Nhiễm nấm
| Nhiễm nấm | |
|---|---|
| Tên khác | Bệnh nấm Mã ICD-10CM: Mycoses B35-B49 |
| Hình ảnh vi thể cho thấy một bệnh nấm (aspergillosis). Có thể thấy nấm aspergillus (có cấu trúc giống sợi mì spaghetti) ở trung tâm, được bao quanh bởi các tế bào viêm và mảnh vụn hoại tử. Tiêu bản được nhuộm H&E. | |
| Khoa/Ngành | Bệnh truyền nhiễm |
| Loại | Vảy da, dưới da và toàn thân |
| Nguyên nhân | Nấm gây bệnh: nấm sợi, nấm men, nấm mốc |
| Yếu tố nguy cơ | Suy giảm miễn dịch, điều trị ung thư, tổn thương/bỏng diện rộng, cấy ghép nội tạng, COVID-19, lao |
| Phương pháp chẩn đoán | Dựa trên các triệu chứng, nuôi cấy, xét nghiệm soi tươi |
| Điều trị | Thuốc kháng nấm |
| Dịch tễ | Phổ biến |
| Tử vong | 1,7 triệu người (2020) |
Nhiễm nấm (tiếng Anh: fungal infection, mycosis), hay bệnh nấm, là bệnh do nấm gây ra.[1] Các thể bệnh khác nhau được phân loại dựa trên vùng cơ thể bị ảnh hưởng: vảy da, dưới da và toàn thân.[2] Nhiễm nấm vảy da bao gồm các bệnh nấm da thường gặp như nấm trên cơ thể (tinea corporis), nấm bẹn (tinea cruris), nấm tay (tinea manuum), nấm chân (Athlete's foot) và nấm râu (tinea barbae), bên cạnh nhiễm nấm men như lang ben.[3] Các loại nấm dưới da bao gồm eumycetoma (mô hạt do nấm) và chromoblastomycosis, thường ảnh hưởng đến các mô trong và dưới da.[3] Nhiễm nấm toàn thân nghiêm trọng hơn, bao gồm bệnh cryptococcosis, histoplasmosis, pneumocystis pneumonia, aspergillosis và mucormycosis. Các dấu hiệu và triệu chứng rất đa dạng. Nhiễm nấm vảy da thường xuất hiện phát ban.[4] Nhiễm nấm trong da hoặc dưới da có thể biểu hiện bằng một cục u nhỏ và những thay đổi trên da. Các triệu chứng giống viêm phổi hoặc viêm màng não có thể xảy ra với nhiễm trùng sâu hoặc toàn thân.
Nấm có mặt ở khắp nơi, nhưng chỉ một số loài gây bệnh.[1] Nhiễm nấm xảy ra sau khi bào tử nấm được hít vào, tiếp xúc với da hoặc xâm nhập vào cơ thể qua da, chẳng hạn qua vết cắt, vết thương hoặc tiêm chích. Bệnh dễ xảy ra hơn ở những người có hệ miễn dịch kém,[5] bao gồm những người mắc các bệnh như HIV/AIDS và những người đang dùng thuốc như steroid hoặc đang điều trị ung thư.[5] Các loại nấm gây bệnh ở người bao gồm nấm men, mốc và những loài nấm có thể tồn tại dưới cả hai dạng mốc và men. Nấm men Candida albicans có thể sống trong cơ thể người mà không gây triệu chứng và có khả năng gây ra cả bệnh nấm candida vảy da nhẹ ở người khỏe mạnh (như nấm miệng hoặc nhiễm nấm âm đạo) và nấm candida toàn thân nặng ở những người không có khả năng tự chống nhiễm trùng.
Chẩn đoán thường dựa trên dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng, soi tươi, nuôi cấy, đôi khi cần sinh thiết và sự hỗ trợ của chẩn đoán hình ảnh y khoa.[2] Một số bệnh nấm vảy da trên da có thể có biểu hiện tương tự các bệnh da liễu khác như chàm và lichen phẳng (lichen planus).[3] Việc điều trị thường được thực hiện bằng các thuốc kháng nấm, thường ở dạng kem bôi, thuốc uống hoặc tiêm, tùy thuộc vào loại nhiễm trùng cụ thể và mức độ lan rộng của nó.[6] Một số trường hợp cần phẫu thuật cắt bỏ mô nhiễm bệnh (debridement).
Nhiễm nấm phân bố trên toàn thế giới và rất phổ biến, ảnh hưởng đến hơn một tỷ người mỗi năm.[7] Ước tính có khoảng 1,7 triệu ca tử vong do bệnh nấm được báo cáo vào năm 2020.[8] Một số bệnh, bao gồm nấm sporotrichosis (nấm bạch môn), chromoblastomycosis (nhiễm nấm sắc tố) và mycetoma chưa được quan tâm đúng mức.[9] Hàng loạt các bệnh nhiễm nấm xảy ra ở các loài động vật khác và một số có thể lây truyền từ động vật sang người.[10]
Phân loại
Theo truyền thống, các bệnh nấm được chia thành ba thể: vảy da, dưới da hoặc toàn thân - khi nhiễm trùng xâm nhập sâu, lan rộng hơn và liên quan đến các cơ quan nội tạng.[7][11] Chúng có thể ảnh hưởng đến móng, âm đạo, da và miệng.[12] Một số loại bệnh nấm như blastomycosis, cryptococcus, coccidioidomycosis và histoplasmosis ảnh hưởng đến những người sống tại hoặc ghé qua một số khu vực nhất định trên thế giới.[12] Các loại bệnh nấm khác như aspergillosis, pneumocystis pneumonia, candida, mucormycosis và talaromycosis có xu hướng ảnh hưởng đến những người không có khả năng tự chống lại nhiễm trùng.[12] Các bệnh nấm có thể không phải lúc nào cũng tuân thủ nghiêm ngặt theo ba phân loại nông, dưới da và toàn thân.[11] Một số bệnh nấm nông có thể gây nhiễm trùng toàn thân ở những người bị suy giảm miễn dịch. Một số bệnh nấm dưới da có thể xâm lấn vào các cấu trúc sâu hơn, dẫn đến bệnh toàn thân.[11] Candida albicans có thể tồn tại trong cơ thể người mà không gây triệu chứng, đồng thời có khả năng gây cả bệnh nấm candida thể nhẹ ở người khỏe mạnh lẫn bệnh nấm candida xâm lấn nghiêm trọng ở những người không thể tự kháng lại nhiễm trùng.[3][11]
Mã ICD-11
Mã Phân loại Bệnh tật Quốc tế lần thứ 11 (ICD-11) gồm các mã sau:[13]
- 1F20 Aspergillosis
- 1F21 Basidiobolomycosis
- 1F22 Blastomycosis
- 1F23 Candidosis
- 1F24 Chromoblastomycosis
- 1F25 Coccidioidomycosis
- 1F26 Conidiobolomycosis
- 1F27 Cryptococcosis
- 1F28 Dermatophytosis
- 1F29 Eumycetoma
- 1F2A Histoplasmosis
- 1F2B Lobomycosis
- 1F2C Mucormycosis
- 1F2D Nấm da không phải do nấm sợi (dermatophyte) gây ra
- 1F2E Paracoccidioidomycosis
- 1F2F Phaeohyphomycosis
- 1F2G Pneumocystosis
- 1F2H Scedosporiosis
- 1F2J Sporotrichosis
- 1F2K Talaromycosis
- 1F2L Emmonsiosis
Nấm vảy da
Các bệnh nấm vảy da bao gồm bệnh nấm candida ở người khỏe mạnh, các bệnh nấm da thông thường như nấm trên cơ thể, nấm bẹn, nấm tay, nấm chân và nấm râu, cũng như các nhiễm trùng do malassezia như lang ben.[3][11]
- Bệnh nấm candida ở miệng
- Bệnh nấm trên cơ thể (tinea corporis)
- Bệnh nấm lang ben
- Bệnh nấm móng (onychomycosis)
Nấm dưới da
Các bệnh nấm dưới da bao gồm bệnh sporotrichosis (nấm bạch môn), chromoblastomycosis (nhiễm nấm sắc tố) và eumycetoma.[11]
Nấm toàn thân
Các bệnh nấm toàn thân bao gồm histoplasmosis, cryptococcosis, coccidioidomycosis, blastomycosis, mucormycosis, aspergillosis, viêm phổi do pneumocystis và nấm candida toàn thân.[11]
Các bệnh nấm toàn thân do tác nhân gây bệnh nguyên phát thường khởi phát từ phổi và có thể lan sang các hệ cơ quan khác. Các vi sinh vật gây bệnh nấm toàn thân vốn dĩ đã có độc lực. Các bệnh nấm toàn thân do tác nhân gây bệnh cơ hội là nhiễm trùng ở những người bị suy giảm miễn dịch - những người mà trong điều kiện bình thường sẽ không bị nhiễm. Ví dụ về các tình trạng suy giảm miễn dịch bao gồm AIDS, sự thay đổi hệ vi khuẩn chí bình thường do kháng sinh, liệu pháp ức chế miễn dịch và ung thư di căn. Ví dụ về các bệnh nấm cơ hội bao gồm nấm candida, cryptococcosis và aspergillosis.
Dấu hiệu và triệu chứng
Hầu hết các bệnh nấm nhẹ thường gặp thường biểu hiện bằng phát ban.[4] Nhiễm trùng trong da hoặc dưới da có thể biểu hiện bằng một cục u nhỏ và những thay đổi trên da.[11] Các bệnh nấm sâu ít phổ biến hơn có thể biểu hiện với các triệu chứng giống viêm phổi hoặc viêm màng não.[4]
Nguyên nhân
Bệnh nấm do một số loại nấm gây bệnh cụ thể: nấm men, nấm mốc và một số loài nấm có thể tồn tại dưới cả hai dạng mốc và men.[2][11] Chúng có mặt ở khắp nơi và nhiễm trùng xảy ra sau khi bào tử nấm được hít vào, tiếp xúc với da hoặc xâm nhập vào cơ thể qua da như qua vết cắt, vết thương hoặc tiêm chích. Candida albicans là nguyên nhân phổ biến nhất gây nhiễm nấm ở người, đặc biệt là dưới dạng tưa miệng hoặc nhiễm nấm âm đạo, thường xảy ra sau khi dùng kháng sinh.[11]
Yếu tố nguy cơ
Nhiễm nấm dễ xảy ra hơn ở những người có hệ miễn dịch kém,[5] bao gồm những người mắc các bệnh như HIV/AIDS và những người đang dùng thuốc như steroid hoặc đang điều trị ung thư.[5] Người mắc bệnh đái tháo đường cũng có xu hướng phát triển nhiễm nấm.[14] Nhóm trẻ nhỏ và người cao tuổi cũng là các nhóm có nguy cơ.[15] Những người đang được điều trị bằng kháng sinh có nguy cơ nhiễm nấm cao hơn.[16] Trẻ em có hệ miễn dịch hoạt động không bình thường (chẳng hạn như trẻ mắc ung thư) có nguy cơ bị nhiễm nấm xâm lấn.[17]
COVID-19
Trong đại dịch COVID-19, một số bệnh nhiễm nấm có liên quan đến COVID-19.[18][19][20] Nhiễm nấm có thể bắt chước các triệu chứng của COVID-19 và xảy ra đồng thời với COVID-19, đồng thời các bệnh nhiễm nấm nghiêm trọng hơn có thể làm phức tạp tình trạng COVID-19.[18] Nhiễm nấm có thể xảy ra sau khi dùng kháng sinh để điều trị một nhiễm khuẩn thứ phát sau COVID-19.[21] Các bệnh nhiễm nấm nghiêm trọng phổ biến nhất ở bệnh nhân mắc aspergillosis và nhiễm nấm candida xâm lấn.[22] Bệnh mucormycosis liên quan đến COVID-19 nói chung ít phổ biến hơn, nhưng vào năm 2021 được ghi nhận là có tỷ lệ mắc cao hơn đáng kể ở Ấn Độ.[18][23]
Cơ chế bệnh sinh
Nhiễm nấm xảy ra sau khi bào tử nấm được hít vào, tiếp xúc với da hoặc xâm nhập vào cơ thể qua một vết thương.[11]
Chẩn đoán

Chẩn đoán thường dựa vào dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng, soi tươi, sinh thiết, nuôi cấy và đôi khi có sự hỗ trợ của chẩn đoán hình ảnh y khoa.[2]
Chẩn đoán phân biệt
Một số bệnh nấm da và nhiễm nấm Candida trên da có thể biểu hiện tương tự như bệnh chàm và lichen phẳng (lichen planus).[3] Bệnh lang ben có thể giống với viêm da tiết bã, vảy phấn hồng, vảy phấn trắng và bạch biến.[3]
Một số bệnh nhiễm nấm như coccidioidomycosis, histoplasmosis và blastomycosis có thể biểu hiện sốt, ho và khó thở, do đó dễ nhầm lẫn với COVID-19.[24]
Phòng ngừa
Việc giữ cho da sạch sẽ và khô ráo, cũng như duy trì vệ sinh tốt, sẽ giúp phòng ngừa các bệnh nấm ngoài da diện rộng.[25] Do một số bệnh nhiễm nấm có tính lây lan, việc rửa tay sau khi chạm vào người hoặc động vật khác là rất quan trọng. Quần áo thể thao cũng nên được giặt sau khi sử dụng.
Điều trị
Điều trị nhiễm nấm phụ thuộc vào loại nhiễm nấm, và thường yêu cầu sử dụng thuốc kháng nấm tại chỗ hoặc toàn thân hoặc toàn thân.[6] Bệnh pneumocystosis (viêm phổi do pneumocystis) không đáp ứng với thuốc kháng nấm được điều trị bằng co-trimoxazole.[26] Đôi khi, mô nhiễm bệnh cần được phẫu thuật cắt bỏ.[11]
Dịch tễ học
Trên toàn thế giới, mỗi năm các bệnh nhiễm nấm ảnh hưởng đến hơn một tỷ người.[7] Ước tính có 1,6 triệu ca tử vong do bệnh nấm được báo cáo vào năm 2017.[27] Con số này đang gia tăng, với ước tính khoảng 1,7 triệu ca tử vong do bệnh nấm được báo cáo vào năm 2020.[8] Nhiễm nấm cũng là một nguyên nhân đáng kể gây bệnh tật và tử vong ở trẻ em.[28]
Theo Quỹ Hành động Toàn cầu về Nhiễm trùng Nấm (GAFFI), mỗi năm có hơn 10 triệu trường hợp hen suyễn do nấm, khoảng 3 triệu trường hợp bệnh aspergillosis phổi mạn tính, 1 triệu trường hợp mù lòa do viêm giác mạc do nấm, hơn 200.000 trường hợp viêm màng não do nấm cryptococcus, 700.000 trường hợp nhiễm candida xâm lấn, 500.000 trường hợp viêm phổi do pneumocystis, 250.000 trường hợp nhiễm aspergillus xâm lấn và 100.000 trường hợp histoplasmosis.[29]
Lịch sử
Vào năm 500 trước Công nguyên, một báo cáo của Hippocrates về các vết loét trong miệng có thể đã mô tả bệnh tưa miệng (thrush).[30] Nhà nghiên cứu hiển vi học người Hungary David Gruby (công tác ở Paris) lần đầu tiên báo cáo rằng bệnh ở người có thể do nấm gây ra vào đầu thập niên 1840.[30]
SARS 2003
Trong đợt bùng phát SARS năm 2003, các bệnh nhiễm nấm được báo cáo ở 14,8–33% số người mắc SARS và là nguyên nhân tử vong ở 25–73,7% số người mắc SARS.[31]
Động vật khác
Hàng loạt các bệnh nhiễm nấm xảy ra ở các loài động vật khác và một số có thể lây truyền từ động vật sang người, chẳng hạn như nấm Microsporum canis từ mèo.[10]
Chú thích
- 1 2 Richardson MD, Warnock DW (2012). "1. Introduction". Fungal Infection: Diagnosis and Management (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 4). John Wiley & Sons. tr. 1–7. ISBN 978-1-4051-7056-7.
- 1 2 3 4 Willinger B (2019). "1. What is the target? Clinical mycology and diagnostics". Trong Presterl E (biên tập). Clinically Relevant Mycoses: A Practical Approach. Germany: Springer. tr. 3–19. ISBN 978-3-319-92299-7.
- 1 2 3 4 5 6 7 Kutzner H, Kempf W, Feit J, Sangueza O (2021). "2. Fungal infections". Atlas of Clinical Dermatopathology: Infectious and Parasitic Dermatoses (bằng tiếng Anh). Hoboken: Wiley Blackwell. tr. 77–108. ISBN 978-1-119-64706-5.
- 1 2 3 CDC (ngày 30 tháng 8 năm 2024). "About Fungal Diseases". Fungal Diseases (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
- 1 2 3 4 "Fungal Infections | Fungal | CDC". www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2021.
- 1 2 Graininger W, Diab-Elschahawi M, Presterl E (2019). "3. Antifungal agents". Trong Presterl E (biên tập). Clinically Relevant Mycoses: A Practical Approach. Springer. tr. 31–44. ISBN 978-3-319-92299-7.
- 1 2 3 Nakazato G, Alesandra A, Lonni SG, Panagio LA, de Camargo LC, Goncalves MC, và đồng nghiệp (2020). "4. Applications of nanometals in cutaneous infections". Trong Rai M (biên tập). Nanotechnology in Skin, Soft Tissue, and Bone Infections (bằng tiếng Anh). Switzerland: Springer. ISBN 978-3-030-35146-5.
- 1 2 Kainz K, Bauer MA, Madeo F, Carmona-Gutierrez D (tháng 6 năm 2020). "Fungal infections in humans: the silent crisis". Microbial Cell. 7 (6): 143–145. doi:10.15698/mic2020.06.718. PMC 7278517. PMID 32548176.
- ↑ Queiroz-Telles F, Fahal AH, Falci DR, Caceres DH, Chiller T, Pasqualotto AC (tháng 11 năm 2017). "Neglected endemic mycoses". The Lancet. Infectious Diseases (bằng tiếng Anh). 17 (11): e367 – e377. doi:10.1016/S1473-3099(17)30306-7. PMID 28774696.
- 1 2 Seyedmousavi S, Bosco SM, de Hoog S, Ebel F, Elad D, Gomes RR, và đồng nghiệp (tháng 4 năm 2018). "Fungal infections in animals: a patchwork of different situations". Medical Mycology. 56 (suppl_1): 165–187. doi:10.1093/mmy/myx104. PMC 6251577. PMID 29538732.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Barlow G, Irving WL, Moss PJ (2020). "20. Infectious diseases". Trong Feather A, Randall D, Waterhouse M (biên tập). Kumar and Clark's Clinical Medicine (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 10). Elsevier. tr. 559–563. ISBN 978-0-7020-7870-5.
- 1 2 3 "Types of Fungal Diseases | Fungal Diseases | CDC". www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "ICD-11 - ICD-11 for Mortality and Morbidity Statistics". icd.who.int. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Thrush in Men". NHS. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013.
- ↑ "Fungal infections: Introduction". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010.
- ↑ Britt LD, Peitzman A, Barie P, Jurkovich G (2012). Acute Care Surgery. Lippincott Williams & Wilkins. tr. 186. ISBN 978-1-4511-5393-4.
- ↑ Blyth CC, Hale K, Palasanthiran P, O'Brien T, Bennett MH (tháng 2 năm 2010). "Antifungal therapy in infants and children with proven, probable or suspected invasive fungal infections". The Cochrane Database of Systematic Reviews. 2015 (2) CD006343. doi:10.1002/14651858.cd006343.pub2. PMC 10576261. PMID 20166083.
- 1 2 3 "Fungal Diseases and COVID-19". CDC (bằng tiếng Anh). Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ. ngày 7 tháng 6 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2021.
- ↑ Hoenigl M, Talento AF, biên tập (2021). Fungal Infections Complicating COVID-19 (bằng tiếng Anh). MDPI. ISBN 978-3-0365-0554-1.
- ↑ Gangneux JP, Bougnoux ME, Dannaoui E, Cornet M, Zahar JR (tháng 6 năm 2020). "Invasive fungal diseases during COVID-19: We should be prepared". Journal de Mycologie Médicale. 30 (2) 100971. doi:10.1016/j.mycmed.2020.100971. PMC 7136887. PMID 32307254.
- ↑ Saxena SK (2020). Coronavirus Disease 2019 (COVID-19): Epidemiology, Pathogenesis, Diagnosis, and Therapeutics (bằng tiếng Anh). Singapore: Springer. tr. 73. ISBN 978-981-15-4813-0.
- ↑ "Fungal Diseases and COVID-19". www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2021.
- ↑ Qu JM, Cao B, Chen RC (2021). COVID-19: The Essentials of Prevention and Treatment (bằng tiếng Anh). Amsterdam, Netherlands: Elsevier. ISBN 978-0-12-824003-8.
- ↑ "Fungal Diseases and COVID-19". www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "Skin fungal infections: how to spot, treat and prevent them in warm weather". citymd.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "CDC - DPDx - Pneumocystis". www.cdc.gov (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Stop neglecting fungi". Nature Microbiology. 2 (8): 17120. tháng 7 năm 2017. doi:10.1038/nmicrobiol.2017.120. PMID 28741610.
- ↑ Sehgal M, Ladd HJ, Totapally B (tháng 12 năm 2020). "Trends in Epidemiology and Microbiology of Severe Sepsis and Septic Shock in Children". Hospital Pediatrics. 10 (12): 1021–1030. doi:10.1542/hpeds.2020-0174. PMID 33208389. S2CID 227067133.
- ↑ Rodrigues ML, Nosanchuk JD (tháng 2 năm 2020). "Fungal diseases as neglected pathogens: A wake-up call to public health officials". PLOS Neglected Tropical Diseases. 14 (2) e0007964. doi:10.1371/journal.pntd.0007964. PMC 7032689. PMID 32078635.
- 1 2 Homei A, Worboys M (ngày 11 tháng 11 năm 2013). "1. Introduction". Fungal Disease in Britain and the United States 1850-2000: Mycoses and Modernity (bằng tiếng Anh). Springer. tr. 6. ISBN 978-0-333-71492-8.
- ↑ Song G, Liang G, Liu W (tháng 8 năm 2020). "Fungal Co-infections Associated with Global COVID-19 Pandemic: A Clinical and Diagnostic Perspective from China". Mycopathologia. 185 (4): 599–606. doi:10.1007/s11046-020-00462-9. PMC 7394275. PMID 32737747.
- Bệnh nhiệt đới
- Bệnh nấm
- Bệnh nấm ở động vật