Bước tới nội dung

Nhân tần Kim thị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kính Huệ Nhân tần
敬惠仁嬪
Nội mệnh phụ Triều Tiên
Thông tin chung
Sinh1555
Mất1613
Phu quânTriều Tiên Tuyên Tổ
Hậu duệNghĩa An Quân Lý Thành
Tín Thành Quân Lý Dực
Định Viễn Quân Lý Phu
Nghĩa Xương Quân Lý Quang
Trinh Thận Ông chúa
Trinh Huệ Ông chúa
Trinh Thục Ông chúa
Trinh An Ông chúa
Trinh Huy Ông chúa
Thụy hiệu
Kính Huệ Dự Đức Nhân tần
(敬惠裕德仁嬪)
Miếu hiệu
Trữ Khánh cung (儲慶宮)
Tước hiệu[Thục viên; 淑媛]
[Chiêu dung; 昭容]
[Thục nghi; 淑儀]
[Quý nhân; 貴人]
[Nhân tần; 仁嬪]
Hoàng tộcNhà Triều Tiên
Thân phụKim Hán Vũ
Thân mẫuToàn Châu Lý thị

Kính Huệ Nhân tần Kim thị (chữ Hán: 敬惠仁嬪 金氏, tiếng Hàn: 경혜인빈 김씨, 15551613) là Hậu cung tần ngự trong Nội mệnh phụ của Triều Tiên Tuyên Tổ, mẹ của Triều Tiên Nguyên Tông, tổ mẫu của Triều Tiên Nhân Tổ và là một trong bảy người được sử gọi là Thất cung của Triều Tiên.

Cuộc đời

Nhân tần Kim thị, xuất thân từ gia tộc Thủy Nguyên Kim thị (水原金氏), sinh tại Hoàng Hải đạo vào ngày 29 tháng 2 (âm lịch), năm Minh Tông thứ 10 (1555), con gái của Kim Hán Vũ (金漢佑), giữ chức Giám sát tại Ti Hiến phủ, mẹ là Toàn Châu Lý thị (全州李氏), con cháu thuộc dòng dõi của Hiếu Ninh Đại quân Lý Bồ, anh trai của vua Triều Tiên Thế Tông Lý Đào.

Nhân tần Kim thị khi còn nhỏ đã nhập cung làm cung nữ, nương nhờ người chị họ là Thục nghi Lý thị, phi tần của vua Triều Tiên Minh Tông, sau được truy phong làm Khánh tần (慶嬪). Có lẽ nhờ sự giúp đỡ và tiến cử từ Lý thị, bà được Nhân Thuận Vương hậu, chính thất của Minh Tông, hết mực yêu mến.

Năm đầu triều Tuyên Tổ (1568), Kim thị 14 tuổi (tính theo tuổi Hàn, tức khoảng 13 tuổi dương lịch) được nhà vua sủng hạnh. Đến năm Tuyên Tổ thứ 6 (1573), bà được phong Tòng tứ phẩm Thục viên (淑媛) – tước vị cấp thấp nhất trong nội mệnh phụ), sau đó lần lượt thăng lên Chính tam phẩm Chiêu dung (昭容) và Tòng nhị phẩm Thục nghi (淑儀). Sau khi Cung tần Kim thị qua đời, bà trở thành phi tần được Tuyên Tổ sủng ái nhất, rồi được phong Tòng nhất phẩm Quý nhân (貴人). Năm Tuyên Tổ thứ 37 (1604), bà được chính thức sách phong làm Chính nhất phẩm Nhân tần (仁嬪).

Theo sử sách ghi chép, Nhân tần Kim thị là người giỏi mưu tính. Có lẽ vì xuất thân cung nhân nên bà luôn giữ thái độ khiêm nhường, kính cẩn với bề trên, nhờ đó rất được vua yêu quý. Do quy định trong vương thất, các vương tử và công chúa được sinh bởi tần ngự đều phải gọi Ý Nhân Vương hậu Phác thị, chính thất của Tuyên Tổ, là mẹ nên khi các con gọi bà là mẹ, bà luôn tỏ ra lo lắng và dạy rằng mình chỉ là người sinh con thay cho vương hậu vì bà ấy không thể có con. Bản thân bà mặc dù có rất nhiều con nhưng cũng không bao giờ dám tùy tiện trách mắng hay thậm chí gọi các con của mình là "Nhĩ" (너, 爾) .

Khi Ý Nhân Vương hậu lâm trọng bệnh, Kim thị ở bên cạnh chăm sóc tận tình, thậm chí đích thân xử lý việc đại tiểu tiện. Khi vương hậu qua đời, bà biểu lộ nỗi đau buồn rất sâu sắc.

Theo như ghi chép trong Thực lục, trước Nhân tần, Tuyên Tổ vốn sủng ái nhất bà Cung tần Kim thị, mẹ của Lâm Hải Quân và Quang Hải Quân, mà bản thân Nhân tần cùng Cung tần cũng có hiềm khích với nhau. Năm Tuyên Tổ thứ 10 (1577), Cung tần qua đời vì bệnh hậu sản, khiến vua Tuyên Tổ đau buồn khôn nguôi, không triệu hạnh hậu cung nào, chính Nhân tần (khi đó là Chiêu dung) đã hết lòng chăm sóc hầu hạ ông, chưa kể còn thường xuyên nêu những hành động tiêu cực khi còn sống của Cung tần, khiến Tuyên Tổ sau đó đã quên dần đi Cung tần mà sủng ái bà, đồng thời trong năm đó, bà sinh hạ cho ông người con đầu lòng là Nghĩa An Quân Lý Thành. Có thuyết cho rằng Lâm Hải Quân rất oán hận mẹ con Nhân tần và Tín Thành Quân vì chính bà đã dùng kế cướp đi sự sủng ái từ mẹ ông, khiến ông và em trai Quang Hải Quân bị vua cha ghẻ lạnh suốt quãng thời gian Tuyên Tổ trị vì.

Tương truyền khi Tuyên Tổ cưới Nhân Mục Vương hậu, người kế thất còn rất trẻ, các phi tần trong cung đều tỏ ý bất mãn, chỉ riêng Kim thị vẫn sống bình thường, đối xử với vương hậu trẻ tuổi rất cung kính. Dù vậy, vì muốn củng cố thế lực, bà dung túng em trai là Kim Công Lượng cấu kết với các đại thần, lại nhiều lần dèm pha nhằm loại trừ các phe phái đối lập. Do đó, bà thường bị xem là hình mẫu điển hình của việc phi tần can dự triều chính. Thậm chí quan viên đương thời còn ví chị em Nhân tần và Kim Công Lượng như Dương Quý PhiDương Quốc Trung thời nhà Đường.

Nhân tần thường bị đánh giá chỉ trích vì hành vi biểu hiện của bà. Khi vương thất cư ngụ ở hành cung Nghĩa Châu, Nhân tần đã bị Trịnh Triệt (鄭澈) chỉ trích vì ban Thoái thiện (退膳), tức hành động người bề trên như Quốc vương và Đông cung để dư thức ăn khi ngự thiện và ban xuống cho các bề tôi kẻ dưới. Bản thân Nhân tần chỉ là một hậu cung, lại dám làm hành động của bậc chí tôn, là vượt quá phận sự. Trong "Vân Nham Tạp Lục" (雲巖雜錄) của Liễu Thành Long (柳成龍) và "Sa Khê Toàn Thư" (沙溪全書)[1], phần Trịnh Triệt có chép lại rằng:

"Quý tần Kim thị (貴嬪金氏) có ban Thoái thiện (退膳) và sai bọn biệt giám mang xuống cho các vị đại thần được mời đến. Trịnh Triệt lúc đó đang ngồi ở đầu, liền hỏi 'Thiện này là từ đâu đến', chúng đáp lại rằng 'Do phía Kim Thục nghi (tức Nhân tần) đưa đến'. Trịnh Triệt nghe xong, liền không vui mà đáp lại 'Dẫu cho ta là người không có tư cách đi chăng nữa, sao ta lại có thể đi dùng thiện do Kim Thục nghi đưa xuống chứ. Hãy mang đến cho ngài Cụ Tri sự'. Vị Cụ Tri sự được nhắc, tức Cụ Tư Mạnh (具思孟), vốn có quan hệ thông gia với Nhân tần do con gái ông được gả làm chính thất cho Định Viễn Quân Lý Phu, con trai của bà tần. Cụ Tư Mạnh đang ngồi gần đó, thấy phần thiện được đặt tới trước mặt thì xấu hổ cúi gầm mặt xuống, không dám ngẩng lên."

Nhân tần và Tuyên Tổ có với nhau bốn con trai: Nghĩa An Quân Lý Thành, Tín Thành Quân Lý Dực, Định Viễn Quân Lý Phu, Nghĩa Xương Quân Lý Quang; và năm con gái: Trinh Thận Ông chúa, Trinh Huệ Ông chúa, Trinh Thục Ông chúa, Trinh An Ông chúa, Trinh Huy Ông chúa.

Ý Nhân Vương hậu vốn không thể hoài thai nên trong cung không có đích tử giữ ngôi Thế tử, vì vậy nhiều cuộc ganh đua thường ngầm diễn ra để giành lấy ngôi Đông cung. Trong đó ngoài hai anh em Lâm Hải Quân và Quang Hải Quân có ưu thế vì là hai người con lớn nhất, thì Tín Thành Quân, con trai thứ hai của bà cũng là một ứng viên khác do được vua cha yêu thương hết mực (người con trai đầu của bà, Nghĩa An Quân, đã mất sớm từ trước). Bản thân bàtừng có ý định muốn Tín Thành Quân con mình làm Thế tử, nhưng cuối cùng Quang Hải Quân lại nhanh chân giành được ngôi vị nhờ có công lao lãnh đạo nhân dân chống giặc Oa. Về sau, sợ bị Quang Hải báo thù sau khi Tuyên Tổ qua đời, Nhân tần đã cố gắng lấy lòng ông ta, thậm chí giúp hòa giải mối bất hòa giữa hai cha con, và còn dâng cháu gái Thân thị (辛氏) làm hậu cung cho Quang Hải Quân. Nhờ vậy, sau khi lên ngôi, Quang Hải Quân rất kính trọng Nhân tần, bản thân ông cũng từng nói "Bản thân ta có được như ngày hôm nay, đều nhờ vào ân trạch của thứ mẫu (Nhân tần), điều đó ta không bao giờ có thể quên được".[2]

Vì muốn bảo vệ bản thân và các con, Nhân tần Kim thị đã làm nhiều việc không chính đáng. Trong sự kiện liên quan đến Lâm Hải Quân, bà cũng đưa ra nhiều lời cố vấn cho Quang Hải Quân.

Năm 1608, Tuyên Tổ qua đời, Nhân tần theo thông lệ rời khỏi hoàng cung, về sống tại tư dinh cho đến khi mất ngày 29 tháng 10 (âm lịch), năm Quang Hải thứ 5 (1613). Nghe tin, Quang Hải Quân đã lệnh ngừng thiết triều 3 ngày, nhưng Ti Hiến phủ phản đối, tấu rằng: "Nhân tần chỉ là một hậu cung tần ngự của đức Tuyên Tổ, mà triều ta rước giờ chưa từng có tiền lệ như thế đối với một hậu cung, cũng không thể vì cái ân huệ riêng mà thay đổi, phá vỡ quy chế tổ tiên đặt ra được. Xin chúa thượng thu hồi mệnh lệnh", ông phớt lờ và cuộc bàn luận sau đó cũng chìm vào quên lãng. Sau này, cháu trai của bà là Lăng Dương Quân, tức Triều Tiên Nhân Tổ đã lật đổ Quang Hải Quân và lên ngôi, kể từ đó các vị vua về sau của nhà Triều Tiên đều là hậu duệ của bà.

Dưới triều Triều Tiên Anh Tổ, bà được truy phong cung hiệu là Trữ Khánh cung (儲慶宮), viên hiệu là Thuận Khang viên (順康園), và thụy hiệu đầy đủ là:Kính Huệ Nhân tần (敬惠仁嬪).

Hậu duệ

Vương tử

  1. Nghĩa An Quân Lý Thành (義安君李珹; 1577 - 1588.
  2. Tín Thành Quân Lý Dực (信城君李珝; 1578 - 1592). Lấy Quận phu nhân họ Thân ở Bình Sơn.
  3. Định Viễn Quân Lý Phu (定遠君李琈; 1580 - 1619). Lấy Quận phu nhân họ Cụ ở Lăng Thành. Sinh ra Triều Tiên Nhân Tổ, được tấn tôn làm Nguyên Tông Đại vương (元宗大王).
  4. Nghĩa Xương Quân Lý Quang (義昌君李珖; 1589 - 1645). Lấy Quận phu nhân họ Hứa ở Dương Xuyên.

Vương nữ

  1. Trinh Thận Ông chúa [貞慎翁主; 1582 - 1653]. Hạ giá lấy Đạt Thành úy Từ Cảnh Thọ (徐景霌).
  2. Trinh Huệ Ông chúa (貞惠翁主; 1584 - 1638). Hạ giá lấy Hải Tung úy Doãn Tân Chi (尹新之).
  3. Trinh Thục Ông chúa (貞淑翁主; 1587 - 1627). Hạ giá lấy Đông Dương úy Thân Dực Thánh (申翊聖).
  4. Trinh An Ông chúa (貞安翁主; 1590 - 1660). Hạ giá lấy Cẩm Dương quân Phác Di (朴瀰).
  5. Trinh Huy Ông chúa (貞徽翁主; 1593 - 1653). Hạ giá lấy Toàn Xương quân Liễu Đình Lượng (柳廷亮).

Tham khảo

  1. Được viết bởi Kim Trường Sanh (金長生), một học giả thời Trung kỳ Triều Tiên và được biên soạn bởi Tống Thì Liệt (宋時烈). Xuất bản theo vương lệnh vào năm Túc Tông thứ 11 (1685).
  2. 《Quang Hải Quân Nhật ký》, Quang Hải Quân năm thứ 5 (1613, Quý Hợi), ngày 29 tháng 10 (âm lịch).