Ngô Thuyền
Ngô Thuyền | |
|---|---|
Chức vụ | |
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa | |
| Nhiệm kỳ | 1969 – 1974 |
| Tiền nhiệm | Ngô Minh Loan |
| Kế nhiệm | Nguyễn Trọng Vĩnh |
| Vị trí | Trung Quốc, Pakistan |
| Nhiệm kỳ | 1/1962 – 11/1969 |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Trọng Vĩnh |
| Kế nhiệm | Võ Nguyên Lượng |
| Vị trí | Thanh Hóa |
| Nhiệm kỳ | 11/1958 – 3/1961 |
| Tiền nhiệm | Võ Nguyên Lượng |
| Kế nhiệm | Nguyễn Trọng Vĩnh |
| Vị trí | Thanh Hóa |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 10 tháng 10, 1910 Thanh Hóa, Liên bang Đông Dương |
| Mất | 22 tháng 7, 1994 (83 tuổi) |
| Nghề nghiệp | Chính khách |
| Đảng chính trị | năm 1939 |
Ngô Thuyền (1910 – 1994) có tên đầy đủ là Ngô Văn Tuyển[1] là nam chính trị gia, nhà ngoại giao người Việt Nam. Ông từng hai lần giữ các chức vụ Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Trung Quốc, kiêm nhiệm Pakistan.
Tiểu sử
Ngô Thuyền sinh ngày 10 tháng 10 năm 1910[2] tại thôn Tân Bình, xã Thiệu Ngọc, tỉnh Thanh Hóa. Ông mồ côi cha nhưng sớm được giác ngộ Cách mạng.[1]
Tháng 9 năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được giao nhiệm vụ xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương.[1][2] Cũng trong năm này, Ngô Thuyền và nhiều đồng chí bị Thực dân Pháp bắt giam 2 năm tại nhà lao Thanh Hóa, sau chuyển vào nhà lao Phủ Thừa rồi giam tại Buôn Mê Thuột thêm 3 năm.[3][2]
Đến năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông được trả tự do và tiếp tục hoạt động cách mạng, ông giữ chức Bí thư Huyện ủy Hoàng Hóa rồi Bí thư Huyện ủy Cẩm Thủy.[2] Năm 1949, ông được Tỉnh ủy Thanh Hóa phân công làm Bí thư nông dân tỉnh kiêm Bí thư nông dân cứu quốc Trung Kỳ (Liên khu IV).[3] Từ tháng 4 năm 1953 đến năm 1958, Ngô Thuyền được bầu là Phó Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Chủ tịch UB hành chính kháng chiến tỉnh Thanh Hóa.[2]
Đến năm 1960 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, là Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III.[3][2]
Cuối năm 1963, Ngô Thuyền được Trung ương điều về làm Bí thư, kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa. Năm 1970, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, kiêm nhiệm Pakistan. Năm 1975, ông về nước, giữ chức Phó trưởng Ban Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đến năm 1983.[2][3]
Vinh danh
- Huân chương Kháng chiến hạng nhất, hạng nhì[2]
- Huân chương Hồ Chí Minh[2]
- Tại Thanh Hóa, tên của ông được đặt cho một con đường tại phường Quảng Thắng và một con đường khác tại thị trấn Hậu Hiền (nay là xã Thiệu Toán).[4]
Xem thêm
Tham khảo
- 1 2 3 Đăng Khoa (ngày 17 tháng 8 năm 2024). "Bảo tồn và phát huy giá trị di tích hầm làm việc và chỉ huy của đồng chí Ngô Thuyền". Báo và Phát Thanh, truyền hình Thanh Hóa. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 "Giới thiệu khái quát cuộc đời, sự nghiệp một số bậc "Tiền bối cách mạng tiêu biểu" đã có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước -". Cổng thông tin điện tử huyện Thiệu Hóa (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
- 1 2 3 4 Chi Anh (ngày 30 tháng 5 năm 2025). "Đổi thay ở đất làng Tân Bình". Báo và Phát Thanh, truyền hình Thanh Hóa. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Nghị quyết 597/NQ-HĐND (Thanh Hóa) (PDF). Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa. ngày 14 tháng 12 năm 2024.