Bước tới nội dung

Người Māori

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Māori
Tổng dân số
xấp xỉ 750.000
Khu vực có số dân đáng kể
New Zealand775.836 (điều tra dân số 2018)[1]
Úc142.107 (điều tra dân số 2016)[2]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Irelandxấp xỉ 8.000 (2000)[3]
Hoa Kỳ3.500 (2000)[4]
Canada2.500 (2016)[5]
Các vùng khácxấp xỉ 8,000[3]
Ngôn ngữ
Tiếng Māori, tiếng Anh
Tôn giáo
Thiên chúa giáo, tôn giáo Māori
Sắc tộc có liên quan
các dân tộc Polynesia khác,
người Austronesia

Người Māori (/ˈmaːɔɾi/, /ˈmɑːʊəri/)[6] là những người Polynesia bản xứ của New Zealand. Người Māori có tổ tiên là những dân tộc thiểu số sống ở đông Polynesia, tới New Zealand trong một số đợt hải hành bằng thuyền nhỏ trong giai đoạn nào đó giữa 1250 và 1300.[7][8] Trải qua nhiều thế kỷ bị cô lập, những cư dân Polynesia này đã phát triển một nền văn hóa độc đáo được biết đến với tên gọi "Māori", với một ngôn ngữ riêng, một kho thần thoại phong phú, các nghề thủ công và nghệ thuật trình diễn đặc sắc. Ban đầu người Māori hình thành nên các bộ lạc, dựa trên các tục lệ và cách tổ chức xã hội kiểu đông Polynesia.

Những tiếp xúc ban đầu giữa người Māori và người châu Âu (bắt đầu từ thế kỷ 18) diễn ra với nhiều hình thái, từ trao đổi thương mại có lợi cho đến bạo lực chết người. Người Māori đã chủ động tiếp nhận nhiều công nghệ mới từ những người mới đến. Với việc ký kết Hiệp ước Waitangi vào năm 1840, hai nền văn hóa đã chung sống hòa bình trong khoảng một thế hệ. Tuy nhiên, căng thẳng gia tăng do tranh chấp mua bán đất đai đã dẫn đến xung đột vào những năm 1860. Hệ quả là đất đai bị tịch thu, điều mà người Māori đã chống trả quyết liệt. Sau khi Hiệp ước bị tuyên bố là "vô hiệu về mặt pháp lý" vào năm 1877, người Māori bị buộc phải đồng hóa vào văn hóa phương Tây trên nhiều phương diện. Những biến động xã hội cùng với dịch bệnh do người ngoài mang đến đã tàn phá nặng nề dân số Māori, khiến dân số của họ sụt giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, dân số đã bắt đầu phục hồi vào đầu thế kỷ 20.

Cuộc điều tra dân số New Zealand tháng 3 năm 2023 cho thấy số người gốc Māori là 978.246 người (chiếm 19,6% tổng dân số), tăng 12,5% so với năm 2018.[9][10] Trong số những người tự nhận là người Māori vào năm 2023, có 366.015 người (41,2%) tự nhận mình thuần gốc Māori, trong khi 409.401 người (46,1%) tự nhận mình mang cả hai dòng máu châu Âu và Māori.

Nhiều nỗ lực (lấy Hiệp ước Waitangi làm trung tâm) đã được thực hiện nhằm nâng cao vị thế của người Māori trong xã hội New Zealand và đạt được công bằng xã hội. Văn hóa Māori truyền thống đã có sự phục hưng mạnh mẽ, và được thúc đẩy thêm bởi phong trào phản kháng của người Māori nổi lên vào những năm 1960. Tuy nhiên, một tỷ lệ lớn người Māori vẫn đang phải đối mặt với những rào cản kinh tế và xã hội đáng kể. So với các nhóm dân tộc khác, họ thường có tuổi thọ trung bình và thu nhập thấp hơn. Họ cũng phải chịu tỷ lệ tội phạm, các vấn đề sức khỏe, tỷ lệ bị bỏ tù, nghèo đói và thành tích học tập kém cao hơn. Nhiều sáng kiến kinh tế-xã hội đã được thực hiện với mục đích "thu hẹp khoảng cách" giữa người Māori và những người New Zealand khác. Việc bồi hoàn về kinh tế và chính trị cho những bất công lịch sử cũng đang được tiến hành.

Người Māori là nhóm dân tộc lớn thứ hai tại New Zealand, chỉ sau người New Zealand gốc châu Âu (thường được biết đến với tên gọi trong tiếng Māori là Pākehā). Ngoài ra, có hơn 170.000 người Māori đang sinh sống tại Úc. Tiếng Māori được khoảng một phần năm tổng số người Māori sử dụng (chiếm 3% tổng dân số New Zealand). Người Māori hoạt động tích cực trong mọi lĩnh vực văn hóa và xã hội của New Zealand, với sự đại diện độc lập trong các lĩnh vực như truyền thông, chính trị và thể thao.

Nguồn gốc tên gọi

Trong tiếng Māori, từ māori có nghĩa là 'bình thường', 'tự nhiên', hoặc 'thông thường'. Trong các truyền thuyết và truyền khẩu, từ này được dùng để phân biệt con người bình thường (người trần mắt thịt)—gọi là tāngata māori—với các vị thần và linh hồn (wairua).[11] Tương tự như vậy, wai māori có nghĩa là 'nước ngọt', đối lập với nước mặn. Hầu hết các ngôn ngữ Polynesia đều có những từ cùng gốc với từ này, tất cả đều bắt nguồn từ từ *ma(a)qoli trong ngôn ngữ Polynesia nguyên thủy,[12] với ý nghĩa được phục dựng là 'thật', 'thực sự', 'chính gốc'.[13][14]

Cách gọi tên và tự gọi tên

Những người châu Âu thời kỳ đầu đến New Zealand thường gọi người dân bản địa là "người New Zealand" (New Zealanders) hoặc "dân bản xứ" (natives).[15] Về phía mình, người Māori đã dùng thuật ngữ Māori để mô tả bản thân họ theo nghĩa là chỉ chung toàn bộ các bộ lạc.

Người Māori cũng thường sử dụng thuật ngữ tangata whenua (nghĩa đen là "người của vùng đất") để tự nhận diện theo cách thể hiện mối quan hệ của họ với một vùng đất cụ thể. Một bộ lạc có thể là tangata whenua ở khu vực này, nhưng lại không phải ở khu vực khác.[16] Thuật ngữ này cũng có thể dùng để chỉ toàn bộ người Māori nói chung trong mối quan hệ với toàn bộ đất nước New Zealand (Aotearoa).

Định nghĩa chính thức về "người Māori" cho các mục đích bầu cử đã thay đổi theo thời gian. Trước năm 1974, chính phủ yêu cầu phải có giấy tờ chứng minh dòng dõi và chỉ những người có ít nhất 50% dòng máu Māori mới được phép lựa chọn khu vực bầu cử mà họ muốn bỏ phiếu (giữa khu vực bầu cử riêng của người Māori hay khu vực chung). Đạo luật Sửa đổi các vấn đề Māori năm 1974 đã thay đổi điều này, cho phép các cá nhân tự xác định danh tính văn hóa của mình. Mặc dù vậy, mãi cho đến năm 1986, các cuộc điều tra dân số vẫn yêu cầu ít nhất 50% gốc gác Māori để được tính là người Māori. Hiện nay, trong hầu hết các bối cảnh, nhà chức trách chỉ yêu cầu một số bằng chứng về tổ tiên hoặc bằng chứng về sự kết nối văn hóa liên tục (chẳng hạn như được những người khác trong cộngóm đồng chấp nhận là người Māori); tuy nhiên, không còn yêu cầu về tỷ lệ dòng máu tối thiểu nữa.[17][i]

Lịch sử

Nguồn gốc từ Polynesia

Việc người Māori định cư tại New Zealand đại diện cho điểm kết thúc của một chuỗi dài các cuộc hành trình "nhảy" từ đảo này sang đảo khác trên khắp Nam Thái Bình Dương.

Không có bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy có một nền văn minh nào khác tồn tại ở New Zealand trước người Māori. Ngược lại, các bằng chứng thuyết phục từ khảo cổ học, ngôn ngữ họcnhân chủng học đều chỉ ra rằng: những người định cư đầu tiên đã di cư từ Polynesia và trở thành người Māori.[19][20] Các bằng chứng cho thấy tổ tiên của họ (vốn là một phần của nhóm người Nam Đảo - Austronesian) trải dài 5.000 năm về trước, đến tận thổ dân Đài Loan. Người Polynesia đã định cư trên một khu vực rộng lớn bao gồm Tonga, Samoa, Tahiti, Hawaiʻi, Đảo Phục Sinh (Rapa Nui) – và cuối cùng, là New Zealand.[21]

Ngày tháng chính xác của cuộc di cư và định cư đầu tiên vẫn là một vấn đề gây tranh cãi.[22] Có thể đã có một số cuộc thám hiểm và định cư lẻ tẻ trước khi Núi Tarawera phun trào (khoảng năm 1315). Bằng chứng là việc tìm thấy xương của chuột Polynesia và các vỏ sò bị chuột gặm, cũng như dấu vết của các vụ cháy rừng trên diện rộng trong khoảng một thập kỷ trước đó. [23] [24][25] Một nghiên cứu năm 2022 sử dụng công nghệ carbon phóng xạ tiên tiến cho thấy rằng "việc định cư sớm của người Māori đã xảy ra ở Đảo Bắc trong khoảng thời gian từ năm 1250 đến 1275 sau Công nguyên".[26][27] Tuy nhiên, một tổng hợp các bằng chứng khảo cổ và di truyền lại kết luận rằng: cho dù có một số người đến trước vụ phun trào Tarawera hay không, thì thời kỳ định cư chính vẫn diễn ra trong nhiều thập kỷ sau vụ phun trào, tức là vào khoảng giữa năm 1320 và 1350.[28] Điều này khá khớp với các phân tích từ truyền thuyết miệng của người Māori. Các truyền thuyết này mô tả về sự xuất hiện của tổ tiên trên một số chiếc thuyền vượt đại dương (gọi là waka) trong một cuộc di cư hàng loạt có kế hoạch vào khoảng năm 1350.[29][30]

Ngay từ khi mới định cư ở New Zealand và trong các chuyến hải hành xa hơn về phía nam, họ đã có tác động sâu sắc đến môi trường. Đã có bằng chứng khảo cổ rõ ràng về việc định cư trong thời gian ngắn của người Maori ở tận phía nam như Đảo Enderby.[31] Một số người đã suy đoán rằng các nhà thám hiểm Māori có thể là những người đầu tiên phát hiện ra Nam Cực.[32][33][34][35] Theo một bản dịch vào thế kỷ 19 của Stephenson Percy Smith, một phần lịch sử truyền miệng của người Rarotonga (một dân tộc Polynesia khác) mô tả về Ui-te-Rangiora. Vào khoảng năm 650, ông đã dẫn đầu một hạm đội thuyền Waka Tīwai đi về phía nam cho đến khi họ đến "một nơi lạnh buốt, nơi các cấu trúc giống như đá nhô lên từ một vùng biển rắn".[36] Dựa trên các diễn giải, các nhà bình luận sau này suy đoán rằng những mô tả ngắn gọn này có thể khớp với Thềm băng Ross, hoặc có thể là lục địa Nam Cực, hay các tảng băng trôi được bao quanh bởi biển băng ở Nam Đại Dương. [37][38][39]

Tất nhiên, các học giả khác lại hoài nghi hơn nhiều. Họ chỉ ra các vấn đề nghiêm trọng với bản dịch của Smith và lưu ý về công nghệ hàng hải cần thiết để có thể đi đến tận Nam Cực.[40] Bất kể những tranh cãi này, người Māori rõ ràng là những nhà hàng hải tinh vi. Ngày nay, New Zealand có mối liên kết mạnh mẽ với Nam Cực và một số người mong muốn các giá trị của người Māori trở thành một phần không thể thiếu trong sự hiện diện của con người ở đó.[41]

Lịch sử sơ khai

Giai đoạn cổ xưa

Các hiện vật thời kỳ đầu cổ xưa từ địa điểm khảo cổ Wairau Bar , được trưng bày tại Bảo tàng Canterbury ở Christchurch

Giai đoạn định cư sớm nhất của người Māori, được gọi là thời kỳ "Cổ xưa" (Archaic), "săn moa" hoặc "khai hoang" (Colonisation), kéo dài từ lúc họ mới đặt chân lên New Zealand cho đến khoảng năm 1500. Chế độ ăn của người Māori thời kỳ đầu bao gồm rất nhiều moa (một loài chim khổng lồ không biết bay, nay đã tuyệt chủng), các loài chim lớn khác và hải cẩu lông, những loài vốn chưa bao giờ bị săn bắt trước đây. Thời kỳ Cổ xưa này nổi bật với các chuỗi hạt hình ống đặc trưng.[42] Giai đoạn này cũng đáng chú ý vì thiếu vắng các loại vũ khí và công sự phòng thủ vốn rất tiêu biểu cho thời kỳ Cổ điển sau này.[43] Địa điểm khảo cổ nổi tiếng nhất và được nghiên cứu nhiều nhất của thời kỳ Cổ xưa là Wairau Bar ở Đảo Nam.[44] Nơi đây cho thấy bằng chứng về việc có người sinh sống từ đầu thế kỷ 13 đến đầu thế kỷ 15.[45] Đây cũng là địa điểm khảo cổ duy nhất ở New Zealand được biết đến có chứa hài cốt của những người được sinh ra ở nơi khác (tức là những người di cư thế hệ đầu tiên).[46]

Giai đoạn cổ điển

Quá trình chuyển đổi sang thời kỳ Cổ điển (đây là nền văn hóa tồn tại vào thời điểm người châu Âu tiếp xúc) được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, bao gồm một giai đoạn khí hậu lạnh hơn đáng kể từ năm 1500, cùng với sự tuyệt chủng của loài moa và các loài động vật dùng làm thực phẩm khác.[47] [48][49][50][51][52] Thời kỳ Cổ điển có đặc điểm là các vũ khí và đồ trang sức làm từ pounamu (ngọc bích New Zealand) được chế tác tinh xảo, các thuyền chiến (waka) và nhà hội (wharenui) được chạm khắc công phu.[53]

Mô hình của một

Người Māori sống trong các khu định cư tự trị, tổ chức theo các nhóm gia đình mở rộng gọi là hapū (chung một tổ tiên iwi). Các khu định cư này có khu vực trồng trọt và các nguồn thực phẩm để săn bắn, đánh cá và hái lượm. Do chiến tranh thỉnh thoảng xảy ra (vì các hành vi sai trái hoặc tranh chấp tài nguyên), các (pháo đài trên đồi) được xây dựng ở các vị trí chiến lược. Việc xây phổ biến ở các mức độ khác nhau trên khắp New Zealand. Có một định kiến cho rằng người Māori là 'những chiến binh bẩm sinh'; tuy nhiên, chiến tranh và các tập tục liên quan (như ăn thịt đồng loại) không phải là phần chủ đạo trong văn hóa Māori.[54][55][56]

Vào khoảng năm 1500, một nhóm người Māori đã di cư về phía đông đến Quần đảo Chatham và phát triển thành một dân tộc riêng, được gọi là người Moriori.[57] Một phần quan trọng trong văn hóa của họ là chủ nghĩa hòa bình[58]

Tiếp xúc với người châu Âu

Một bức vẽ từ nhật ký hành trình của Abel Tasman, ghi lại cuộc chạm trán đầu tiên giữa người châu Âu và người Māori vào năm 1642.

Những nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên đến New Zealand là Abel Tasman (đến năm 1642), Thuyền trưởng James Cook (năm 1769) và Marion du Fresne (năm 1772). Những cuộc chạm trán đầu tiên giữa người Māori và người châu Âu diễn ra đầy sóng gió, thậm chí là đẫm máu. Abel Tasman chưa kịp đặt chân lên bờ thì đã mất 4 thủy thủ, và phía ông có lẽ cũng đã giết ít nhất một người Māori.[59] Thuyền trưởng Cook, dù sau này có quan hệ tốt với người bản địa, nhưng chỉ trong 3 ngày đầu mới đến, người của ông đã bắn chết ít nhất 8 người Māori.[60][61] Bi kịch tiếp diễn 3 năm sau đó với đoàn của du Fresne: sau khởi đầu tưởng như êm đẹp, ông cùng 26 thủy thủ cuối cùng vẫn bị giết hại. Từ những năm 1780, người Māori cũng bắt đầu gặp gỡ ngày càng nhiều các tàu săn hải cẩu, săn cá voi và các nhà truyền giáo Cơ đốc người châu Âu và châu Mỹ. Mối quan hệ chủ yếu là hòa bình, mặc dù bị hoen ố bởi một số sự cố bạo lực khác, mà tồi tệ nhất là vụ thảm sát tàu Boyd năm 1807 và các cuộc tấn công trả thù sau đó.[62]

Khi người châu Âu bắt đầu định cư tại New Zealand vào đầu thế kỷ 19, một thời kỳ giao thoa văn hóa và tư tưởng sâu rộng đã mở ra. Nhiều người Māori nhìn nhận người châu Âu (mà họ gọi là "Pākehā") như một cầu nối quan trọng để tiếp cận tri thức và kỹ thuật phương Tây. Họ đã nhanh chóng làm chủ chữ viết, coi đây là một công cụ mới mẻ để lan tỏa ý tưởng. Cũng nhờ vậy, vô số câu chuyện và vần thơ truyền miệng quý giá của họ lần đầu tiên đã được ghi lại thành văn bản.[63]

Việc du nhập khoai tây đã cách mạng hóa nông nghiệp. Tuy nhiên, việc các bộ lạc (iwi) Māori sở hữu được súng hỏa mai đã dẫn đến một thời kỳ chiến tranh đẫm máu giữa các bộ lạc, được gọi là cuộc chiến súng hỏa mai (Musket Wars).[64] Trong cuộc chiến này, nhiều nhóm đã bị tàn sát và những nhóm khác bị đánh đuổi khỏi lãnh thổ truyền thống của họ.[65] Người Moriori theo chủ nghĩa hòa bình ở Quần đảo Chatham cũng chịu chung số phận, bị thảm sát và nô dịch trong một cuộc xâm lược của một số iwi từ vùng Taranaki.[66] Cùng lúc đó, người Māori phải chịu tỷ lệ tử vong cao do các bệnh truyền nhiễm từ Á-Âu như cúm, đậu mùasởi. Ước tính những căn bệnh này đã giết chết từ 10 đến 50 phần trăm dân số Māori.[67][68]

Đến năm 1839, ước tính số người châu Âu sống ở New Zealand đã lên tới 2.000 người.[69] Vương quốc Anh đã chấp nhận các yêu cầu lặp đi lặp lại từ các nhà truyền giáo và một số tù trưởng Māori (rangatira) về việc can thiệp. Chính phủ Anh đã cử Thuyền trưởng Hải quân Hoàng gia William Hobson đến New Zealand để đàm phán một hiệp ước giữa Vương quốc Anh và người Māori, sau này được gọi là Hiệp ước Waitangi. Bắt đầu từ tháng 2 năm 1840, hiệp ước này đã được ký kết bởi Nữ hoàng Anh (thông qua đại diện) và 500 tù trưởng Māori trên khắp New Zealand.[70][71] Hiệp ước trao cho người Māori các quyền của thần dân Anh, đồng thời đảm bảo quyền sở hữu tài sản và quyền tự trị của các bộ lạc Māori. Đổi lại, họ chấp nhận chủ quyền của Anh và việc sáp nhập New Zealand thành một thuộc địa của Đế quốc Anh.[72]

Bức họa mô tả lễ ký kết Hiệp ước Waitangi năm 1840, sự kiện đã đưa New Zealand và người Māori gia nhập Đế quốc Anh.

Tuy nhiên, tranh cãi vẫn tiếp diễn về các khía cạnh của Hiệp ước Waitangi. Lý do là có sự khác biệt về từ ngữ trong hai phiên bản (tiếng Anhtiếng Māori), cũng như sự hiểu lầm về các khái niệm văn hóa khác nhau. Đáng chú ý nhất, phiên bản tiếng Māori không hề nói đến việc nhượng lại chủ quyền cho Vương quốc Anh.[73] Năm 1877, trong một vụ kiện, Hiệp ước này đã bị tòa án tuyên bố là "hoàn toàn vô hiệu" với lý do những người ký kết là "những kẻ man rợ nguyên thủy".[74][75]

Mặc dù vậy, quan hệ giữa người Māori và Pākehā (người New Zealand gốc Âu) trong thời kỳ thuộc địa ban đầu phần lớn là hòa bình. Nhiều nhóm Māori đã thành lập các doanh nghiệp lớn, cung cấp thực phẩm và các sản phẩm khác cho thị trường trong nước và quốc tế. Khi bạo lực nổ ra (như trong các cuộc xung đột Wairau, Flagstaff, Hutt Valley...), chúng thường chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ và kết thúc bằng hiệp ước hòa bình. Tuy nhiên, đến những năm 1860, số lượng người định cư ngày càng tăng và căng thẳng leo thang về các vụ mua bán đất đai tranh chấp đã dẫn đến các cuộc chiến tranh New Zealand . Trong các cuộc chiến này, chính quyền thuộc địa đã chiến đấu chống lại nhiều iwi Māori, sử dụng cả quân đội địa phương, quân đội Hoàng gia Anh, và một số iwi Māori đồng minh. Hậu quả của những cuộc xung đột này là chính quyền thuộc địa đã tịch thu hàng loạt đất đai của người Māori để trừng phạt cho cái mà họ gọi là "các cuộc nổi loạn". Những người định cư Pākehā sau đó đã chiếm giữ những vùng đất bị tịch thu này.[76]

Nhiều cuộc xung đột nhỏ hơn đã nổ ra sau các cuộc chiến lớn, bao gồm sự kiện tại Parihaka năm 1881 và "Cuộc chiến thuế chó" (1897-1898). Tòa án Đất đai Bản địa (Native Land Court) cũng được thành lập để chuyển đất đai của người Māori từ sở hữu chung của cộng đồng sang sở hữu cá nhân. Đây được xem là một biện pháp để đồng hóa và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc bán đất cho người châu Âu.[77]

Suy tàn và hồi sinh

Các binh lính thuộc Tiểu đoàn Māori 28 đang trình diễn điệu nhảy haka (vũ điệu truyền thống) vào năm 1941.

Vào cuối thế kỷ 19, một niềm tin phổ biến lan rộng trong cả người Pākehā lẫn người Māori rằng dân tộc Māori sẽ không còn tồn tại với tư cách là một chủng tộc hay văn hóa riêng biệt, mà sẽ bị đồng hóa hoàn toàn vào cộng đồng người châu Âu.[78] Từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, xã hội New Zealand đã ban hành nhiều luật lệ, chính sách và thông lệ nhằm ép buộc người Māori phải tuân theo các chuẩn mực của Pākehā. Đáng chú ý nhất là Đạo luật Đàn áp Tohunga năm 1907 (nhắm vào các thầy cúng truyền thống) và chính sách cấm đoán tiếng Māori trong trường học, vốn thường được thực thi bằng các hình phạt thể xác (đòn roi).[79][80] Theo điều tra dân số năm 1896, dân số Māori chỉ còn 42.113 người, trong khi số người châu Âu tại New Zealand đã vượt mốc 700.000.[81]

May mắn là, đà suy giảm nhanh chóng này đã không tiếp diễn và dân số Māori bắt đầu phục hồi trở lại trong thế kỷ 20. Các chính trị gia Māori có tầm ảnh hưởng lớn như James Carroll, Āpirana Ngata, Te Rangi Hīroa và Māui Pōmare đã đặt mục tiêu vực dậy dân tộc Māori sau sự tàn phá của thế kỷ trước. Họ tin rằng con đường tương lai đòi hỏi một mức độ đồng hóa nhất định,[82] theo đó người Māori sẽ tiếp nhận các tiến bộ của châu Âu (như y học phương Tây), nhưng đồng thời vẫn duy trì các giá trị văn hóa truyền thống.

Người Māori cũng đã chiến đấu dũng cảm trong cả hai Thế chiến trong các tiểu đoàn chuyên biệt (Tiểu đoàn Tiên phong Māori trong Thế chiến I và Tiểu đoàn 28 (Māori) trong Thế chiến II). Tuy nhiên, họ cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch cúm năm 1918, với tỷ lệ tử vong cao gấp 5 đến 7 lần so với người Pākehā.[83][84]

Bà Whina Cooper dẫn đầu Cuộc tuần hành Đất đai Māori năm 1975, đòi lại công lý cho những bất công trong lịch sử.

Bắt đầu từ những năm 1960, cộng đồng người Māori đã trải qua một cuộc phục hưng văn hóa mạnh mẽ.[85] Quá trình này diễn ra song song với các hoạt động đòi công bằng xã hội và các phong trào phản kháng.[86] Các trường mầm non "Kōhanga reo" (tạm dịch: Tổ ấm Ngôn ngữ) được thành lập vào năm 1982 để thúc đẩy việc sử dụng và ngăn chặn đà suy thoái của tiếng Māori.[87] Hiện có hai kênh truyền hình phát sóng bằng tiếng Māori,[88][89] trong khi các từ như "kia ora" (xin chào) đã trở nên thông dụng trong tiếng Anh của người New Zealand.[90]

Sự công nhận của chính phủ về quyền lực chính trị ngày càng tăng của người Māori, cùng với các hoạt động chính trị của họ, đã dẫn đến việc bồi hoàn (dù còn hạn chế) cho các vụ tịch thu đất trong quá khứ. Năm 1975, Hoàng gia đã thành lập Tòa án Waitangi để điều tra các khiếu nại lịch sử.[91] Kể từ những năm 1990, chính phủ New Zealand đã đàm phán và hoàn tất các thỏa thuận dàn xếp hiệp ước với nhiều iwi (bộ lạc) trên cả nước. Tính đến tháng 6 năm 2008, chính phủ đã chi hơn 900 triệu NZD cho các khoản dàn xếp này, phần lớn dưới hình thức các thỏa thuận về đất đai.[92] Hiện đang có một thế hệ lãnh đạo Māori mới đang sử dụng các khoản bồi hoàn này như một nền tảng đầu tư để phát triển kinh tế.[93]

Bất chấp việc văn hóa Māori ngày càng được xã hội New Zealand chấp nhận rộng rãi, các thỏa thuận dàn xếp hiệp ước này lại gây ra tranh cãi dữ dội. Về phía người Māori, một số người lập luận rằng các khoản bồi hoàn này chỉ tương đương "1 đến 2,5 cent trên mỗi đô la" giá trị thực của vùng đất bị tịch thu, và không thể coi là sự đền bù thỏa đáng. Ngược lại, một số người không phải Māori lại lên án các thỏa thuận và các sáng kiến kinh tế-xã hội này, cho rằng đây là một hình thức "ưu đãi dựa trên chủng tộc".[94] Cả hai luồng ý kiến trái ngược này đều được thể hiện rất rõ nét trong cuộc tranh cãi về bờ biển và lòng biển New Zealand vào năm 2004.[95][96]

Nhân khẩu

Phân bố dân số Maori tại New Zealand theo tỷ lệ, năm 2018
Tháp dân số Maori tại New Zealand năm 2018

Theo Đạo luật Sửa đổi các vấn đề Māori năm 1974, người Māori được định nghĩa là "một người thuộc chủng tộc Māori của New Zealand; và bao gồm bất kỳ hậu duệ nào của người đó".[97]

Vào khoảng cuối thế kỷ 18, James Cook ước tính dân số Māori là 100.000 người. Tuy nhiên, nhà sử học Michael King cho rằng con số thực cao hơn một chút, khoảng 110.000 người.[98] Trong suốt thế kỷ 19, số lượng người Māori giảm mạnh xuống mức thấp nhất là 42.000 người do chịu tác động từ quá trình thực dân hóa của châu Âu, đặc biệt là sự tấn công của các loại dịch bệnh mới.[99] Sau giai đoạn đó, dân số đã tăng trưởng nhanh chóng.

Trong cuộc điều tra dân số New Zealand năm 2023, có 887.493 người xác định thuộc nhóm dân tộc Māori, chiếm 17,8% dân số New Zealand.[100] Con số này tăng 111.657 người (14,4%) so với cuộc điều tra dân số năm 2018, và tăng 288.891 người (48,3%) so với năm 2013. Sự gia tăng lớn giữa hai kỳ điều tra dân số 2013 và 2018 chủ yếu là do Cục Thống kê New Zealand bắt đầu bổ sung dữ liệu sắc tộc từ các nguồn khác (các cuộc điều tra trước, dữ liệu hành chính và dữ liệu quy nạp) vào dữ liệu điều tra dân số để giảm thiểu số lượng các trường hợp không phản hồi.[101]

Độ tuổi trung vị của người Māori là 26,8 tuổi, thấp hơn so với mức 38,1 tuổi của toàn bộ dân số New Zealand. Về phân bố cụ thể, nhóm dưới 15 tuổi có 262.422 người (29,6%), nhóm từ 15 đến 29 tuổi có 223.860 người (25,2%), nhóm từ 30 đến 64 tuổi chiếm 336.486 người (37,9%), và cuối cùng là nhóm từ 65 tuổi trở lên với 64.725 người (7,3%).

Xét về phân bố dân cư, theo cuộc điều tra dân số năm 2023, có 753.384 người Māori (chiếm 84,9%) sinh sống tại Đảo Bắc, trong khi 133.656 người (chiếm 15,1%) cư trú tại Đảo Nam. Có năm khu vực hành chính nơi người Māori chiếm đa số dân số, bao gồm: lãnh thổ Quần đảo Chatham (68,6%), quận Wairoa (68,5%), quận Ōpōtiki (66,2%), quận Kawerau (63,2%) và quận Gisborne (54,8%). Khu vực thuộc Hội đồng địa phương Upper Harbour tại Auckland có tỷ lệ tập trung người Māori thấp nhất, chỉ ở mức 6,1%; tiếp theo là khu vực Devonport-Takapuna (6,2%) và Howick (6,3%). Bên ngoài Auckland, quận Queenstown-Lakes là nơi có mật độ người Māori thấp nhất với tỷ lệ 6,4%.[102]

Về thành phần sắc tộc trong cuộc điều tra năm 2023, bên cạnh 366.015 người (41,2%) xác định là người Māori thuần gốc, có tới 409.401 người (46,1%) mang song song dòng máu Âu và Māori. Con số này là hệ quả của việc kết hôn giao thoa diễn ra mạnh mẽ giữa hai nhóm dân cư.[103]

Xét theo số liệu năm 2013, iwi (bộ tộc) có dân số đông nhất là Ngāpuhi (125.601 người), tiếp theo là Ngāti Porou (71.049 người), Ngāi Tahu (54.819 người) và Waikato (40.083 người). Tuy nhiên, có hơn 110.000 người gốc Māori không thể xác định được mình thuộc iwi nào.[104]

Bên ngoài lãnh thổ New Zealand, một cộng đồng người Māori đông đảo hiện đang sinh sống tại Úc. Tại cuộc điều tra dân số Úc năm 2021, có 170.057 người Úc xác định mình là người Māori, trong đó 65.031 người sống tại bang Queensland, 39.714 người tại bang New South Wales và 31.044 người tại bang Tây Úc.[105] Ngoài ra còn có các cộng đồng nhỏ hơn tại Vương quốc Anh (khoảng 8.000 người), Hoa Kỳ (lên tới 3.500 người) và Canada (khoảng 2.805 người).[3][106][107]

Văn hóa

Một Wharenui (nhà hội) tại làng Ōhinemutu, Rotorua (trên đỉnh là bức tượng tekoteko).

Văn hóa Māori tạo nên một bản sắc riêng biệt cho New Zealand. Ngày nay, văn hóa này hiện diện trên khắp thế giới, phần vì cộng đồng người Māori hải ngoại rất lớn, phần vì các họa tiết đặc trưng của họ đã được tiếp biến rộng rãi trong văn hóa đại chúng.[108][109] Văn hóa Māori đương đại là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố truyền thống và những ảnh hưởng của thế kỷ 20.

Văn hóa truyền thống

Dấu vết khảo cổ hé lộ rằng văn hóa Māori đã được định hình một cách từ từ. Chỉ trong vài thế kỷ, sự bùng nổ dân số đã châm ngòi cho các cuộc cạnh tranh tài nguyên.Hệ quả là, chiến tranh nổ ra thường xuyên hơn, kéo theo sự mọc lên khắp nơi của các (pháo đài) kiên cố. Song song đó, người Māori cũng thiết lập nhiều hệ thống nhằm bảo tồn nguồn sống. Hầu hết các luật lệ này, như tapu (điều cấm kỵ) hay rāhui (lệnh cấm tạm thời), đều dựa vào quyền uy tôn giáo hoặc các đe dọa siêu nhiên để ngăn cấm cộng đồng khai thác tài nguyên tại những khu vực nhất định, hoặc vào các mùa cụ thể.

Chiến tranh giữa các bộ lạc là chuyện thường tình. Người Māori đôi khi sẽ ăn thịt kẻ thù bị chinh phục hoặc bắt kẻ thù làm nô lệ.[110] Các hình thái nghệ thuật biểu diễn, như vũ điệu haka, đều phát triển từ cội nguồn Polynesia; nghệ thuật điêu khắc và dệt cũng không ngoại lệ. Các phương ngữ vùng miền cũng nảy sinh, với sự khác biệt về từ vựng và cách phát âm của một số từ. Mặc dù vậy, ngôn ngữ Māori vẫn giữ đủ sự tương đồng với các ngôn ngữ Đông Polynesia khác. Bằng chứng là Tupaia, hoa tiêu người Tahiti trên chuyến hải trình đầu tiên của James Cook, đã có thể đóng vai trò là người phiên dịch giữa người Māori và thủy thủ đoàn của tàu Endeavour.

Tín ngưỡng

Tôn giáo [111]
Không tôn giáo
 
53.5%
Cơ Đốc giáo
 
29.9%
Tín ngưỡng Maori
 
7.7%
Tôn giáo khác
 
1.4%
Phật giáo
 
0.2%
Hồi giáo
 
0.1%
Ấn Độ giáo
 
0.1%

Tín ngưỡng truyền thống của người Māori có nguồn gốc từ văn hóa Polynesia. Đời sống thường nhật của họ chịu sự chi phối của các quan niệm như tapu (thiêng liêng/cấm kỵ), noa (bình thường/không thiêng), mana (uy quyền/danh dự) và wairua (tinh thần). Bên cạnh đó, người Māori còn thờ phụng nhiều vị thần linh khác nhau.

Ngày nay, một số người Māori theo các hệ phái Kitô giáo đa dạng như Giáo hội Trưởng lão, Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, các nhóm Kitô giáo của riêng người Māori như Rātana và Ringatū,[112] cũng như Công giáo, Anh giáo và Tin lành Giám lý (Methodist).[113][114] Theo số liệu từ cuộc điều tra dân số New Zealand năm 2018, 7,7% người Māori theo các tôn giáo, tín ngưỡng và triết lý bản địa; 29,9% theo các hệ phái Kitô giáo và 53,5% tuyên bố không theo tôn giáo nào. Tỷ lệ người Māori theo Kitô giáo hoặc không tôn giáo tương đương với người New Zealand gốc Âu.[111]

Nhiều người Māori vẫn gìn giữ các truyền thống tâm linh như tapunoa. Một số đồ vật, khu vực hoặc công trình được coi là tapu (bị hạn chế về mặt tâm linh) và cần phải được chuyển hóa thành noa (không còn bị hạn chế/cấm kỵ) thông qua các nghi thức.[115] Ví dụ, một phong tục phổ biến là cởi giày trước khi bước vào wharenui (nhà hội họp).[116] Đây là cách bày tỏ sự tôn trọng với tổ tiên, những người được thờ phụng và được tin là đang hiện diện linh thiêng trong ngôi nhà này.[117] Một nghi lễ tâm linh khác là hurihanga takapau (lễ thanh tẩy), được thực hiện khi đánh cá để đảm bảo cá bắt được không còn vướng tapu.[118]

Nghệ thuật

Người Māori sử dụng các hình thức trình diễn văn hóa như waiata (ca hát), haka (vũ điệu), tauparapara (xướng ngôn) và mōteatea (thơ ca) để diễn đạt và lưu truyền tri thức về lịch sử, cộng đồng cũng như các mối quan hệ xã hội.[119]

Kapa haka là loại hình nghệ thuật biểu diễn của người Māori,[120] được cho là bắt nguồn từ nhân vật huyền thoại Tinirau. Kể từ những năm 1880, sau khi tiếp xúc với người châu Âu, loại hình này bắt đầu được biểu diễn để phục vụ du khách; đôi khi nó được cải biên để trở nên gần gũi hơn với thị hiếu của khán giả phương Tây.[121] Trong Thế chiến thứ nhất, dưới sự khuyến khích của Āpirana Ngata, Kapa haka đã được sử dụng để gây quỹ cho Quỹ Binh lính Māori.[122] Điệu haka cũng thường được trình diễn trong các nghi thức pōwhiri (lễ đón khách).[123]

Te Matatini 2015 tại Công viên Hagley, Christchurch

Kể từ năm 1972, một cuộc thi kapa haka cấp quốc gia mang tên Lễ hội Quốc gia Te Matatini đã được tổ chức định kỳ bởi Hiệp hội Nghệ thuật Biểu diễn Māori Truyền thống Aotearoa. Các nhóm kapa haka hoạt động tại nhiều trường học, cơ sở giáo dục đại học và nơi làm việc; đồng thời loại hình này cũng được biểu diễn tại các điểm du lịch trên khắp cả nước.[124][125]

Trong văn hóa Māori thời kỳ trước khi người châu Âu đến, Whare tapere (nhà giải trí) là nơi diễn ra các hoạt động kể chuyện, nhảy múamúa rối.[126][127]

Sân khấu kịchmúa đương đại của người Māori phát triển rực rỡ trong thập niên 1970 và 1980 với các nhóm nghệ thuật như Te Ohu Whakaari, Te Ika a Maui Players và Taki Rua. Các biên kịch, diễn viênđạo diễn sân khấu đương đại người Māori tiêu biểu bao gồm George Henare, Riwia Brown, Hone Kouka, Nancy Brunning, Jim Moriarty, Briar Grace-Smith, cùng nhiều tên tuổi khác.[128] [129]

Nghệ thuật biểu diễn đương đại ngày nay bao gồm các đoàn kịch như Taki Rua,[129] Tawata Productions (đơn vị tổ chức lễ hội viết kịch thường niên dành cho các tác giả bản địa mang tên "Breaking Ground"),[130][131] cùng các đoàn múa như Atamira Dance Company và Okareka Dance Company.[132] Tại Auckland có Te Pou, một trung tâm nghệ thuật biểu diễn hoạt động theo nguyên tắc của người Māori (kaupapa Māori), chuyên phát triển và hợp tác với các nhà làm kịch người bản địa.[133]

Nhạc cụ truyền thống của người Māori được gọi là taonga pūoro. Chúng đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, từ kể chuyện, phục vụ các nghi lễ tôn giáo cho đến các chức năng thường nhật như báo hiệu bắt đầu một ngày mới.[134]Taonga pūoro được chia thành hai nhóm chính: nhạc cụ tạo giai điệu (như các loại sáo) và nhạc cụ giữ nhịp điệu (chẳng hạn như poi "những quả cầu làm từ lá lanh khô buộc dây, được người biểu diễn quay tròn và vỗ theo nhịp").[135]

Các nghệ sĩ và nhóm nhạc người Māori nổi tiếng bao gồm Stan Walker, Maisey Rika, Young Sid, William Singe, Teeks, Ria Hall, Rob Ruha, Pieter T, Alien Weaponry, Sons of Zion, 1814 và Maimoa.

Thể thao

Rugby team wearing all black, facing the camera, knees bent, and facing toward a team wearing white
Đội tuyển bóng bầu dục New Zealand thực hiện nghi thức haka trước một trận đấu.
Đội tuyển Rugby League Maori trong một trận đấu.

Người Māori hòa nhập sâu rộng vào nền văn hóa thể thao của New Zealand và góp mặt đông đảo trong các đội tuyển bóng bầu dục (cả hai thể thức UnionLeague) ở mọi cấp độ. Ngoài sự hiện diện của các cá nhân trong đội tuyển quốc gia, người Māori còn thành lập những đội tuyển riêng ở môn bóng bầu dục và cricket để tham gia tranh tài quốc tế.

Tại Thế vận hội Mùa hè 2016, 41 trong tổng số 199 vận động viên (chiếm 20,5%) của đoàn thể thao New Zealand là người gốc Māori; riêng trong đội hình bóng bầu dục bảy người, họ chiếm tới 17 trên tổng số 24 thành viên. Ngoài ra, trong đoàn thể thao Úc cũng có ba vận động viên gốc Māori góp mặt.[136]

Đội tuyển bóng bầu dục quốc gia New Zealand cùng nhiều vận động viên khác thường biểu diễn haka—một nghi thức thách đấu truyền thống của người Māori—trước khi bắt đầu các sự kiện thể thao.[137][138]

Kī-o-rahiTapawai là hai môn thể thao dùng bóng bắt nguồn từ văn hóa Māori. Trong đó, môn Kī-o-rahi đã nhận được một cú hích bất ngờ khi được thương hiệu McDonald's lựa chọn làm hình ảnh đại diện cho New Zealand.[139] Bên cạnh đó, kể từ thập niên 1980, môn Waka ama (đua thuyền canoe có phao cân bằng) cũng chứng kiến sự hồi sinh mạnh mẽ và thu hút sự quan tâm lớn trở lại tại quốc gia này.[140]

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ Māori, còn được biết đến với tên gọi te reo Māori (phát âm: [ˈmaːoɾi, te ˈɾeo ˈmaːoɾi]) hay đơn giản là Te Reo (nghĩa là "ngôn ngữ"), nắm giữ vị thế là một ngôn ngữ chính thức. Các nhà ngôn ngữ học xếp nó vào nhóm ngôn ngữ Đông Polynesia do có mối quan hệ gần gũi với tiếng Māori ở Quần đảo Cook, tiếng Tuamotuan và tiếng Tahiti.

Map of New Zealand showing the percentage of people in each census area unit who speak Māori. Areas of the North Island exhibit the highest Māori proficiency.
Lượng người nói Māori theo điều tra dân số 2013.[141]
  <5%
  5–10%
  10–20%
  20–30%
  30–40%
  40–50%
  >50%

Trước khi tiếp xúc với người châu Âu, người Māori chưa có chữ viết và những thông tin quan trọng như whakapapa (gia phả) đều được ghi nhớ và truyền miệng qua các thế hệ.[142] Tuy nhiên, người Māori đã quen thuộc với khái niệm bản đồ. Khi tiếp xúc với các nhà truyền giáo vào năm 1815, họ có thể vẽ chính xác bản đồ rohe (lãnh thổ của iwi) lên giấy với chất lượng ngang ngửa bản đồ của người châu Âu. Các nhà truyền giáo phỏng đoán rằng theo truyền thống, người Māori thường vẽ bản đồ trên cát hoặc các vật liệu tự nhiên khác.[143]

Từ khoảng năm 1890, các Nghị sĩ Quốc hội người Māori đã nhận thức được tầm quan trọng của việc biết đọc viết tiếng Anh và kiên quyết yêu cầu tất cả trẻ em Māori phải được giảng dạy bằng tiếng Anh. Các nhà truyền giáo, những người vẫn đang điều hành nhiều trường học dành cho người Māori, vốn giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Māori, nhưng các nghị sĩ người bản địa đã yêu cầu chấm dứt việc này. Dù vậy, việc đến trường của nhiều người Māori thường bị gián đoạn.

Tại nhiều khu vực ở New Zealand, trong những năm hậu chiến, tiếng Māori đã đánh mất vai trò là ngôn ngữ sinh hoạt cộng đồng được đông đảo người dân sử dụng. Song hành với những lời kêu gọi về chủ quyền và chấn chỉnh các bất công xã hội từ thập niên 1970 trở đi, các trường học tại New Zealand hiện nay đã đưa văn hóa và ngôn ngữ Māori vào giảng dạy như một môn tự chọn. Đồng thời, các mô hình giáo dục mầm non kohanga reo (nghĩa là "tổ ngôn ngữ") cũng ra đời, nơi tamariki (trẻ nhỏ) được dạy hoàn toàn bằng tiếng Māori. Mô hình này hiện đã mở rộng lên đến tận cấp trung học (kura tuarua). Hầu hết các trung tâm mầm non đều dạy những kiến thức cơ bản như màu sắc, chữ số và cách chào hỏi thông qua các bài hát và bài xướng ngôn tiếng Māori.[144]

Đài Truyền hình Māori, một kênh được chính phủ tài trợ với cam kết phát sóng chủ yếu bằng Te Reo, đã bắt đầu hoạt động vào tháng 3 năm 2004.[145] Đến thời điểm điều tra dân số năm 2013, có 125.352 người Māori (chiếm 21,3%) cho biết họ có khả năng giao tiếp hội thoại bằng ngôn ngữ này.[146]

Đại diện chính trị

The Māori Parliament at Pāpāwai, Greytown in 1897
Lễ khai mạc Quốc hội Māori tại Pāpāwai, Greytown vào năm 1897, với sự tham dự của Richard Seddon.
Quốc kỳ của người Māori, hay còn gọi là cờ Tino rangatiratanga (mang ý nghĩa "chủ quyền tuyệt đối"). Được thiết kế vào năm 1989,[147] lá cờ này hiện được các nhóm cộng đồng Māori sử dụng rộng rãi.

Người Māori đã có tiếng nói đại diện trước Hoàng gia trong nền chính trị New Zealand từ thời Tuyên ngôn Độc lập, trước cả khi Hiệp ước Waitangi được ký kết vào năm 1840. Tuy nhiên, vốn có truyền thống gắn kết theo bộ lạc, người Māori không có một tổ chức duy nhất nào đứng ra đại diện cho toàn bộ cộng đồng trên phạm vi cả nước. Phong trào Kīngitanga (Vua Māori) khởi phát vào thập niên 1860 như một nỗ lực nhằm liên kết các bộ tộc (iwi) dưới một ngọn cờ lãnh đạo chung; dẫu vậy trong thời hiện đại, vai trò của phong trào này chủ yếu mang tính nghi thức. Một nỗ lực thống nhất chính trị khác là Phong trào Kotahitanga, phong trào này đã lập ra một Quốc hội Māori riêng biệt và duy trì các phiên họp thường niên từ năm 1892 cho đến khi chấm dứt vào năm 1902.[148]

Từ năm 1868, Quốc hội New Zealand đã thiết lập cơ chế "ghế dành riêng" (reserved seats) cho người Māori.[149] Đến năm 1893, họ chính thức được hưởng quyền bầu cử phổ thông bình đẳng như mọi công dân New Zealand khác.[150] Hiện tại, các khu vực bầu cử dành riêng cho người Māori chiếm 7 trong tổng số 120 ghế tại Quốc hội đơn viện. Bên cạnh đó, việc tham vấn và xem xét ý kiến của người Māori giờ đây đã trở thành yêu cầu bắt buộc trong quy trình làm việc của các hội đồng và cơ quan chính phủ.[149] Việc tranh cử các ghế này là cơ hội đầu tiên để đông đảo người Māori tham gia vào các cuộc bầu cử quốc gia, mặc dù tiếng nói của các đại diện đắc cử ban đầu chưa thực sự có nhiều trọng lượng. Ngài Āpirana Ngata thường được tôn vinh là chính trị gia người Māori kiệt xuất nhất từng phục vụ trong Quốc hội New Zealand vào giữa thế kỷ 20.[151]

Tính hợp lý và sự chính danh của danh sách cử tri riêng cũng như cơ chế ghế dành riêng vẫn luôn là đề tài tranh luận sôi nổi. Năm 2008, Đảng Quốc gia tuyên bố sẽ xóa bỏ các ghế này sau khi hoàn tất việc giải quyết các khiếu nại lịch sử liên quan đến Hiệp ước Waitangi, mục tiêu họ đặt ra là năm 2014.[152] Tuy nhiên, sau cuộc bầu cử, Đảng Quốc gia đã đạt được thỏa thuận với Đảng Māori rằng sẽ không bãi bỏ cơ chế này nếu chưa nhận được sự đồng thuận từ chính cộng đồng người Māori.[153]

Qua nhiều năm, nhiều đảng phái chính trị của người Māori đã được thành lập với mục tiêu nâng cao vị thế của cộng đồng này trong xã hội New Zealand. Đảng Māori ra đời năm 2004, đã giành được 1,32% số phiếu bầu theo danh sách đảng trong cuộc tổng tuyển cử năm 2014, nắm giữ hai ghế tại Quốc hội khóa 51 và có hai nghị sĩ đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng không thuộc Nội các (Ministers outside Cabinet). Dù vắng bóng hoàn toàn tại Quốc hội khóa 52, đảng này đã giành lại được hai ghế ở khóa 53.[154]

Sau khi Đảng Lao động tái đắc cử và lập chính phủ vào năm 2020, bà Nanaia Mahuta đã trở thành nữ Ngoại trưởng người Māori đầu tiên của New Zealand. Trước đó vào năm 2016, bà là Nghị sĩ Quốc hội đầu tiên mang trên mình moko kauae (hình xăm cằm truyền thống của phụ nữ Māori).[155] Cuộc bầu cử năm 2020 cũng chứng kiến thêm nhiều nữ nghị sĩ có moko kauae bước chân vào nghị trường, trong đó có đồng lãnh đạo Đảng Māori, bà Debbie Ngarewa-Packer, và nghị sĩ Đảng Xanh, bà Elizabeth Kerekere.

Quốc hội khóa 54, được thành lập sau cuộc tổng tuyển cử năm 2023, đã ghi nhận con số kỷ lục 33 nghị sĩ là người Māori. Điều này đồng nghĩa với việc tỷ lệ người Māori trong cơ quan lập pháp của New Zealand hiện chiếm tới 27%, vượt xa tỷ lệ 17% của họ trong tổng dân số cả nước.[156]

Tham khảo

  1. "Māori Population Estimates: At 30 June 2017 – tables". www.stats.govt.nz (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2018.
  2. "2016 Census Community Profiles: Australia". www.censusdata.abs.gov.au. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
  3. 1 2 3 Walrond, Carl (ngày 4 tháng 3 năm 2009). "Māori overseas". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2010.
  4. New Zealand-born figures from the 2000 U.S. Census; maximum figure represents sum of "Native Hawaiian and Other Pacific Islander" and people of mixed race. United States Census Bureau (2003)."Census 2000 Foreign-Born Profiles (STP-159): Country of Birth: New Zealand" (PDF). (103 KB). Washington, D.C.: U.S. Census Bureau.
  5. Government of Canada, Statistics Canada (ngày 25 tháng 10 năm 2017). "Ethnic Origin (279), Single and Multiple Ethnic Origin Responses (3), Generation Status (4), Age (12) and Sex (3) for the Population in Private Households of Canada, Provinces and Territories, Census Metropolitan Areas and Census Agglomerations, 2016 Census – 25% Sample Data". www12.statcan.gc.ca.
  6. "Maori". Từ điển tiếng Anh Oxford . Nhà xuất bản Đại học Oxford. (Subscription or participating institution membership required.)
  7. Howe (2003), p. 179
  8. New Scientist Webpage: Rat remains help date New Zealand's colonisation. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008.
  9. "Māori population hit 978,246 in 2023, almost 20 per cent of New Zealand". Te Ao Māori News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2024.
  10. "First results from the 2023 Census – older, more diverse population, and an extra 300,000 people between censuses | Stats NZ". stats.govt.nz. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2024.
  11. Atkinson, A. S. (1892). "What is a Tangata Maori?". The Journal of the Polynesian Society. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2023.
  12. e.g. kanaka maoli, meaning native Hawaiian. (In the Hawaiian_language, the Polynesian letter "T" regularly becomes a "K", and the Polynesian letter "R" regularly becomes an "L")
  13. "Entries for MAQOLI [PN] True, real, genuine: *ma(a)qoli". pollex.org.nz.
  14. Eastern_Polynesian_languages
  15. "Native Land Act | New Zealand [1862]". Encyclopedia Britannica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2017.
  16. "tangata whenua". Māori Dictionary (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2017.
  17. McIntosh (2005), p. 45
  18. "Uncovering the Maori mystery". BBC Sport. ngày 5 tháng 6 năm 2003.
  19. Walters, Richard; Buckley, Hallie; Jacomb, Chris; Matisoo-Smith, Elizabeth (ngày 7 tháng 10 năm 2017). "Mass Migration and the Polynesian Settlement of New Zealand". Journal of World Prehistory. 30 (4): 351–376. doi:10.1007/s10963-017-9110-y.
  20. Shapiro, HL (1940). "The physical anthropology of the Maori-Moriori". The Journal of the Polynesian Society (bằng tiếng Anh). 49 (1(193)): 1–15. JSTOR 20702788.
  21. Wilmshurst, J. M.; Hunt, T. L.; Lipo, C. P.; Anderson, Atholl (2010). "High-precision radiocarbon dating shows recent and rapid initial human colonization of East Polynesia". Proceedings of the National Academy of Sciences. 108 (5): 1815–1820. Bibcode:2011PNAS..108.1815W. doi:10.1073/pnas.1015876108. PMC 3033267. PMID 21187404.
  22. Wilson, John (2020). "Māori arrival and settlement". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2021.
  23. Lowe, David J. (tháng 11 năm 2008). "Polynesian settlement of New Zealand and the impacts of volcanism on early Maori society: an update". Guidebook for Pre-conference North Island Field Trip A1 'Ashes and Issues' (PDF). New Zealand Society of Soil Science. tr. 142. ISBN 978-0-473-14476-0. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010.
  24. Bunce, Michael; Beavan, Nancy R.; Oskam, Charlotte L.; Jacomb, Christopher; Allentoft, Morten E.; Holdaway, Richard N. (ngày 7 tháng 11 năm 2014). "An extremely low-density human population exterminated New Zealand moa". Nature Communications (bằng tiếng Anh). 5 5436. Bibcode:2014NatCo...5.5436H. doi:10.1038/ncomms6436. ISSN 2041-1723. PMID 25378020.
  25. Jacomb, Chris; Holdaway, Richard N.; Allentoft, Morten E.; Bunce, Michael; Oskam, Charlotte L.; Walter, Richard; Brooks, Emma (2014). "High-precision dating and ancient DNA profiling of moa (Aves: Dinornithiformes) eggshell documents a complex feature at Wairau Bar and refines the chronology of New Zealand settlement by Polynesians". Journal of Archaeological Science (bằng tiếng Anh). 50: 24–30. Bibcode:2014JArSc..50...24J. doi:10.1016/j.jas.2014.05.023.
  26. Ashleigh McCaull (ngày 8 tháng 11 năm 2022). "New study suggests Māori settlers arrived in Aotearoa as early as 13th century". RNZ. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2022.
  27. Bunbury, Magdalena M. E.; Petchey, Fiona; Bickler, Simon H. (2022). "A new chronology for the Māori settlement of Aotearoa (NZ) and the potential role of climate change in demographic developments". Proceedings of the National Academy of Sciences. 119 (46) e2207609119. Bibcode:2022PNAS..11907609B. doi:10.1073/pnas.2207609119. PMC 9674228. PMID 36343229.
  28. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên ReferenceA
  29. Roberton, J.B.W. (1956). "Genealogies as a basis for Maori chronology". Journal of the Polynesian Society (bằng tiếng Anh). 65 (1): 45–54.
  30. Te Hurinui, Pei (1958). "Maori genealogies". Journal of the Polynesian Society (bằng tiếng Anh). 67 (2): 162–165.
  31. Te Papa Atwahai, Department of Conservation (NZ). "Enderby Island Māori occupation". Department of Conservation (NZ). Te Kāwanatanga o Aotearoa / New Zealand Government. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2023.
  32. Imbler, Sabrina (ngày 2 tháng 7 năm 2021). "The Maori Vision of Antarctica's Future". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2022.
  33. "New Zealand Māori may have been first to discover Antarctica, study suggests". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2022.
  34. Magazine, Smithsonian; Gershon, Livia. "Māori May Have Reached Antarctica 1,000 Years Before Europeans". Smithsonian Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2022.
  35. "Māori may have been first humans to set eyes on Antarctica, study says". NBC News (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2022.
  36. Wehi, Priscilla M. (2022). "A short scan of Māori journeys to Antarctica". Journal of the Royal Society of New Zealand. 52 (5): 587–598. Bibcode:2022JRSNZ..52..587W. doi:10.1080/03036758.2021.1917633. PMC 11485871. PMID 39440197. S2CID 236278787.
  37. McLure, Tess (ngày 11 tháng 6 năm 2021). "New Zealand Māori may have been first to discover Antarctica, study suggests". The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2023.
  38. Gershon, Livia (ngày 14 tháng 6 năm 2021). "Māori May Have Reached Antarctica 1,000 Years Before Europeans". Smithsonian Magazine. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2023.
  39. "Māori among first to see Antarctica, research suggests". Radio New Zealand. ngày 9 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2023.
  40. Atholl, Anderson (2022). "On the improbability of pre-European Polynesian voyages to Antarctica: a response to Priscilla Wehi and colleagues". Journal of the Royal Society of New Zealand. 52 (5): 599–605. Bibcode:2022JRSNZ..52..599A. doi:10.1080/03036758.2021.1973517. PMC 11485678. PMID 39440189. S2CID 239089356.
  41. Imbler, Sabrina (ngày 2 tháng 7 năm 2021). "The Maori Vision of Antarctica's Future (Published 2021)". The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2023.
  42. "Nga Kakano: 1100 – 1300" Lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine, Te Papa
  43. McLintock, A. H., biên tập (1966). "The Moa Hunters". An Encyclopaedia of New Zealand. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2021.
  44. Austin, Steve (2008). "The Wairau Bar". The Prow. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2025.
  45. McFadgen, Bruce G.; Adds, Peter (ngày 18 tháng 2 năm 2018). "Tectonic activity and the history of Wairau Bar, New Zealand's iconic site of early settlement". Journal of the Royal Society of New Zealand (bằng tiếng Anh). 49 (4): 459–473. doi:10.1080/03036758.2018.1431293. S2CID 134727439.
  46. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên McFadgen and Adds (2018)2
  47. Anderson, Atholl. "The Making of the Māori Middle Ages". Open Systems Journal. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
  48. Rawlence, Nicholas J.; Kardamaki, Afroditi; Easton, Luke J.; Tennyson, Alan J. D.; Scofield, R. Paul; Waters, Jonathan M. (ngày 26 tháng 7 năm 2017). "Ancient DNA and morphometric analysis reveal extinction and replacement of New Zealand's unique black swans". Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences. 284 (1859) 20170876. doi:10.1098/rspb.2017.0876. PMC 5543223. PMID 28747476.
  49. Till, Charlotte E.; Easton, Luke J.; Spencer, Hamish G.; Schukard, Rob; Melville, David S.; Scofield, R. Paul; Tennyson, Alan J. D.; Rayner, Matt J.; Waters, Jonathan M.; Kennedy, Martyn (tháng 10 năm 2017). "Speciation, range contraction and extinction in the endemic New Zealand King Shag". Molecular Phylogenetics and Evolution. 115: 197–209. doi:10.1016/j.ympev.2017.07.011. PMID 28803756.
  50. Oskam, Charlotte L.; Allentoft, Morten E.; Walter, Richard; Scofield, R. Paul; Haile, James; Holdaway, Richard N.; Bunce, Michael; Jacomb, Chris (2012). "Ancient DNA analyses of early archaeological sites in New Zealand reveal extreme exploitation of moa (Aves: Dinornithiformes) at all life stages". Quaternary Science Reviews. 53: 41–48. Bibcode:2012QSRv...52...41O. doi:10.1016/j.quascirev.2012.07.007.
  51. Holdaway, Richard N.; Allentoft, Morten E.; Jacomb, Christopher; Oskam, Charlotte L.; Beavan, Nancy R.; Bunce, Michael (ngày 7 tháng 11 năm 2014). "An extremely low-density human population exterminated New Zealand moa". Nature Communications. 5 (5436): 5436. Bibcode:2014NatCo...5.5436H. doi:10.1038/ncomms6436. PMID 25378020.
  52. Perry, George L.W.; Wheeler, Andrew B.; Wood, Jamie R.; Wilmshurst, Janet M. (2014). "A high-precision chronology for the rapid extinction of New Zealand moa (Aves, Dinornithiformes)". Quaternary Science Reviews. 105: 126–135. Bibcode:2014QSRv..105..126P. doi:10.1016/j.quascirev.2014.09.025.
  53. Neich Roger, 2001. Carved Histories: Rotorua Ngati Tarawhai Woodcarving. Auckland: Auckland University Press, pp. 48–49.
  54. Belich, James (ngày 5 tháng 5 năm 2011). "Modern racial stereotypes". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2021.
  55. Godfery, Morgan (ngày 22 tháng 8 năm 2015). "Warrior race? Pull the other one". E-Tangata (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2021.
  56. Matthews, Philip (ngày 2 tháng 6 năm 2018). "'Cunning, deceitful savages': 200 years of Māori bad press". Stuff (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2021.
  57. Clark, Ross (1994). "Moriori and Māori: The Linguistic Evidence". Trong Sutton, Douglas (biên tập). The Origins of the First New Zealanders. Auckland: Auckland University Press. tr. 123–135.
  58. King, Michael (2017). Moriori: A People Rediscovered. London: Penguin UK. ISBN 978-0-14-377128-9. OCLC 1124413583.
  59. Sivignon, Cherie (ngày 1 tháng 10 năm 2017). "Commemoration plans of first encounter between Abel Tasman, Māori 375 years ago". Stuff. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
  60. Dalrymple, Kayla (ngày 28 tháng 8 năm 2016). "Unveiling the history of the "Crook Cook"". Gisborne Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
  61. "Encounter, or murder?". Gisborne Herald. ngày 13 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
  62. Ingram, C. W. N. (1984). New Zealand Shipwrecks 1975–1982. Auckland: New Zealand Consolidated Press; pp 3–6, 9, 12.
  63. Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). "Creative life – Writing and publishing". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011.
  64. Manning, Frederick Edward (1863). "Chapter 13". Old New Zealand: being Incidents of Native Customs and Character in the Old Times by 'A Pakeha Maori': Chapter 13. every man in a native hapu of, say a hundred men, was absolutely forced on pain of death to procure a musket and ammunition at any cost, and at the earliest possible moment (for, if they did not procure them, extermination was their doom by the hands of those of their country-men who had), the effect was that this small hapu, or clan, had to manufacture, spurred by the penalty of death, in the shortest possible time, one hundred tons of flax, scraped by hand with a shell, bit by bit, morsel by morsel, half-a-quarter of an ounce at a time.
  65. McLintock, A. H. (1966). "Maori health and welfare". An Encyclopaedia of New Zealand. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
  66. Davis, Denise; Solomon, Māui. "Moriori – The impact of new arrivals". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  67. Entwisle, Peter (ngày 20 tháng 10 năm 2006). "Estimating a population devastated by epidemics". Otago Daily Times. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2008.
  68. Pool, D. I. (tháng 3 năm 1973). "Estimates of New Zealand Maori Vital Rates from the Mid-Nineteenth Century to World War I". Population Studies. 27 (1): 117–125. doi:10.2307/2173457. JSTOR 2173457. PMID 11630533.
  69. Phillips, Jock (ngày 1 tháng 8 năm 2015). "History of immigration – A growing settlement: 1825 to 1839". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
  70. Orange, Claudia (ngày 20 tháng 6 năm 2012). "Treaty of Waitangi – Creating the Treaty of Waitangi". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  71. "Te Wherowhero". Ministry for Culture and Heritage. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  72. Orange, Claudia (ngày 20 tháng 6 năm 2012). "Treaty of Waitangi – Interpretations of the Treaty of Waitangi". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  73. "Differences between the texts". Ministry for Culture and Heritage. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  74. Tate, John (2004). "The three precedents of Wi Parata". Canterbury Law Review. 10.
  75. Morris, Grant (2004). "James Prendergast and the Treaty of Waitangi: Judicial Attitudes to the Treaty During the Latter Half of the Nineteenth Century". Victoria University of Wellington Law Review. 35 (1): 117. doi:10.26686/vuwlr.v35i1.5634.
  76. "Land confiscation law passed". nzhistory.govt.nz. Ministry for Culture and Heritage. ngày 18 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  77. "Māori Land – What Is It and How Is It Administered?". Office of the Auditor-General. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  78. King (2003), p. 224
  79. Higgins, Rawinia; Keane, Basil (ngày 1 tháng 9 năm 2015). "Te Mana o te Reo Māori: 1860–1945 War and assimilation". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2022.
  80. Forbes, Mihingarangi (ngày 27 tháng 9 năm 2021). "Former Labour Minister Dover Samuels calls for Crown apology for caning children speaking Te Reo". Newshub. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2022.
  81. "Population – Factors and Trends" Lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine, An Encyclopaedia of New Zealand, edited by A. H. McLintock, published in 1966. Retrieved 18 September 2007.
  82. "Young Maori Party | Maori cultural association". Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
  83. "1918 flu centenary: How to survive a pandemic". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  84. Rice G, Bryder L. "7. 'Severest setback' for Maori?". Black November: the 1918 influenza pandemic in New Zealand . Christchurch, NZ. ISBN 978-1-927145-91-3. OCLC 960210402.
  85. "Māori – Urbanisation and renaissance". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025. The Māori renaissance since 1970 has been a remarkable phenomenon.
  86. "Time Line of events 1950–2000". Schools @ Look4.
  87. "Te Kōhanga Reo National Trust". Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019. Te Kōhanga Reo National Trust Board was established in 1982 and formalised as a charitable trust in 1983. The Mission of the Trust is the protection of Te reo, tikanga me ngā āhuatanga Māori by targeting the participation of mokopuna and whānau into the Kōhanga Reo movement and its Vision is to totally immerse Kōhanga mokopuna in Te Reo, Tikanga me ngā āhuatanga Māori.
  88. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên MāoriTVlaunch
  89. Māori Television (ngày 9 tháng 3 năm 2008). "Maori Television launches second channel". Whakaata Māori. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2008.
  90. "Māori Words used in New Zealand English". Māori Language.net. Native Council. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019.
  91. "Waitangi Tribunal created". Ministry for Culture and Heritage. ngày 19 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
  92. Office of Treaty Settlements (tháng 6 năm 2008). "Four Monthly Report" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2008.
  93. James, Colin (ngày 6 tháng 9 năm 2005). "Ethnicity takes its course despite middle-class idealism". The New Zealand Herald. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011.
  94. "The Treaty of Waitangi debate". TVNZ. ngày 15 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
  95. Report on the Crown's Foreshore and Seabed Policy (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Ministry of Justice. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
  96. Barker, Fiona (tháng 6 năm 2012). "Debate about the foreshore and seabed". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
  97. "Māori Descent: Definition". Statistics New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
  98. King, Michael (2003). The Penguin History of New Zealand. London: Penguin. tr. 91.
  99. Pool, Ian (2015). Colonization and Development in New Zealand between 1769 and 1900: The Seeds of Rangiatea. Switzerland: Springer International Publishing.
  100. "2023 Census population counts (by ethnic group, age, and Māori descent) and dwelling counts | Stats NZ". stats.govt.nz. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2024.
  101. "New Zealand's population reflects growing diversity | Stats NZ". stats.govt.nz. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2020.
  102. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :032
  103. "Ethnicity (detailed single / combination), age, and gender for the census usually resident population count, (RC, TALB, SA2, Health), 2013, 2018, and 2023 Censuses". explore.data.stats.govt.nz. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
  104. Statistics New Zealand. "2013 Census QuickStats About Māori". Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013.
  105. "Cultural diversity: Census, 2021 | Australian Bureau of Statistics". abs.gov.au (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  106. New Zealand-born figures from the 2000 U.S. Census; maximum figure represents sum of "Native Hawaiian and Other Pacific Islander" and people of mixed race. United States Census Bureau (2003). "Census 2000 Foreign-Born Profiles (STP-159): Country of Birth: New Zealand" (PDF). (103 KB). Washington, D.C.: U.S. Census Bureau.
  107. Government of Canada, Statistics Canada (ngày 26 tháng 10 năm 2022). "Ethnic or cultural origin by generation status: Canada, provinces and territories, census metropolitan areas and census agglomerations with parts". www150.statcan.gc.ca. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  108. "Maori culture increasing in importance to NZers". The New Zealand Herald (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 3 năm 2012. ISSN 1170-0777. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
  109. Garl, Denise (ngày 1 tháng 10 năm 2018). "Hey UK brewers, cultural appropriation is not cool". The Spinoff. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
  110. Schwimmer, E. G. (tháng 9 năm 1961). "Warfare of the Maori". Te Ao Hou.
  111. 1 2 "Māori ethnic group–Religion". Statistics New Zealand Tautaranga Aotearoa. 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  112. "New Zealand – International Religious Freedom Report 2007". U.S. State Department. ngày 14 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  113. "Kia Ora Aotearoa". CPI Financial. tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  114. Hume, Tim. "Muslim faith draws converts from NZ prisons." Star Times
  115. "The Tangi – Religion and spirituality – Tapu and Noa". The Maori – Spirituality – New Zealand in History. New Zealand in History. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.
  116. Hanly, Gil. "Shoes at the door of the wharenui". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand – Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.
  117. Hanly, Gil. "Shoes at the door of the wharenui". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand – Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.
  118. Keane, Basil (ngày 5 tháng 5 năm 2011). "Traditional Māori religion – ngā karakia a te Māori – Rituals and ceremonies". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020.
  119. Biddle, Teurikore (2012). "The Power of Performance: The Constancy of Māori Expressional Culture". Trong Keenan, Danny (biên tập). Huia histories of Māori: ngā tāhuhu kōrero. Wellington, N.Z.: Huia. ISBN 978-1-77550-009-4. OCLC 779490407.
  120. "The Haka – Dance of War – Maori Haka". newzealand. New Zealand Tourism. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.
  121. Smith, Valance (ngày 22 tháng 10 năm 2014). "Kapa haka – Māori performing arts". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand.
  122. Smith, Valance (ngày 22 tháng 10 năm 2014). "Kapa haka – Māori performing arts". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand.
  123. Keane, Basil (ngày 5 tháng 9 năm 2013). "Marae protocol – te kawa o te marae – Pōwhiri process". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2020.
  124. Diamond, Paul (ngày 5 tháng 3 năm 2010). "Te tāpoi Māori – Māori tourism – Preserving culture". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010.
  125. Swarbrick, Nancy (ngày 3 tháng 3 năm 2009). "Creative life – Performing arts". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010.
  126. Royal, Charles. "Whare Tapere". Te Ahukaramū Charles Royal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2020.
  127. Calman, Ross (ngày 5 tháng 9 năm 2013). "Leisure in traditional Māori society – ngā mahi a te rēhia – Te whare tapere". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand.
  128. Derby, Mark; Grace-Smith, Briar (ngày 22 tháng 10 năm 2014). "Māori theatre – te whare tapere hōu". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand.
  129. 1 2 "Taki Rua: Brave new frontiers". Stuff (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  130. "Tawata Productions". Tawata Productions (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  131. Warrington, Lisa; O'Donnell, David (2017). Floating Islanders: Pasifika theatre in Aotearoa. ISBN 978-1-988531-07-6. OCLC 994638351.
  132. Schultz, Marianne (2014). "Contemporary Māori and Pacific dance". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand (bằng tiếng Anh). New Zealand Ministry for Culture and Heritage Te Manatu Taonga. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  133. "Ko Wai Mātou | About Us". Te Pou Theatre (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2021.
  134. "Māori musical instruments". Museum of New Zealand Te Papa Tongarewa, Wellington, NZ (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2021.
  135. Flintoff, Brian (ngày 22 tháng 10 năm 2014). "Māori musical instruments – taonga puoro". Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2021.
  136. "43 Māori athletes to head to Rio Olympics". Television New Zealand. ngày 5 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016.
  137. Derby, Mark (tháng 12 năm 2010). "Māori–Pākehā relations – Sports and race". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  138. McAvinue, Shawn (ngày 18 tháng 1 năm 2017). "Federation cool on ice hockey haka". Otago Daily Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2020.
  139. Jones, Renee (ngày 8 tháng 10 năm 2005). "McDonald's adopts obscure Maori ball game". The New Zealand Herald. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2007.
  140. Barclay-Kerr, Hoturoa (tháng 9 năm 2013). "Waka ama – outrigger canoeing". Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  141. 2013 Census QuickStats, Statistics New Zealand, 2013, ISBN 978-0-478-40864-5
  142. Joyce, B. and Mathers, B. (2006). Whakapapa. An introduction to Maori family history research. Published by the Maori Interest Group of the NZSG Inc.
  143. He Korero. A.Jones and K.Jenkins. Huia.2011
  144. "Kohanga Reo". Kiwi Family Media. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017.
  145. "Māori Television Launch | Television". nzonscreen.com (bằng tiếng Anh). NZ On Screen. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017.
  146. "2013 Census QuickStats about Māori". Statistics New Zealand. ngày 3 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017.
  147. "New Zealand – Maori Flags". crwflags.com.
  148. "Te Kotahitanga – the Māori Parliament". Ministry of Women's Affairs. ngày 16 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  149. 1 2 "The Origins of the Māori Seats". ngày 31 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
  150. "New Zealand women and the vote". nzhistory.govt.nz (bằng tiếng Anh). Ministry for Culture and Heritage. ngày 20 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2022.
  151. "Special Debates — 150th Anniversary of the Māori Affairs Committee – New Zealand Parliament". Parliamentary Debates (Hansard) (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2022.
  152. Tahana, Yvonne (ngày 29 tháng 9 năm 2008). "National to dump Maori seats in 2014". The New Zealand Herald. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2009.
  153. "Maori Party drops push to entrench Maori seats". RNZ. ngày 17 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2016.
  154. "New Zealand Election Results". ElectionResults.govt.nz/electionresults_2020/. Electoral Commission. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2020.
  155. Roy, Eleanor Ainge (ngày 11 tháng 8 năm 2016). "'This is who I am', says first female MP to wear Māori facial tattoo in NZ parliament". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
  156. "Who's representing you? Record for Māori MPs, but fewer women in Parliament". ngày 7 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
  1. In 2003, Christian Cullen became a member of the Māori rugby team despite having, according to his father, about 1/64 Māori ancestry.[18]
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-roman", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-roman"/> tương ứng