青苗助役之科。使百姓膏脂涂地,而資其肥己之謀。
蓋萬民資賦於天,忽落那要离之毒。在上固宜可憫,從前切莫須言。
本職奉國王命,指道北行。欲清妖孽之波淘,有分土無分民之意。要掃腥穢之污濁,歌堯天享舜日之佳期。
我今出兵,固將拯濟。檄文到日,用廣聞知。切自思量,莫懷震怖。
Phiên âm Hán-Việt:
Thiên sinh chưng dân, quân đức tắc mục. Quân dân chi đạo, vụ tại dưỡng dân. Kim văn, Tống chủ hôn dung, bất tuần thánh phạm. Thính An Thạch tham tà chi kế, tác “thanh miêu”, “trợ dịch” chi khoa. Sử bách tính cao chi đồ địa, nhi tư kỳ phì kỷ chi mưu.
Cái vạn dân tư phú ư thiên, hốt lạc na yếu li chi độc. Tại thượng cố nghi khả mẫn, tòng tiền thiết mạc tu ngôn.
Bản chức phụng quốc vương mệnh, chỉ đạo Bắc hành. Dục thanh yêu nghiệt chi ba đào, hữu phân thổ vô phân dân chi ý. Yếu tảo tinh uế chi ô trọc, ca Nghiêu thiên hưởng Thuấn nhật chi giai kỳ.
Ngã kim xuất binh, cố tương chủng tế. Hịch văn đáo nhật, dụng quảng văn tri. Thiết tự tư lường, mạc hoài chấn bố.
Dịch nghĩa (Bản dịch của Trần Văn Giáp) :
Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép "thanh miêu", "trợ dịch", khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập.
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi!
Ý nghĩa
Một mặt, Lý Thường Kiệt kể tội các quan nhà Tống mưu xâm chiếm Giao Chỉ nên nhà Lý phải mang quân đánh. Mặt khác, ông lợi dụng mâu thuẫn giữa hai phe bảo thủ (Tư Mã Quang đứng đầu) và cách tân (Vương An Thạch đứng đầu) trong triều đình nhà Tống nhằm chia rẽ địch; ông bài xích những chính sách "thanh miêu", "trợ dịch" của nhà Tống để kích động sự oán hận của dân Tống.
Dân Tống thấy lời tuyên cáo đều vui mừng đồng tình, mang rượu thịt ra khao quân Lý. Từ đó mỗi khi dân Tống thấy cờ hiệu Lý Thường Kiệt từ xa đều nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam và cùng nhau bày án bái phục trên đường. Do đó uy danh quân Lý lan rất xa.[1]
Lý Thường Kiệt mang đại quân đến vây đánh cuối cùng hạ được Ung châu như dự định ông đặt ra ban đầu. Phá thành xong, triệt hạ cơ sở quân sự chuẩn bị nam xâm của nhà Tống, Lý Thường Kiệt rút quân về Đại Việt.
Xem thêm
Tham khảo
- Hoàng Xuân Hãn (1996), Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nhà Xuất bản Hà Nội.
- Phạt Tống lộ bố văn, thivien.net.
Chú thích
- ↑ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr. 174.