Phong trào Mặt trận thứ ba





Third Front Movement-phong trào Mặt trận thứ Ba (tiếng Trung: 三线建设; bính âm: Sānxiàn jiànshè) hay Xây dựng Mặt trận thứ Ba là một chiến dịch của Chính phủ Trung Quốc nhằm phát triển các cơ sở công nghiệp và quân sự của Trung Quốc. Chiến dịch này được thúc đẩy do Trung Quốc lo ngại về chiều sâu chiến lược của các cơ sở hạ tầng công nghiệp và quân sự hiện có của nước này dễ bị tổn thương trong trường hợp Liên Xô xâm lược hoặc khi Mỹ tấn công ném bom Trung Quốc. Đây cũng là chiến dịch phát triển lớn nhất trong thời kỳ Mao Trạch Đông, đã đầu tư rất lớn vào quốc phòng, khoa học công nghệ, công nghiệp cơ bản như chế tạo, khai thác mỏ, kim loại và điện khí, giao thông vận tải và các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng khác và được thực hiện chủ yếu một cách bí mật.
Mặt trận thứ ba là một chiến lược địa quân sự nhằm đảm bảo Trung Quốc có khả năng phòng thủ chiều sâu tốt hơn. Các địa phương thực hiện Chiến dịch này bao gồm 13 tỉnh và khu tự trị với vùng lõi ở Tây Bắc (Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ và Thanh Hải) và vùng Tây Nam (Trùng Khánh, Tứ Xuyên, Vân Nam và Quý Châu). Sự phát triển của nó được thúc đẩy bởi các cân nhắc về quốc phòng sau khi Chiến tranh Việt Nam leo thang sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, chia rẽ Trung-Xô và các cuộc xung đột biên giới nhỏ lẻ giữa Trung Quốc và Liên Xô.
Chiến dịch này đã công nghiệp hóa một phần vùng nội địa hiểm trở và khu vực nông nghiệp lạc hậu của Trung Quốc. Từ năm 1964 đến năm 1980, Trung Quốc đầu tư 205 tỷ Nhân dân tệ vào Mặt trận thứ 3, chiếm 39,01% tổng đầu tư quốc gia vào các ngành công nghiệp cơ bản và cơ sở hạ tầng. Hàng triệu công nhân nhà máy, cán bộ, trí thức, quân nhân và hàng chục triệu công nhân xây dựng đã đổ về các vùng sâu xa trong nội địa Trung Quốc và đã có hơn 1.100 dự án lớn và vừa đã được thành lập trong thời kỳ này. Các dự án lớn như Tuyến đường sắt Thành Đô-Côn Minh, Nhà máy thép Phàn Chi Hoa và Nhà máy Ô tô số 2, Phong trào Mặt trận thứ Ba đã thúc đẩy nền kinh tế nghèo nàn và chỉ dựa vào nông nghiệp ở các vùng Tây Bắc và Tây Nam Trung Quốc. Hàng chục thành phố như Miên Dương, Đức Dương, và Phàn Chi Hoa ở Tứ Xuyên, Quý Dương ở Quý Châu, và Thập Yển ở Hồ Bắc, đã vươn mình trở thành những thành phố công nghiệp lớn.
Tuy nhiên, nhiều dự án của Mặt trận thứ Ba đã không hiệu quả về kinh tế do vị trí địa lý hoặc thiếu sót do thi công vội vã. Vì lý do quốc phòng mà việc lựa chọn vị trí các dự án của Mặt trận thứ Ba phải tuân theo nguyên tắc "Gần núi, phân tán, kín đáo". Nhiều dự án của Mặt trận thứ Ba đặt tại các khu vực hẻo lánh, khó tiếp cận và xa nguồn cung cấp cũng như thị trường tiềm năng. Phong trào này cũng được tiến hành một cách vội vã. Nhiều dự án trong Mặt trận thứ Ba được thiết kế, xây dựng và đưa vào sản xuất cùng một lúc.
Sau khi mối quan hệ Trung Quốc và Hoa Kỳ bớt căng thẳng, làm giảm bớt các cân nhắc về xây dựng các cơ sở quốc phòng, đã khiến sự đầu tư vào các dự án quốc phòng trong khuôn khổ Mặt trận thứ Ba giảm đi. Sau khi cải cách Doanh nghiệp nhà nước từ những năm 1980, nhiều nhà máy được đầu tư và xây dựng trong giai đoạn tiến hành chương trình Mặt trận thứ Ba đã bị phá sản, dù cho một số nhà máy đã tự tái cấu trúc và tiếp tục là trụ cột t rong nền kinh tế địa phương hoặc phát triển thành các doanh nghiệp tư nhân thành công.
Định nghĩa Phong trào Mặt trận thứ ba
Mao Trạch Đông đã đưa ra ý tưởng về Mặt trận thứ ba để tái bố trí cơ sở hạ tầng quan trọng và các cơ sở quốc phòng ở ngững khu vực xa biên giới,[1](tr177) đảm bảo khả năng phòng thủ theo chiều sâu đất nước.[2] Mô tả về nền tảng địa lý của khái niệm này, ông nói:[1](tr177)
Mặt trận đầu tiên của chúng ta là khu vực ven biển, mặt trận thứ hai là tuyến từ Bao Đầu đến Lan Châu và tây nam sẽ là Mặt trận thứ ba ... trong thời kỳ bom nguyên tử, chúng ta cần một hậu phương chiến lược để có thể rút lui, và chúng ta cần chuẩn bị sẵn sàng tiến vào vùng núi để tiến hành chiến tranh du kích. Chúng ta cần một nơi như thế này.
"Mặt trận thứ ba" bao gồm các tỉnh Tây Bắc Trung Quốc và Tây Nam như Thanh Hải, Tứ Xuyên, Quý Châu và Vân Nam.[3](trxiv) Trong khi, "Mặt trận thứ Nhất" bao gồm các thành phố lớn từ Mãn Châu đến Đồng bằng sông Châu Giang và "Mặt trận thứ Hai" bao gồm các thành phố nhỏ nằm sâu vào đất liền hơn so với Mặt trận thứ Nhất.[3](trxiv)
"Mặt trận thứ ba nhỏ" đề cập đến các vùng hiểm trở xa xôi ở các tỉnh như Sơn Tây, An Huy và Hà Bắc.[3](trxiv) Tương tự như "Mặt trận thứ ba lớn" các nhà hoạch định Trung Quốc dự định Mặt trận thứ ba nhỏ sẽ tạo thành một phần mạng lưới sức mạnh quân sự và công nghiệp để có thể chống lại cuộc xâm lược hoặc tấn công hạt nhân tiềm tàng.[3](trxvi-xvii)
Quá trình Phong trào Mặt trận thứ ba
Trước khi xây dựng Mặt trận thứ ba, mười bốn thành phố lớn có khả năng tổn thương trước chiến tranh của Trung Quốc chiếm 60% ngành sản xuất của cả nước, 50% ngành công nghiệp hóa chất và 52% công nghiệp quốc phòng.[1](tr177) Đặc biệt vùng đông bắc là trung tâm công nghiệp của Trung Quốc.[1](tr177) Các trung tâm dân cư của Trung Quốc cũng tập trung ở các khu vực ven biển phía đông, dễ bị tấn công từ trên không hoặc từ phía biển.[1](tr177) Trong quá trình xây dựng Mặt trận thứ ba, Trung Quốc đã xây dựng một khu vực cơ sở công nghiệp tự cung tự cấp làm dự trữ chiến lược trong trường hợp xảy ra chiến tranh.[4](tr1) Chiến dịch được lên kế hoạch tập trung.[4](tr37) Kế hoạch xây dựng các cơ sở công nghiệp và quốc phòng trong Mặt trận thứ 3 được giữ bí mật và chỉ được đề cập tới lần đầu trên tờ Nhân Dân nhật báo lần đầu năm 1978.[3](trxvii)
Trung Quốc đã thực hiện 1.100 dự án trong khuôn khổ Mặt trận thứ ba (thành lập được 1.945 doanh nghiệp công nghiệp và viện nghiên cứu) trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1980.[4](tr202) Các trường Đại học lớn của Trung Quốc gồm cả Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh cũng mở các cơ sở tại các thành phố triển khai dự án Mặt trận thứ ba.[1](tr179) Tổng chi phí các dự án Mặt trận thứ ba trong giai đoạn 1965 đến 1980 là 20,52 tỷ Nhân dân tệ[4](tr202) (tuơng đương với 2,5 tỷ USD).[1](tr180)
Từ năm 1964 đến năm 1974, Trung Quốc đã đầu tư hơn 40% năng lực công nghiệp của mình vào các thành phố thuộc Khu vực triển khai Mặt trận thứ ba.[5](tr297–298) Cuối cùng, việc xây dựng Mặt trận thứ ba đã tiêu tốn hơn một phần ba chi tiêu của Trung Quốc trong suốt 15 năm triển khai xây dựng Mặt trận thứ ba.[1](tr180) Mặt trận thứ ba đã trở thành Chiến dịch phát triển đất nước tốn kém nhất trong thời kỳ Mao Trạch Đông.[4](tr2)
Với phương châm dành những người giỏi nhất và những nguồn lực và công cụ tốt nhất cho Mặt trận thứ ba, nhiều kỹ sư, nhà khoa học và trí thức đã được chuyển đến gây dựng các cơ sở công nghiệp/quốc phòng của Mặt trận thứ ba.[1](tr179)[4](tr80) Phương pháp xây dựng Mặt trận thứ ba là kết hợp cả kỹ thuật công nghệ thấp và kỹ thuật công nghệ cao.[4](tr37)
Bối cảnh
Vào năm 1937, Chính phủ Quốc dân khi chuẩn bị cho Chiến tranh Trung – Nhật đã soạn thảo một chính sách là chuyển các cơ sở công nghiệp sang khu vực Tây Bắc và Tây Nam của Trung Quốc, đặc biệt là phát triển ngành khai thác mỏ và công nghiệp nặng ở các vùng này.[6][7] Mặc dù chính sách này đã gieo mầm cho sự phát triển công nghiệp ở Tây Bắc nhưng trong thời kỳ Nội chiến Trung Quốc, sự phát triển này đã bị đình trệ.[8]
Sau khi cuộc Đại nhảy vọt, giới lãnh đạo Trung Quốc đã làm chậm tốc độ công nghiệp hóa.[4](tr3) Chính phủ Trung Quốc đầu tư nhiều hơn vào khu vực ven biênt của Trung Quốc và tập trung vào sản xuất hàng tiêu dùng.[4](tr3) Việc xây dựng Mặt trận thứ ba đã đảo ngược những xu hướng này, phát triển công nghiệp và huy động quần chúng xây dựng các dự án công nghiệp tại các vùng xa xôi của đất nước, một cách tiếp cận mà đã từng bị đình chỉ sau những thất bại của Đại nhảy vọt.[4](tr9)
Tháng 2 năm 1962, Trần Vân đề xuất Kế hoạch 5 năm lần thứ 3 của Trung Quốc phải "giải quyết được các vấn đề về lương thực, quần áo và các nhu yếu phẩm khác của cuộc sống." Chu Ân Lai trong báo cáo của mình với Hội đồng Nhà nước ngày 28 tháng 3 cũng báo cáo rằng: "Chính phủ nên đặt công nghiệp ở vị trí hàng đầu trong nền kinh tế quốc gia. Kế hoạch kinh tế nên tuân theo các ưu tiên như sau: nông nghiệp đứng đầu, công nghiệp nhẹ đứng thứ hai, công nghiệp nặng có ưu tiên thấp nhất". Đầu năm 1963, một nhóm các nhà hoạch định trung ương do Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Đàm Chấn Lâm, Bạc Nhất Ba dẫn đầu đã đặt ra nhiệm vụ giải quyết các vấn đề về lương thực, quần áo và các nhu yếu phẩm khác của cuộc sống làm ưu tiên cho các công việc kinh tế trong đề xuất của mình về Kế hoạch 5 năm lần thứ 3. Bản dự thảo của Kế hoạch này, trong đó Đặng Tiểu Bình cũng là một tác giả chính, không có điều khoản nào về công nghiệp hóa quy mô lớn ở nội địa Trung Quốc.[4](tr29)
Mao Trạch Đông trong khi đó phản đối đề xuất sơ bộ vì theo ông "Kế hoạch 5 năm lần thứ 3 […] cần phải thiết lập các ngành công nghiệp cơ bản ở khu vực Tây Nam đất nước". Ông nói rằng ngành nông nghiệp và quốc phòng giống như nắm đấm, còn các ngành công nghiệp cơ bản giống như hông. "Nắm đấm sẽ không thể mạnh mẽ nếu hông không được đặt vững chắc." Theo đánh giá của Mao Trạch Đông, có khả năng Trung Quốc sẽ phải tham gia vào cuộc chiến tranh trong khi dân số và các ngành công nghiệp lại tập trung ở bờ biển phía Đông. Một trong những cảm hứng cho việc thành lập Mặt trận thứ 3 là Mao đã trích dẫn ví dụ thất bại của Tưởng Giới Thạch trong việc thiết lập các cơ sở công nghiệp nằm sâu trong nội địa Trung Quốc trước khi xảy ra Chiến tranh Trung – Nhật dẫn đến việc Chính phủ Quốc dân buộc phải rút lui về một cơ sở công nghiệp nhỏ trong nội địa Trung Quốc trước sự xâm lược quy mô lớn của Nhật Bản.[4](tr24)
Tháng 4 năm 1964, Mao đã đọc một báo cáo của Bộ Tổng tham mưu do Phó Tổng tham mưu trưởng Dương Thành Vũ[4](tr54) trong đó đánh giá sự phân bố của ngành công nghiệp Trung Quốc, lưu ý rằng chúng chủ yếu tập trung ở 14 thành phố lớn ven biển, dễ bị tấn công hạt nhân hoặc không kích, và khuyến nghị Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu các biện pháp ngăn ngừa một cuộc tấn công bất ngờ.[4](tr4) Các trung tâm giao thông chính, cầu cảng và một số đập nằm gần thành phố lớn, nếu các cơ sở hạ tầng này bị phá hủy sẽ dẫn đến hậu quả thảm khốc. Đánh giá này đã thúc đẩy Mao Trạch Đông ủng hộ việc thành lập một khu công nghiệp nặng làm nơi trú ẩn cho quân dân sau khi rút lui trong trường hợp bị tấn công trong cuộc họp lập Kế hoạch nhà nước tháng 5/1964.[4](tr4) Ngay sau đó chương trình phát triển này được gọi là Mặt trận thứ ba, cơ sở công nghiệp nặng nằm sâu trong đất liền sẽ được thành lập dựa trên các doanh nghiệp được di dời từ thành phố ven biển.[4](tr4) Tháng 6 năm 1964, Mao Trạch Đông chủ trương mỗi tỉnh nên thành lập tổ hợp công nghiệp quân sự của riêng mình như một biện pháp bổ sung (sau này được đặt tên là Mặt trận thứ 3 nhỏ).[4](tr4)
Các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc gồm Đặng Tiểu Bình, Lưu Thiếu Kỳ và Lý Phú Xuân đã không hoàn toàn ủng hộ ý tưởng về Mặt trận thứ 3 của Mao Trạch Đông.[4](tr7) Thay vào đó họ tiếp tục nhấn mạnh vào việc phát triển khu vực ven biển và tập trung vào người tiêu dùng theo kế hoạch 5 năm lần thứ 3.[4](tr7) Theo quan điểm của những người này, thương mại quy mô nhỏ nên được nhấn mạnh để nâng cao mức sống người dân.[3](trxiii) Tuy nhiên Sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2/8/1964 đã làm thay đổi cuộc thảo luận về Kế hoạch 5 năm lần thứ 3.[4](tr7) Mao Trạch Đông lo ngại việc Mỹ có thể tấn công các cơ sở vũ khí hạt nhân của Trung Quốc ở Lan Châu và Bao Đầu và càng ủng hộ hơn nữa việc phát triển Mặt trận thứ 3.[9](tr100) Các nhà lãnh đạo chủ chốt khác cũng ngày càng lo ngại một cuộc xâm lược của Hoa Kỳ và việc phát triển Mặt trận thứ ba đã được ủng hộ.[4](tr7) Năm 1965, Dư Thu Lý-khi đó là Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã được trao trách nhiệm phụ trách Kế hoạch 5 năm lần thứ 3, với trọng tâm là chuẩn bị cho khả năng "các thế lực đế quốc sẽ phát động một cuộc chiến xâm lược Trung Quốc."[9](tr104)

Xây dựng Mặt trận thứ 3
Đặc điểm nổi bật của Chương trình phát triển này là sự chuyển dịch chiến lược các cơ sở công nghiệp và quốc phòng vào sâu trong nội địa Trung Quốc. Ngày 12/8/1964 Chu Ân Lai phê duyệt phát triển cụm công nghiệp khổng lồ ở Tây Nam Trung Quốc gồm: Nhà máy thép Phàn Chi Hoa (Tứ Xuyên), mỏ than Liupanshui (Quý Châu), và xây dựng đường sắt kết nối Tứ Xuyên, Vân Nam, và Quý Châu.[4](tr9)
Quá trình triển khai
Việc xây dựng Mặt trận thứ ba được thực hiện bí mật, với vị trí xây dựng các khu công nghiệp/quân sự được tuân theo quy tắc "gần núi, phân tán và không bộc lộ".[1](tr179) Nguyên tắc này được đưa ra bởi các cân nhắc của các nhà hoạch định Trung Quốc về quốc phòng, theo đó các nhà máy phải được đặt trong núi và không được tập trung về mặt địa lý để giảm thiệt hại do các cuộc không kích. Đây là kinh nghiệm được rút ra từ các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản với chiến tranh du kích.[10](tr213) Vì việc xây dựng các công trình Mặt trận thứ ba dựa trên những cân nhắc này nên các dự án được tiến hành cực kỳ tốn kém.[1](tr180) Việc phân tán ngành công nghiệp mới hoặc di dời các nhà máy về khu vực có địa hình hiểm trở đỏi hỏi cơ sở hạ tầng mới cho các tiện ích, thông tin liên lạc và vận tải.[4](tr205) Các nhà máy đôi khi được xây dựng trong khu phức hợp ngầm, làm tăng đáng kể chi phí.(tr206)[4] VD hai mươi nhà máy điện đã được xây ngầm trong Mặt trận thứ ba và đỏi hỏi phải gia cố kết cấu hang động mà các nhà máy được xây dựng và các đường hầm để cho khí thải thoát ra ngoài.[4](tr206–207)
Với tư cách là Giám đốc Ủy ban Kế hoạch, Lý Phú Xuân đã đặt ra các nguyên tắc thiết kế nêu rõ các dự án của Mặt trận thứ ba không nên trở nên quá "lớn và hoàn chỉnh" hoặc kết hợp với các tòa nhà hành chính, dịch vụ xã hội hay các cơ sở khác không liên quan đến sản xuất.[10](tr207) Thay vào đó, các nhà lãnh đạo dự án được chỉ đạo tận dụng những gì có sẵn, gồm cả việc xây dựng nhà ở bằng đất nện để có thể dành nhiều nguồn lực hơn cho việc sản xuất.[10](tr207) Điều này được thể hiện thông qua khẩu hiệu, "Xây dựng nhà máy trước, sau đó mới xây nhà ở"[10](tr207)
Đội ngũ nhân viên phục vụ trong dự án Mặt trận thứ ba được điều từ các vùng công nghiệp hóa của Trung Quốc, nhất là vùng Thượng Hải và vùng Đông Bắc Trung Quốc.[11](tr16) Những người nông thôn di cư, thanh niên bị đưa về nông thôn và những người công nhân học việc tại địa phuơng được tuyển dụng cũng góp phần cho Mặt trận thứ ba.[12](tr877) Những người lao động dành cho Mặt trận thứ ba phải đáp ứng các yêu cầu về thể chất và phải trải qua một cuộc kiểm tra về chính trị.[4](tr90) Đảng Cộng sản cấm tuyển dụng những người có gốc gia đình là địa chủ, nông dân giàu có, phản cách mạng, phần tử xấu hoặc [...] cánh hữu."[4](tr90)
Đội ngũ người lao động trong các dự án Mặt trận thứ ba có những phản ứng khác nhau khi được chọn.[4](tr81–82) Những người được tuyển dụng ở nông thôn có xu hướng coi đây là một bước tiến từ làm việc nông nghiệp sang làm việc công nghiệp và được trả lương cao hơn.[4](tr81) Những lợi ích về vật chất này giúp giảm bớt sự chia ly gia đình có thể xảy ra do công tác xa nhà. Những người được tuyển dụng ở thành thị, đã từng làm viêcj tại các vùng công nghiệp phát triển hơn, thì lợi ích của họ sẽ bị giảm đi khi phải di chuyển sang gây dựng vùng công nghiệp mới còn non trẻ.[4](tr81) Nếu những người lao động thành thị được tuyển chọn gây dựng Mặt trận thứ ba nhưng từ chối nhiệm vụ sẽ bị mất đi tư cách là đảng viên và quyền làm việc tại các cơ quan nhà nước.[4](tr81) Tuy nhiên những người lao động nhận nhiệm vụ ở Mặt trận thứ 3 đã được nhận một "khoản trợ cấp để giữ bị mật".[4](tr187) Theo như phân tích của học giả Covell F. Meyskens về tiền lương dựa trên bảng lương của các đơn bị doanh nghiệp trong Mặt trận thứ ba, khoảng 75% các đơn vị công tác được nghiên cứu đã được trả luơng cao hơn mức lương trung binh của Trung Quốc khi đó cho ngành công nghiệp.[4](tr190–191) Bên cạnh vật chất, các công nhân thành thị và nông thôn nhìn nhận về các công việc trong Mặt trận thứ 3 một cách tích cực vì nó thể hiện ý chí của họ trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Trung Quốc thông qua việc đưa công nghiệp về với các vùng kém phát triển và xây dwungj cơ sở công nghiệp bảo vệ Trung Quốc trong trường hợp đất nước bị xâm lược.[4](tr82–83)
Việc thực hiện Dự án mặt trận thứ 3 đã bị chậm lại trong năm 1966.[4](tr12) Khi này Cách mạng Văn hóa đã khơi dậy chủ nghĩa cực đoan cánh tả, Lâm Bưu, Trần Bá Đạt cũng thay thế Lý Phú Xuân, Bành Đức Hoài, và Đặng Tiểu Bình trở thành người quản lý dự án Mặt trận thứ ba. So với tình trạng thực tế khi đó ở các nơi khác của Trung Quốc, Mặt trận thứ ba ít bị ảnh hưởng gián đoạn bởi Cách mạng Văn hóa, phù hợp với mô hình rộng hơn là các quan chức chính phủ hành động để bảo vệ các lực lượng đang thực hiện các công tác liên quan đến an ninh của đất đất.[4](tr143) Nhà máy thép Phàn Chi Hoa là một ví dụ khi nó chịu ít tác động từ Cách mạng Văn hóa.[4](tr193)
Bên cạnh các dự án mới được xây dựng, nhiều nhà máy được hình thành trong Mặt trận thứ ba dựa trên cơ sở tách ra hoặc di chuyển toàn bộ nhà máy cũ từ các khu vực khác phát triển hơn của Trung Quốc. Trong một văn bản được ban hành đầu năm 1965, các nhà máy ở Mặt trận thứ nhất và thứ hai được lệnh đóng góp các thiết bị và công nhân tốt nhất của mình cho việc xây dựng Mặt trận thứ ba[3](tr329).[3](tr360) Các thống kê chưa đầy đủ cho thấy từ năm 1964 đến năm 1970, có 380 dự án lớn, 145.000 công nhân và 38.000 đơn bị thiết bị đã được chuyển từ các khu vực công nghiệp ven biển đến các khu vực triển khai Mặt trận thứ ba. Phần lớn các công ty doanh nghiệp này đến từ các thành phố như Thượng Hải, Bắc Kinh, Thẩm Dương, Đại Liên, Thiên Tân, Nam Kinh. Xấy xỉ 400 doanh nghiệp nhà nước đã được di dời đến các địa điểm bí mật sâu trong nội địa của Trung Quốc.[4](tr3)
Năm 1969, việc xây dựng Mặt trận thứ ba được đẩy nhanh sau khi Trung Quốc và Liên Xô xảy ra đụng độ tại đảo Trân Bảo.[4](tr12) Các nhà hoạch định Trung Quốc cho rằng sự kiện tranh chấp tại đảo Trấn Bảo là một phần của chính sách gây hấn rộng lớn hơn.[4](tr150) Nhận thấy cuộc đụng độ tại biên giới liên quan đến cuộc can thiệp vào Tiệp Khắc năm 1968 của Liên Xô, Trung Quốc lo ngại Liên Xô có thể coi tình trạng hỗn loạn nội bộ Trung Quốc trong thời Cách mạng Văn hóa là lý do đển can thiệp quân sự tương tự.[4](tr150) Các nỗ lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm đẩy nhanh công việc của Mặt trận thứ 3 tháng 6 năm 1969 cũng gắn liền với việc quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc thự hiện kỷ luật chính trị và đàn áp các phe phái trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa.[4](tr150) Những người không trở lại làm việc sẽ được coi là tham gia các hoạt động ly khai, điều này có nguy cơ làm suy yếu sự chuẩn bị để bảo vệ Trung Quốc khỏi một cuộc xâm lược tiềm tàng.[4](tr150–151)
Tốc độ tiến hành xây dựng Mặt trận thứ ba được đẩy nhanh nhưng những hạn chế về nguồn lực của Trung Quốc đã dẫn đến các hạn chế và khiếm khuyết trong các dự án này.[4](tr153–164) Trong số các dự án đường sắt của Mặt trận thứ ba được xây dựng từ năm 1969 đến năm 1971, thì trừ tuyến đường sắt Thành Đô-Côn Minh còn lại đều bị khiếm khuyết nghiêm trọng.[4](tr164) Ba dự án hoàn thành vào đầu những năm 1970 nhưng đều không thể đưa vào vạn hành toàn bộ cho đến cuối thập kỷ 70.[4](tr164)
Ý nghĩa đặc thù của từng lĩnh vực
Thành tựu chính của việc xây dựng thành công mạng lưới đường sắt trong Mặt trận thứ ba là việc tạo nên mười tuyến đường liên tình mới.[4](tr203) Việc xây dựng các tuyến đường sắt Thành Đô-Côn Minh và Quý Dương-Côn Minh đã kết nối tất cả các thủ phủ phía tây nam đất nước bằng đường sắt.[4](tr203) Các tuyến đường sắt nối liền Tuơng Phàn-Trùng Khánh và Hồ Nam-Quý Châu đã kết nối các tỉnh miền Trung và miền Tây Trung Quốc lần đầu tiên.[4](tr203)
Các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc đã xác định ngành sản xuất ô tô cần được phát triển, do đó, Nhà máy ô tô số 1 đã gửi một phần ba nguồn nhân lực của mình để phát triển thành Nhà máy ô tô số 2.[10](tr202–204)
Tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc đã phát triển ngành hạt nhân tích hợp gồm các cơ sở khai thác và chế biến Uranium.[4](tr219)
Công nghiệp điện tử Trung Quốc cũng được mở rộng nhờ chiến dịch Mặt trận thứ ba và tính đến năm 1980, chỉ tính riêng khu vực nội địa Trung Quốc đã chiếm hơn một nửa công suất sản xuất và lực lượng lao động trong ngành điện tử của cả nước.[4](tr219) Các cơ sở sản xuất điện tử chính được xây dựng ở Tứ Xuyên, Thiểm Tây và Quý Châu, với nhà máy điện tử nổi tiếng nhất là Changhong Electric có trụ sở tại Miên Duơng, Tứ Xuyên, chuyên sản xuất đồ điện tử tiêu dùng của Trung Quốc.[4](tr219) Từ năm 1969 đến năm 1970, số nhà máy điện tử ở Trung Quốc đã tăng lên 2,5 lần.[13] Con số này nhiều hơn 20 lần so với số lượng nhà máy điện tử trên toàn Trung Quốc năm 1965.[13]
Cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, các đơn vị thuộc lĩnh vực công nghiệp hàng không vũ trụ Trung Quốc đều được thành lập trong Dự án Mặt trận thứ ba[4](tr218) Các cơ sở này đã mang lại lợi ích cho Chương trình không gian của Trung Quốc thông qua việc phóng Đông Phương Hồng I, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc vào năm 1970, mở rộng Trung tâm phóng vệ tinh Tửu Tuyền, xây dựng trung tâm phóng vệ tinh Tây Xương, và Trung tâm phóng vệ tinh Thái Nguyên.[4](tr218–219)
Mặt trận thứ ba nhỏ
Ngoài việc xây dựng Mặt trận thứ ba ở các vùng nội địa xa xôi của Trung Quốc, Trung Quốc cũng thành lập các khu vực xây dựng Mặt trận thứ ba nhỏ ở các tỉnh ven biển/gần biển.[14](tr926)
Dực án Mặt trận thứ ba nhỏ quan trọng nhất là tại Thượng Hải.[3](trxvi) Tại thời đỉnh cao nhất, Mặt trận nhỏ Thượng Hải tập hợp 54.000 công nhân, 17.000 gia đình và 81 đơn vị công tác.[3](trxvi) An Huy là trung tâm của dự án và đóng vai trò là cơ sở sản xuất vũ khí phòng không và chống tăng".[3](trxvi) Đến năm 1966, tại đây đã sản xuất các loại vũ khí gồm súng phóng lựu chống tăng và vũ khí phòng không.[3](trxvi) Các nhà máy thép, hóa chất , nhà máy thiết bị đo lường, nhà máy điện tử và cơ sở hạ tầng đường bộ cũng được triển khai tại Thượng Hải.[3](trxvi)
Mặt trận thứ 3 nhỏ tại Thượng Hải hoạt động tích cực đến những năm 1970; giống như phần còn lại của Mặt trận thứ ba, việc xây dựng nó bị chậm lại khi quan hệ Trung Quốc và Hoa Kỳ trở nên nồng ấm hơn.[3](trxvi-xvii) Văn phòng Mặt trận nhỏ Thượng Hải cuối cùng đã đóng cửa vào năm 1991.[3](trxvi)
Tại Sơn Đông, các dự án Mặt trận thứ 3 nhỏ được tập trung vào việc phát triển nhà máy điện tử và hóa chất.[14] Mặt trận thứ ba nhỏ cũng được triển khai ở Liêu Ninh, Giang Tây, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông.[14](tr926)
Kết thúc Phong trào Mặt trận thứ ba
Sau Chuyến thăm Trung Quốc của Richard Nixon vào năm 1972, các đầu tư vào khu vực Mặt trận thứ 3 bị giảm dần.[4](tr225–229) Sự xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc làm giảm mối lo bị xâm lược, vốn là một trong những yếu tố dẫn đến sự ra đời của Mặt trận thứ 3.[1](tr180) Tháng 8 năm 1972, Mặt trận thứ ba không còn nhận được hỗ trợ từ Mặt trận thứ nhất và thứ hai nữa, và bị giáng cấp xuống thành "nhiệm vụ quan trọng".[4](tr228) Ủy ban Kế hoạch cũng bày tỏ lo ngại về việc đầu tư kinh phí cho Mặt trận thứ Ba dẫn đến việc bỏ bê công nghiệp nặng ở các vùng khác, cũng như đầu tư không đủ vào nông nghiệp.[4](tr228) Sau Hội nghị Công tác Đảng tháng 5/1973, quyết định chuyển đầu tư của Mặt trận thứ 3 sang vùng Đông Bắc và ven biển, Mặt trận thứ ba không còn là mục tiêu kinh tế quan trọng của Trung Quốc.[4](tr228) Nông nghiệp và công nghiệp nhẹ trở thành những ưu tiên quan trọng hơn.[4](tr228)
Sau khi Cải cách kinh tế Trung Quốc bắt đầu vào năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thu hẹp dần các dự án của Mặt trận thứ ba với chiến lược "đóng cửa, ngừng hoạt động, sáp nhập, chuyển đổi và di dời".[1](tr180) Với việc nhu cầu của đất nước với hàng hóa liên quan đến quân sự giảm dần, các nhà máy trong Mặt trận thứ ba đã tìm cách chuyển đổi sang sản xuất hàng hóa dân dụng.[12](tr878) Tuy nhiên vị trí các nhà máy xa xôi khiên việc cạnh tranh trong thị trường hàng dân dụng trở nên khó khăn.[12](tr878)
Năm 1984, Hội đồng Nhà nước ban hành báo cáo kết luận rằng có 48% doanh nghiệp Mặt trận thứ ba vẫn có sản phẩm có thể bán được và triển vọng kinh doanh thuận lợi.[4] (tr204)Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 7 năm 1986-1990, các nhà máy Mặt trận thứ ba không có lãi được phép đóng cửa. Cuối những năm 1990 nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng do làn sóng sa thải quy mô lớn công nhân viên doanh nghiệp quốc doanh, đã khiến suy giảm dân số và trì trệ kinh tế ở các thành phố nội địa, nhất là các thành phố phụ thuộc duy nhất vào một doanh nghiệp hay một ngành nghề duy nhất. Một số nhà máy được chuyển vị trí ra khỏi núi và chuyển tới các thành phố nhỏ và vừa gần đó, có giao thông thuận tiện hơn.
Khi các nhà máy xây dựng trong Mặt trận thứ ba được tư nhân hóa trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2000, nhiều nhà máy đã trở thành sở hữu của các quản lý và kỹ thuật viên cũ.[1](tr181)[1](tr181)
Đánh giá Phong trào Mặt trận thứ ba
Nhờ có sự phân bổ cơ sở hạ tầng, công nghiệp và nguồn nhân lực trên khắp đất nước, Mặt trận thứ ba đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thị trường và doanh nghiệp tư nhân sau này,[1](tr177) và xí nghiệp hương trấn.[5](tr298) Các vùng nông thôn xa xôi cũng được hưởng lợi từ dòng chảy các chuyên gia kỹ thuật viên chất lượng cao từ các vùng phát triển khác.[1](tr180) Vì mỗi nhà máy được xây dựng tương đối biệt lập nên các cộng đồng được gắn kết chặt chẽ với mực độ vốn xã hội cao đã được hình thành tạo điều kiện cho việc tư nhân hóa các nhà máy này sau này.[1](tr181–182)
Quá trình xây dựng Mặt trận thứ ba cũng đã đưa phương pháp sư phạm và tiêu chuẩn giáo dục đến vùng sâu vùng xa của Trung Quốc.[3](tr113–114) Các khu vực triển khai cũng nhận được nguồn cung thực phẩm và hàng tiêu dùng chất lượng cao như quần áo, cũng như tiếp xúc với nhiều hình thức văn hóa giải trí như phim ảnh và các buổi biểu diễn ca nhạc.[3](tr113–114)
Năng suất về năng lượng tăng lên ở các khu vực Mặt trận thứ ba đã mang lại lợi ích cho các lĩnh vực như chế tạo máy, đường sắt và luyện kim.[4](tr210) Các thành phố được hưởng lợi từ Mặt trận thứ 3 có mực phát triển cao so với các khu vực còn lại.[1](tr182) Như thành phố Miên Duơng đã trở thành thành phố công nghệ cao và Kinh Môn, Hồ Bắc đã trở thành một trong những thành phố sáng tạo nhất Trung Quốc.[1](tr182) Tuy nhiên cái giá phải trả là dòng khả năng kinh tế của một số thành phố thuộc Mặt trận thứ ba đã suy giảm sau khi sáng kiến kết thúc, tạo ra một "vành đai rỉ sét".[1](tr184–187) Phàn Chi Hoa, lấy làm ví dụ, là một thành phố sản xuất thép lớn thuộc Mặt trận thứ ba, nhưng đã suy giảm dân số sau khi chương trình đầu tư cho thành phố kết thúc.[1](tr184) Chính quyền thành phố đã trợ cấp cho những người chuyển đến thành phố và sinh con thứ hai hoặc thứ ba.[1](tr184) Các thành phố khác đã lập nên các điểm du lịch tại các nhà máy bỏ hoang.[1](tr184) Hợp Phì đã thành công trong việc chuyển đổi sang tập trung vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, gồm bán và năng lượng thay thế.[1](tr185)
Mặc cho sự tồn tại của các thành phố "vành đai gỉ sét", Phong trào xây dựng Mặt trận thứ ba đã giúp thu hẹp sẽ chênh lệch trong phát triển ở các khu vực.[4](tr3) Năm 1963, 7 tỉnh phía Tây Trung Quốc, gồm có Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Ninh Hạ, và Thanh Hải, chiếm 10,5% sản lượng công nghiệp của Trung Quốc. Tỷ lệ này tăng lên 13.26% vào năm 1978. Đến năm 1980, chương trình phát triển đã tạo ra một mạng lưới đường sắt liên kết các khu vực phía tây của Trung Quốc vốn trước đây bị cô lập,[15] ngoài ra còn có rất nhiều nhà máy điện, hàng không và điện tử được thành lập theo như lời của Trương Vân Xuyên, bộ trưởng Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp Quốc phòng.[16] Các ngành công nghiệp và cơ sở vật chất được chuyển đến khu vực Mặt trận thứ 3 đã khởi đầu cho quá trình công nghiệp hóa ở miền Tây xa xôi và nhiều núi non của Trung Quốc. Các thành phố như Tây An, Lan Châu, Thành Đô, Trùng Khánh và Quý Dương đã được hưởng lợi từ việc Chính phủ đầu tư trong giai đoạn này. Các thành phố mới như Thập Yển ở Hồ Bắc (Dongfeng Motor đặt thành lập tại thành phố này), Miên Dương và Phàn Chi Hoa ở Tứ Xuyên, được thành lập nhờ Mặt trận thứ ba.
Việc bổ sung hạ tầng đường bộ/đường sắt đã làm giảm đáng kể thời gian di chuyển đến và trong các khu vực của Mặt trận thứ ba.[4](tr222–223) Việc đi lại cũng dễ dự đoán hơn do sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đồng nghĩa với thời gian biểu và lịch trình giao thông hành khách bằng xe bus và đường sắn tuân theo lịch trình đã định sẵn.[4](tr222)
Một di sản khác của Mặt trận thứ ba là tăng quyết tâm của Trung Quốc trong việc phát triển các hệ thống công nghiệp tác động lên toàn khu vực.[4](tr28) Chương trình phát triển vùng phía Tây của Trung Quốc khởi xướng năm 2001 được định hình bởi Mặt trận thứ ba. Nhiều thành phố được phát triển trong thời kỳ Mặt trận thứ ba hiện đang tham gia vào sáng kiến Một vành đai, Một con đường.[1](tr187)
Xem thêm Phong trào Mặt trận thứ ba
Đọc thêm Phong trào Mặt trận thứ ba
- Chen, Donglin (2003). Sānxiàn jiànshè: Bèizhàn shíqī de xībù kāifā 三线建设:备战时期的西部开发 [The Third Front Movement: The Western Development in Preparation of War] (bằng tiếng Trung). Beijing: Central Party School Press. ISBN 7-5035-2764-1.
- Naughton, Barry (1988). "The Third Front: Defence Industrialization in the Chinese Interior". China Quarterly. 115 (September): 351–386. doi:10.1017/S030574100002748X. JSTOR 654862. S2CID 155070416.
Tham khảo Phong trào Mặt trận thứ ba
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 Marquis, Christopher; Qiao, Kunyuan (2022). Mao and Markets: The Communist Roots of Chinese Enterprise. New Haven: Yale University Press. doi:10.2307/j.ctv3006z6k. ISBN 978-0-300-26883-6. JSTOR j.ctv3006z6k. OCLC 1348572572. S2CID 253067190.
- ↑ Williams, Mark (ngày 8 tháng 9 năm 2005). Competition Policy and Law in China, Hong Kong and Taiwan (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 141. ISBN 978-0-521-83631-9.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 Xu, Youwei; Wang, Y. Yvon (2022). Everyday Lives in China's Cold War Military Industrial Complex: Voices from the Shanghai Small Third Front, 1964-1988. Palgrave MacMillan. ISBN 9783030996871.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 Meyskens, Covell F. (2020). Mao's Third Front: The Militarization of Cold War China. Cambridge, United Kingdom: Cambridge University Press. doi:10.1017/9781108784788. ISBN 978-1-108-78478-8. OCLC 1145096137. S2CID 218936313.
- 1 2 Lan, Xiaohuan (2024). How China Works: An Introduction to China's State-led Economic Development. Topp, Gary biên dịch. Palgrave Macmillan. doi:10.1007/978-981-97-0080-6. ISBN 978-981-97-0079-0.
- ↑ 梁严冰; 方光华. "抗战前后国民政府的西北工业建设战略" [The Nationalist Government's Northwest Industrial Construction Strategy before and after the Anti-Japanese War] (bằng tiếng Trung). 广东社会科学.
- ↑ "论抗战前后国民政府的西北工业建设战略 - 经济战线 - 抗日战争纪念网". www.krzzjn.com. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Shen, Xiao-yun (tháng 9 năm 2007). "抗日战争时期国民政府的西北开发" [The Northwestern Development of the Nationalist Government in the War of Resistance Against Japan] (PDF). Journal of Zhejiang University (Humanities and Social Sciences) (bằng tiếng Trung). 37 (5).
- 1 2 Hou, Li (2021). Building for Oil: Daqing and the Formation of the Chinese Socialist State. Harvard-Yenching Institute monograph series. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Asia Center. ISBN 978-0-674-26022-1.
- 1 2 3 4 5 Meyskens, Covell F. (2022). "China's Cold War Motor City". Trong Altehenger, Jennifer; Ho, Denise Y. (biên tập). Material Contradictions in Mao's China. Seattle: University of Washington Press. ISBN 978-0-295-75085-9.
- ↑ Hirata, Koji (2024). Making Mao's Steelworks: Industrial Manchuria and the Transnational Origins of Chinese Socialism. Cambridge Studies in the History of the People's Republic of China series. New York, NY: Cambridge University Press. ISBN 978-1-009-38227-4.
- 1 2 3 Kendall, Paul (ngày 9 tháng 10 năm 2024). "Third Front as Method: Mao, Market and the Present in CCTV Documentaries". The China Quarterly. 260: 872–886. doi:10.1017/s0305741024000912. ISSN 0305-7410.
- 1 2 Wang, Hongzhe (2025). "Five Moments in the History of Chinese Cybernetics". Trong Bratton, Benjamin; Greenspan, Anna; Ireland, Amy; Konior, Bogna (biên tập). Machine Decision is Not Final: China and the History and Future of Artificial Intelligence. Young, Allen biên dịch. Urbanomic, MIT Press. ISBN 9781913029999.
- 1 2 3 Naughton, Barry (2024). "The "Third Front" after Sixty Years". The China Quarterly. 260: 925–931. doi:10.1017/S0305741024001243. ISSN 0305-7410.
- ↑ Meyskens, Covell F. (ngày 1 tháng 10 năm 2015). "Third Front Railroads and Industrial Modernity in Late Maoist China". Twentieth-Century China. 40 (3): 238–260. doi:10.1179/1521538515Z.00000000068. ISSN 1521-5385. S2CID 155767101.
- ↑ "China putting on a brave 'Third Front'". People's Daily. ngày 6 tháng 12 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2023.