Bước tới nội dung

Đánh bóng (bóng chày)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Phát bóng (bóng chày))
Marcus Thames của đội Detroit Tigers đang phát bóng vào năm 2007.

Trong bóng chày, đánh bóng là hành động vung gậy cố gắng đập trúng bóng được ném bởi cầu thủ giao bóng bên đội đối phương để phát động cơ hội chiếm chốt và ghi điểm, được thực hiện trong lượt tấn công của một đội trong mỗi hiệp thi đấu. Cầu thủ khi lên bục đánh theo lượt, lúc này gọi là cầu thủ đánh bóng hay tay đập là người sẽ cố gắng đánh bóng. Đây là một hành động hầu như chỉ có ở trong môn bóng chày và các môn thể thao sử dụng bóng và gậy khác. Hành động này liên quan đến động tác xoay người vung gậy trên phương mặt phẳng nằm ngang, không giống như hầu hết các chuyển động trong thể thao khác xảy ra trong mặt phẳng thẳng đứng.[1]

Mục đích

Nhìn chung, mục tiêu chính cơ bản nhất của cầu thủ tấn công là tránh bị loại (out) và giúp đội nhà ghi điểm (runs). Có một số cách để góp phần thực hiện mục tiêu trên, có bao gồm dưới đây:

  • Tay đập ghi được hit - đập trả bóng do cầu thủ giao bóng ném đập đất trong 2 vạch biên và tay đập chạy kịp lên ít nhất một chốt. Nếu có thể, tay đập có để đập bóng ra khỏi mặt sân giữa 2 vạch biên, hay còn gọi là home run, để ghi điểm trực tiếp và đẩy tất cả chân chạy trên các chốt về ghi điểm cùng.
  • Tay đập có thể để được đẩy lên chốt (base on balls/walk) nếu để cầu thủ giao bóng đối phương ném bốn lần chệch khỏi vùng "bóng tốt" mà không vung gậy, hoặc bị cầu thủ giao bóng ném bóng vào người.
  • Trong trường hợp có chân chạy đội nhà trên chốt ba và lượt tấn công chưa bị 2 lần out, tay đập có thể thực hiện đánh một cú bóng cao thế mạng sacrifice fly - đập bóng lên cao xa nhất có thể và chấp nhận bị loại khi đối phương bắt bóng chưa chạm đất (fly out). Tuy nhiên, tình huống trên giúp chân chạy có cơ hội đạp chốt ba (tag up) chạy về chốt nhà ghi điểm, do bóng bị bắt ở quá xa để kịp ném về và loại cầu thủ này.
  • Trong trường hợp có chân chạy đội nhà trên chốt và lượt tấn công chưa bị 2 lần out, tay đập có thể thực hiện giơ gậy chạm bóng (bunt) thế mạng, hay còn gọi là sacrifice bunt để đẩy chân chạy tới chốt trên dễ về nhà ghi điểm hơn. Một biến thể của chiến thuật này là hit and run, khác biệt ở chỗ tay đập thay vì bunt thì vung gậy đánh bóng làm sao đảm bảo bóng chạm đất.
  • Một số cách khác để lên chốt an toàn bao gồm việc đối phương mặc lỗi phòng thủ (error). Một trường hợp khác, khi không có chân chạy trên chốt một, nếu cầu thủ bắt bóng không bắt gọn cú ném strike thứ ba, tay đập có quyền chạy lên chốt một trước khi bị ném loại.[2]

Trong khi đó mục tiêu của bên đang phòng ngự là loại các tay đập hoặc chân chạy trên chốt (out) và không để họ tiến tới về chốt nhà ghi điểm. Trong đó cầu thủ giao bóng có nhiệm vụ chính là ném bóng làm sao để các tay đập không vụt được và bị strikeout hoặc đập trả bóng dễ bị hàng phòng ngự thu hồi để loại anh ta.

Tiêu chí đánh giá thành tích

Cầu thủ Ōtani Shōhei đập một cú home run, năm 2021

Việc đánh bóng chày thường được coi là kĩ năng khó thực hiện nhất trong thể thao do kết hợp giữa phản xạ bắt kịp một quả bóng nhỏ di chuyển ở tốc độ cao và quĩ đạo biến hóa, và việc đập trúng bóng đó trên bề mặt tiếp xúc rất hẹp của một cây gậy hình trụ. Ngoài ra, cùng với lực đánh, vị trí tiếp xúc giữa bóng và gậy ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của pha bóng đập trả.[3]

Những cầu thủ ghi được hit trung bình chỉ 3 lần trên 10 lượt đánh, tức tỉ lệ đánh bóng hay tỉ lệ đạt hit (batting average) 0,3 đã có thể được coi là một tay đập xuất sắc. Tại Major League Baseball, chưa một cầu thủ nào đạt được tỉ lệ hit 0,4 trở lên trong một mùa giải kể từ Ted Williams đạt tỉ lệ 0,406 năm 1941, và chưa ai đạt được tỉ lệ hit trong sự nghiệp đến 0,367, với Ty Cobb có sự nghiệp tiến sát nhất chỉ số trên với 0,3664.[4]

Trong thống kê bóng chày hiện đại, người ta thường ưu tiên thông số tổng chỉ số lên chốt và slugging (hay gọi tắt là OPS) để đánh giá năng lực đánh bóng toàn diện của một cầu thủ, bao gồm hai chỉ số thành phần:

  • Tỉ lệ lên chốt an toàn (on-base percentage): tỉ lệ chia số lần cầu thủ lên chốt an toàn (bao gồm hit và walk, cũng như bóng chết) trên số lần lên đánh.
  • Tỉ lệ đập xa, hay tỉ lệ slugging (slugging percentage): tỉ lệ chia tổng số chốt lên được qua các tình huống đập trả bóng và số lần lên đánh.

Chỉ số OPS trong khoảng 1,0 được xem là dấu hiệu của một tay đập giỏi, còn OPS từ 1,0 trở lên trong suốt sự nghiệp là thành tích rất ít tay đập trong lịch sử có thể đạt được.

Khía cạnh chiến thuật

Cầu thủ Akamatsu Masato của Hiroshima Toyo Carp đang đánh bóng.

Các cầu thủ có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi đánh. Một số là những tay đánh quyết liệt, thường vồ lấy đánh cú ném đầu tiên (vì các tay ném thường cố gắng ném cú ném đầu tiên vào vùng strike để lấy lợi thế). Những người khác thì kiên nhẫn hơn, cố gắng kéo dài số ném để quan sát tất cả các loại cú ném mà tay ném có thể sử dụng, cũng như làm cho họ mệt mỏi bằng cách buộc anh ta phải ném nhiều cú từ đầu trận. Nói chung, những người đánh bóng thiên về điều chày thường quyết liệt hơn, vung chày trước mọi cú ném có thể trong vùng strike, trong khi những người đánh bóng nặng về sức mạnh sẽ bỏ qua những cú ném ở rìa vùng strike để chờ cú ném mà họ có thể đánh mạnh để lên nhiều chốt hơn.

Công tác khởi động

Để chuẩn bị cho việc đánh bóng, mỗi cầu thủ đều có thói quen khởi động riêng biệt. Việc khởi động trước trận đấu thường được thực hiện theo nhóm ở cấp độ không chuyên, và tập trung vào việc giúp cầu thủ có được trạng thái tâm sinh lý thích hợp khi đánh bóng.

Một trong những bài tập phổ biến nhất được sử dụng là "Tập đánh với giá đỡ bóng" (tee drill), trong đó cầu thủ đánh quả bóng được đặt trên giá đỡ bóng chuyên dụng, trong đó họ điều chỉnh bất kỳ vấn đề nào họ phải trong các trận đấu hoặc buổi tập trước đó. [5] Ngoài ra còn có nhiều thiết bị hỗ trợ khác nhau được sử dụng trong quá trình khởi động ở "ô chờ khởi động" để giúp tăng tốc độ đánh bóng. Các thiết bị bổ sung thường có nhiều mức kháng lực khác nhau so với cây chày thi đấu, bao gồm việc cầm gộp và vung nhiều chày một lục, chày bóng mềm tiêu chuẩn 23 oz, gậy bóng mềm nặng cỡ 26 oz, gậy bóng mềm nhẹ cỡ 18 oz và vòng tạ chày (16 oz). [6] [7] [8] Các thiết bị khởi động có trọng lượng thường được sử dụng vì người chơi cảm thấy rằng việc khởi động với gậy nặng hơn sẽ giúp họ tăng tốc độ đánh bóng. Sau khi khởi động với chày nặng hơn, chày bình thường có vẻ nhẹ hơn và cầu thủ cảm thấy có thể vung nhanh hơn. [9] Tác dụng của các thiết bị này không chỉ là về mặt tinh thần mà còn có thể là về mặt thể chất. Kháng lực khởi động nặng kích thích hệ thần kinh, cho phép tăng cường kích thích cơ bắp khi vung chày tiêu chuẩn. Việc sử dụng chày nặng nhẹ dựa trên nguyên lý huấn luyện phức hợp, trong đó các set kháng lực nặng và nhẹ hơn được thực hiện luân phiên để tăng hiệu suất cơ bắp. Lý thuyết này xoay quanh việc tần suất co cơ mạnh hơn sau khi đạt gần mức phát lực tối đa. Việc tăng cường sau kích hoạt cải thiện tần suất kích thích của các tế bào thần kinh vận động và tăng số đơn vị vận động được kích hoạt, dẫn đến công suất phát lực ở đầu ra lớn hơn. Trọng lượng bổ sung cũng có thể giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp ở cẳng tay và cổ tay, góp phần làm tăng tốc độ vung, [10] tuy nhiên một số bằng chứng cho thấy tác dụng này thiên về mặt tâm lý hơn là mặt cơ sinh học. [11]

Barry Bonds đứng ở khu vực khởi động cùng với nhiều dụng cụ hỗ trợ.

Tham khảo

  1. Eben, W.P. (tháng 6 năm 2006). "Multimode Resistance Training to Improve Baseball Batting Power". Journal of Strength and Conditioning Research. Quyển 28 số 3. tr. 32–36. doi:10.1519/00126548-200606000-00005.
  2. Baseball Explained by Phillip Mahony, McFarland Books, 2014. See www.baseballexplained.com Lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2014 tại Wayback Machine
  3. Rynston-Lobel, Eric (ngày 6 tháng 8 năm 2020). "Hitting a baseball is the hardest skill to pull off in sports. Here's why". Popular Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2025.
  4. "Career Leaders & Records for Batting Average". Sports Reference LLC. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010.
  5. "13 Baseball Hitting Drills That Put POWER Behind Your Swing". Best Baseball Hitting Drills. ngày 23 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2016.
  6. DeRenne, C (tháng 4 năm 2009). "Effect of Baseball Weighted Implemented Training: A Brief Review". Journal of Strength and Conditioning Research. 31 (2): 30–37. doi:10.1519/ssc.0b013e31819d3396. S2CID 43652893.
  7. Szymanski, D.J. (tháng 2 năm 2011). "Effects of Various Warm-up Devices on Bat Velocity of Intercollegiate Baseball Players". Journal of Strength and Conditioning Research. 25 (2): 287–292. doi:10.1519/jsc.0b013e318202e31e. PMID 21240027. S2CID 52801138.
  8. Szymanski, David (2012). "Effect of Various Warm-up Devices on Bat Velocity of Intercollegiate Softball Players". Journal of Strength and Conditioning Research. 26 (1): 199–205. doi:10.1519/jsc.0b013e31821b7cde. PMID 22201694. S2CID 3515725.
  9. Montoya, B.J. (2009). "Effect of Warm-up With Different Weighted Bats on Normal Baseball Bat Velocity". Journal of Strength and Conditioning Research. 23 (5): 1566–1569. CiteSeerX 10.1.1.605.7505. doi:10.1519/jsc.0b013e3181a3929e. PMID 19593220. S2CID 35607047.
  10. Reyes, Francis (2009). "Acute Effects of Various Weighted Bat Warm-Up Protocols on Bat Velocity". Journal of Strength and Conditioning Research. 23 (7): 2114–2118. doi:10.1519/jsc.0b013e3181b3dd32. PMID 19855339. S2CID 13611243.
  11. Otsuji, Tamiki; Abe, Masafumi; Kinoshita, Hiroshi (ngày 1 tháng 2 năm 2002). "After-Effects of Using a Weighted Bat on Subsequent Swing Velocity and Batters' Perceptions of Swing Velocity and Heaviness". Perceptual and Motor Skills (bằng tiếng Anh). 94 (1): 119–126. doi:10.2466/pms.2002.94.1.119. ISSN 0031-5125. PMID 11883550. S2CID 25117394.