Bước tới nội dung

Pháo MK 103

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
MK 103
LoạiPháo tự động một nòng
Nơi chế tạoĐức
Lược sử hoạt động
Phục vụ1943–1945
Sử dụng bởiKhông quân và Lục quân Đức quốc xã
TrậnThế chiến II
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuấtRheinmetall-Borsig
Thông số
Khối lượng141 kg (311 lb)
Chiều dài2.335 mm (91,9 in)
Độ dài nòng1.338 mm (52,7 in)

Đạn30x184B
Trọng lượng đạn800 g (28 oz)) HE/M
Cỡ đạn30 mm (1,181 in)
Cơ cấu hoạt độngNạp đạn bằng khí nén
Tốc độ bắn380 (HE/M) tới 420 viên/phút ((APCR)
Sơ tốc đầu nòng860 m/s (2.800 ft/s) HE/M; 940 m/s (3.100 ft/s) APCR

Rheinmetall-Borsig MK 103 (“MK” – Maschinenkanone) là một pháo tự động cỡ nòng 30 mm của Đức, được lắp trên máy bay chiến đấu Đức trong Thế chiến II. Ban đầu được thiết kế như một loại vũ khí đa nhiệm dùng cho cả chống tăng và không chiến, nó được phát triển từ MK 101. So với MK 101, MK 103 có tốc độ bắn cao hơn và ban đầu cũng được kỳ vọng đạt vận tốc đầu nòng lớn hơn MK 101. Không giống MK 101, MK 103 sử dụng hệ thống nạp đạn bằng dây (belt-fed), cho phép mang theo lượng đạn lớn hơn. MK 103 sử dụng kíp nổ điện thay vì kíp nổ cơ học kiểu va đập. Cơ cấu hoạt động của nó khác MK 101 (vốn hoạt động bằng giật lùi thuần túy), ở chỗ MK 103 kết hợp cả cơ chế khí và giật lùi. Sau khi bắn, áp suất khí được sử dụng để mở khóa khóa nòng, trong khi lực giật của nòng được dùng để thực hiện chu trình hoạt động (đẩy vỏ đạn đã bắn ra và nạp viên đạn mới).

Do sử dụng thép chất lượng thấp hơn và các bộ phận nhẹ hơn, cơ cấu của MK 103 không bền chắc bằng MK 101. Để khắc phục điểm yếu này, đạn nổ mạnh (HE) được giảm liều thuốc phóng, dẫn đến vận tốc đầu nòng giảm khoảng 100 m/s so với MK 101, nhưng tốc độ bắn lại được tăng lên. MK 103 được đưa vào trang bị từ năm 1943 như vũ khí chính của máy bay tấn công mặt đất/diệt tăng Hs 129 B-1, lắp dưới thân máy bay trong một cụm vũ khí dạng pod khí động học.

Yêu cầu thiết kế ban đầu của MK 103 là phải có thể lắp trong cụm động cơ máy bay như một pháo xuyên trục (tiếng Đức: Motorkanone), bắn qua trục rỗng của cánh quạt, nhưng nó quá lớn và nặng để lắp vào các tiêm kích nhỏ như Bf 109. Khi lắp ở vị trí khác như cánh máy bay, lực giật không đối xứng của pháo khiến mũi máy bay bị lệch hướng (yaw). Các trường hợp sử dụng MK 103 trong cấu hình Motorkanone được ghi nhận chỉ có trên Do 335 và Ta 152 C3 (có thể cả BV 155, Bf 109K-14). Một biến thể với nòng thiết kế gọn hơn là MK 103M được phát triển và có thể đã được thử nghiệm cho cấu hình Motorkanone trên các tiêm kích một động cơ như Bf 109K, nhưng nhiều khả năng không được đưa vào sử dụng thực tế. Do đó, MK 103 chủ yếu bị giới hạn trong vai trò vũ khí tấn công mặt đất dùng để chống xe bọc thép.

Khối lượng đầu đạn của MK 103 là 330 g (HE/M) và 355 g (đạn xuyên giáp APCR). Khả năng xuyên giáp của đạn APCR đạt 42–52 mm ở góc 60° ở khoảng cách 300 m, hoặc 75–95 mm ở góc 90° ở khoảng cách 300 m.

Về sau trong chiến tranh, MK 103 cũng được sử dụng như pháo phòng không mặt đất, với các bệ đơn hoặc đôi. Nó cũng được lắp trên xe phòng không Flakpanzer IV “Kugelblitz”.

Phát triển song song với MK 103 là pháo MK 108 nhẹ hơn, có nòng ngắn hơn và sử dụng cơ chế giật lùi cải tiến. Nó bắn cùng loại đạn đầu đạn nhưng dùng vỏ đạn nhỏ hơn với ít thuốc phóng hơn, dẫn đến vận tốc đầu nòng thấp hơn. Nòng ngắn giúp MK 108 dễ tích hợp hơn nên được sử dụng rộng rãi hơn rất nhiều.

Tham khảo Pháo MK 103

  • Anthony G. Williams & Dr. Emmanuel Gustin. The Flying Guns of World War II.
  • Archived DeutscheLuftwaffe.de's MK 103 detailed information page, with photos of internal and gun pod mounts-in German