Bước tới nội dung

Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nguyễn Văn Thái
Đạo Xuyên Hầu
Tên húyNguyễn Văn Thái
Tên chữNguyễn Trí Thái
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên húy
Nguyễn Văn Thái
Ngày sinh
1470
Nơi sinh
Xã Tiền Liệt, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng (nay là thôn Tiền Liệt, xã Tân Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương)
Học vấnĐệ nhất tiến sĩ cập đệ (Thám Hoa), Đông các đại học sĩ.
Chức quanThương thư Bộ Lễ
Tước hiệuĐạo Xuyên Hầu
Quốc giaĐại Việt
Thời kỳLê Sơ, Mạc

Nguyễn Văn Thái (chữ Hán: 阮 文 泰)(1479-?), người làng Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng (nay là thôn Tiền Liệt, xã Tân Phong, huyện Ninh Giang, Hải Dương). Năm 24 tuổi, ông thi đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, tức Thám hoa, khoa thi Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), thời vua Lê Hiến Tông.[1]

Ông làm quan tới chức Đông các Đại học sĩ, tước Đạo Xuyên bá trong triều Lê Sơ và từng được cử làm Phó sứ sang nhà Minh. Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, ông ra làm quan cho nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu. Ông từng được cử đi sứ phương Bắc ba lần, nhưng lần thứ ba bị giữ lại, rồi ông lấy vợ người Trung Quốc, sinh con là Ngạn Xán, theo họ mẹ là họ Trương. Trương Ngạn Xán sau này thi đỗ Tiến sĩ. Ông còn có tên là Nguyễn Trí Thái[2].

Tiểu sử và học vấn Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Khoa thi 1502 lấy đỗ 61 Tiến sĩ, Nguyễn Văn Thái đứng thứ 3 trong danh sách Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ. Đại Việt sử ký toàn thư trang 959-960 ghi cụ thể như sau:[3]

Nhâm Tuất năm thứ 5 [1502] (Minh, Hoằng Trị thứ 15) …Tháng 2, thi Hội các cử nhân trong nước. Số đi thi là 5.000 người, lấy đỗ bọn Trần Dức 61 người. Bộ Lại kê tên tâu lên. Vua đích thân ra đầu bài văn sách hỏi về đế vương trị thiên hạ. Sai Nam Quân đô đốc phủ tả đô đốc phò mã đô uý Lâm Hoài bá Lê Đạt Chiêu, và Hộ bộ thượng thư Vũ Hữu làm đề điệu: Binh bộ tả thị lang Dương Trực Nguyên và Ngự sử đài thiêm đô ngự sử Bùi Xương Trạch làm giám thí; Lễ bộ thượng thư Tả Xuân phường hữu dụ đức kiên Đông các đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Lễ bộ thượng thư kiêm Hàn lâm viện thị độc, trưởng Hàn lâm viện sự Nguyễn Bảo, Lễ bộ tả thị lang kiêm Đông các học sĩ Lê Ngạn Tuất, Quốc tử giám tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Thái thường tự khanh Nghiêm Lâm Tiến đọc quyển thi. Vua xem xong, cho bọn Lê Ích Mộc (người Thanh Lăng, huyện Thuỷ Đường, trước làm đạo sĩ, đến khi đỗ, vua sai tuyên đọc chế từ, bưng lư hương cháy rực lửa ra trước, bị bỏng tuột cả tay mà không biết), Lê Sạn, Nguyễn Văn Thái 3 người đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ; bọn Nguyễn Cảnh Diễn, Lê Nhân Tế 24 người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân; bọn Phạm Khiêm Bính, Nguyễn Mậu 34 người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Vua ngự điện Kính Thiên, Hồng lô tự truyền loa xướng danh. Mọi năm bảng vàng vẫn treo ở ngoài cửa Đông Hoa, đến nay vua sai Lễ bộ bưng ra, đánh trống nổi nhạc rước ra treo ở cửa nhà Thái học. Bảng vàng treo ở cửa nhà Thái học bắt đầu từ đây.

Sách Đăng khoa lục sưu giảng, của Trần Tiến khi nói về Trạng nguyên Lê Ích Mộc, thám hoa Nguyễn Văn Thái có đoạn:[4]

Bài thi văn sách hỏi kiêm về kinh-phật có câu: “18 bộ Kim-Cương thì bộ nào không có câu Nam-Võ, 20 thiên Luận-Ngữ, thiên nào không có chữ Tử-Viết?” Văn ông rất đắc-lực, được đỗ Trạng-Nguyên. (Không biết vì sao kì thi ấy lại hỏi như vậy) Tương truyền rằng, nhà vua ngẫu nhiên dở kinh-phật ra coi, rồi sai các quan ra đầu bài, không riêng gì ông, mà có lẽ khoa đó, hai ông Bảng-Nhãn, Thám-Hoa, và Hoàng-Giáp, Tiến-Sĩ, tất cả 24 người thi đậu, đã từng xem kinh-Phật cả chăng? Như thế đủ thấy rằng vào lúc văn học thịnh hành, có những nhân tài thông minh uyên bác, xem rộng các sách (không sách gì là không đọc) so với các học giả đời sau, khác nhau một trời một vực vậy.

Đi sứ nhà Minh lần 1 Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Năm Canh Ngọ Hồng Thuận năm thứ 1 (1510), ông cùng sứ đoàn được cử sang nhà Minh để thông báo về vấn đề thay đổi ngôi vương của Đại Việt, đồng thời xin phong tước cho vua Lê Tương Dực sau sự kiện đoạt ngôi từ vua Lê Uy Mục. Đại Việt sử ký toàn thư trang 988-989 có ghi:

Tháng 2, vua sai sứ sang nước Minh. Thượng thư Hình bộ Đàm Thận Huy, Đông các hiệu thư Nguyễn Văn Thái, Đô cấp sự trung Binh khoa Lê Thừa Hưu, Thông sự Nguyễn Phong, hành nhân 3 người, tòng nhân 8 người, sang tâu việc; Tả Thị lang Lễ bộ Nguyễn Quýnh, Thị thư Vũ Cán, Đề hình Nguyễn Doãn Văn, Thông sự Nguyễn Hảo, hành nhân 3 người, tùy nhân 9 người, sang cầu phong. Bấy giờ Thừa Hưu đi đến đầu địa giới thị bị ốm, sai Cấp sự trung Binh khoa Nguyễn Văn Tuấn đi thay.

Thảo chiếu nhường ngôi, ra làm quan nhà Mạc Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), trước sự lớn mạnh của thế lực Mạc Đăng Dung, vua và các cựu thần Nhà Lê không bằng lòng, nhưng bất lực. Nghe theo lời một số cận thần trung thành, đêm 27 tháng 7, Chiêu Tông rời kinh thành chạy sang Sơn Tây hiệu triệu bốn phương hỏi tội Mạc Đăng Dung.

Mạc Đăng Dung đã bàn với các đại thần tạm thời lập Hoàng đệ Xuân (Lê Cung Hoàng) làm vua. Ngày 1 tháng 8, Đăng Dung và một số triều thần Nhà Lê cùng tôn Hoàng đệ Xuân lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thống Nguyên năm thứ 1. Vì sợ vua Chiêu Tông ở ngoài hiệu triệu binh thiên hạ, nên không dám đóng tại Kinh thành, đón Xuân về Gia Phúc, và vận tải hết bảo vật trong thành về, rồi phong quan tiến tước cho các quan, văn thần là bọn Vũ Cán, Nguyễn Văn Thái, đều được phong làm Chánh doanh đề sát thủy bộ quân vụ.[5]

Tháng 4 năm 1527, Lê Cung Hoàng sai đình thần cầm cờ tiết đem kim sách, áo mão thêu rồng đen, đai dát ngọc, kiệu tía, quạt vẽ, lọng tía đến Cổ Trai, tấn phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng vương, gia thêm cửu tích. Tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai trở lại kinh đô ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi. Sử gia Lê Quý Đôn chép: "lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô".

Bấy giờ ban thứ trăm quan để yên chỗ, nhưng chưa có tờ chiếu nhường ngôi. Đăng Dung hạ lệnh cho Lại bộ thượng thư Trương Phu Duyệt đứng thảo. Nhưng Phu Duyệt quắt mắt, mắng Đăng Dung: "Thế nghĩa là gì![6]

Đăng Dung bèn sai Đông các đại học sĩ Nguyễn Văn Thái phải làm cho xong tờ chiếu, nội dung như sau:

Nghĩ Thái Tổ ta, thừa thời cách mệnh, có được thiên hạ, các vua truyền nhau, nối giữ cơ đồ, là do mệnh trời lòng người cùng hợp, cùng ứng nên mới được thế. Cuối đời Hồng Thuận, gặp nhiều tai hoạ, Trần Cảo đầu têu gây mầm loạn ly, Trịnh Tuy giả trá lập kế phản nghịch. Lòng người đã lìa, mệnh trời không giúp. Khi ấy thiên hạ đã không phải là của nhà ta. Ta không có đức, lạm giữ ngôi trời, việc gánh vác không kham nổi. Mệnh trời lòng người đều theo về người có đức. Xét Thái sư An Hưng vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng; bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải, nên nhường ngôi cho. Hãy gắng sửa đức lớn, giữ mãi mệnh trời để ức triệu dân lành được yên vui. Mong kính theo đó.

Mạc Đăng Dung lên ngôi Hoàng đế, tức là vua Mạc Thái Tổ (chữ Hán: 莫太祖, 1483-1541), chính thức lập ra Nhà Mạc, đổi niên hiệu là năm Minh Đức thứ nhất. Nhà Lê Sơ truyền được 100 năm đến đây kết thúc.

Soạn bài ký văn bia khoa thi Mậu Dần 1518 Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Năm 1936, khi Nguyễn Văn Thái còn đang đảm nhiệm chức Lễ bộ Thượng thư, Đông các đại học sĩ dưới triều Mạc, ông đã trực tiếp soạn bài ký cho văn bia khoa thi Mậu Dần, năm Quang Thiệu thứ 3 (1518), nội dung như sau:

Đặt khoa thi chọn kẻ sĩ là quy chế đã lập thành của các bậc đế vương mưu đồ nền trí trị, trọng dụng người hiền không hạn chế là đạo trung dung xưa nay không thay đổi.

Thần thường nhân câu nói đó mà suy rộng ra: đảm nhiệm quốc chính của nhà Hạ đều là các quan cũ của nhà Ngu, chọn vào vương đình của nhà Thương đều là liêu thuộc của nhà Hạ, phụ tế ở kinh đô nhà Chu lại là sĩ phu của nhà Ân, kẻ đứng hàng tể phụ triều Tống cũng là cựu thần của nhà Hậu Chu. Có lẽ vì phép chọn học trò bắt đầu từ thời Ngu, Chu, thịnh hành ở đời Triệu Tống, còn đạo trung dung trọng dùng người hiền không hạn chế cách nào thì xưa đã có mà cũng thấy cả ở ngày nay chăng?

Kính nghĩ thánh triều quang minh mở vận, thánh thánh nối truyền. Thánh thiên tử sùng Nho trọng đạo, sửa sang trường học để nuôi dưỡng nhân tài. Chế độ đổi mới, quy mô rộng lớn lâu dài. Đặc sai hữu ti kiểm tra các bia đề danh Tiến sĩ các khoa của triều trước hễ khoa nào đã có bia mà bị vỡ hỏng thì cho dựng lại bia khác, khoa nào chưa có bia mà đáng ghi thì dựng thêm. Lại sai từ thần chia nhau soạn các bài ký. Làm như thế là để coi trọng những điều mà nền tư văn đáng trọng, làm cho đủ những việc mà đời trước chưa làm, ý nghĩa thật rất to lớn.

Thần tham dự triều chính, việc đáng phải cầm bút. Thần kính xét: Triều trước khai khoa năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), sau đó hoặc 6 năm, hoặc 5 năm mở một khoa, chưa thành định lệ. Từ khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463) trở đi mới định 3 năm mở một khoa. Cũng theo Hội điển của nhà Minh lấy các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu mở khoa thi Hương, lấy các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mở khoa thi Hội. Riêng về năm Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu thứ 3 (1518) có khoa thi là vì năm thứ 2 Đinh Sửu (1517) là năm đáng phải mở thi Hội, nhưng bấy giờ trong nước có biến nên đến năm Mậu Dần mới cử hành được. Bảng này chọn được kẻ sĩ 17 người: Đệ nhất giáp là bọn Ngô Miễn Thiệu 3 người được ban Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị giáp 6 người là bọn Lại Kim Bảng được ban Tiến sĩ xuất thân, Đệ tam giáp 8 người là bọn Nguyễn Độ được ban đồng Tiến sĩ xuất thân. Những người này hiện đang giữ các chức quan, dần dần còn được dùng vào việc lớn, hoặc tham dự việc lễ, nhạc, binh, hình, hoặc giữ các ti chuyên trách việc kỷ cương tai mắt của triều đình, có người kiêm chức ở quán các giúp việc cất nhắc thuyên chuyển, hoặc giữ các chức đô đài, gián nghị, có người tham gia chính sự lớn ở một địa phương, có người giữ chức hiến ti ở ngoại đài. Những người đỗ Tiến sĩ khoa này, từ sau khi được đề tên ở bảng vàng đến nay đã hai chục năm mới được đề danh vào bia đá. Nhờ ơn vua được tô điểm vẻ vang, được khích lệ long trọng như vậy, phải nên báo đáp thế nào? Ắt phải cùng nhau gắng sức, giữ lòng tận trung, lau cạo thật sáng, trau dồi tiết hạnh để cho khí khái lỗi lạc, tiếng tăm vang lừng, làm viên ngọc vẹn toàn, làm nén vàng mười, làm viên đan sa rất mực quý báu, làm vẻ vang vương độ, giữ vững cơ đồ hoàng gia, đặt thiên hạ vào chốn yên vững như Thái Sơn bàn thạch. Được như thế thì tấm đá này, những tên tuổi này khác nào muôn cân nặng, càng lâu càng không mòn vậy. Nếu không được như thế thì ngoài ngọc trong đá, danh và thực không xứng nhau, người đời sau sẽ chỉ vào tấm đá này mà chê trách. Vì sao vậy? Vì danh là khách của thực, thực là chủ của danh, có danh có thực thì thực còn mà danh vì thế được coi trọng; có danh không có thực, thì thực chẳng còn mà danh cũng vì thế mà bị coi khinh. Thần xin lấy mấy điều ấy khuyên răn những người được đề tên và cũng để tự răn mình. Còn quan tước tên họ các quan Đề điệu, Độc quyển, Giám thí thì kê ở mặt sau bia.

Thần kính cẩn làm bài ký.

Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ Đạo Xuyên bá Trụ quốc Nguyễn Trí Thái vâng sắc soạn.

Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh họ Vũ vâng sắc viết chữ (chân).

Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh họ Vũ vâng sắc viết chữ (chân).

Thông chương đại phu kim quang môn đãi chiếu tư chính khanh họ Nguyễn vâng sắc viết chữ triện.

Bia dựng ngày 5 tháng giêng niên hiệu Đại Chính thứ 7 (1536)..[7]

Đi sứ nhà Minh lần 2 Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Sau khi nhà Mạc thành lập, một số đại thần nhà Lê không thần phục, muốn khôi phục lại nhà Lê. Anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang Trung Quốc cầu viện nhà Minh nhưng nhà Minh không đáp ứng. Hai anh em chết già ở Trung Quốc.

Năm 1529, tông thất nhà Lê là Lê Ý khởi binh chống Mạc nhưng không lâu sau bị dẹp tan. Cùng năm đó, Nguyễn Kim ở Thanh Hóa lúc ấy giữ chức Hữu vệ Điện tiền tướng quân An Thanh hầu, đem con em chạy sang nước Ai Lao. Chúa nước Sạ Đầu cho rằng Đại Việt và nước họ có quan hệ môi răng, mới đem nhân dân và đất đai Sầm Châu cấp cho Nguyễn Kim. Từ đó Nguyễn Kim nuôi dưỡng sĩ tốt, chiêu nạp kẻ chạy trốn, làm phản, ngấm tìm con cháu họ Lê lập nên để mưu khôi phục.

Năm 1533, Nguyễn Kim tìm được một người tên là Lê Duy Ninh, con của vua Lê Chiêu Tông đưa lên ngôi trên đất Sầm Châu, Ai Lao tức là vua Lê Trang Tông, đặt niên hiệu là Nguyên Hòa, tái lập nhà Lê Trung Hưng. Các sử gia nghi ngờ tính xác thực của việc Ninh là con của Lê Chiêu Tông vì hai cha con chênh nhau quá ít tuổi.  Dù sao, việc vua Lê được lập lại khiến một bộ phận nhân dân, sĩ phu theo về vì thiên hạ còn nhớ nhà Lê. Nguyễn Kim mang quân về nước đánh chiếm Thanh Hóa. Từ đó sử gọi nhà Mạc là Bắc triều và nhà Lê trung hưng là Nam triều.

Vua Lê Trang Tông tấn phong cho tứ vị công thần khai quốc. Nguyễn Kim là Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc công; Trịnh Kiểm là Dực Quận công, Trịnh Công Năng là Tuyên Quận công; Lại Thế Vinh là Hòa Quận công lại ban cho mỗi vị một quả ấn và một thanh gươm để làm tướng soái tự mang quan bản bộ đi tiêu diệt quân Mạc và phủ dụ dân chúng ở các địa phương hướng về nhà Lê trung hưng.

Vua Trang Tông sai Trịnh Duy Liệu vượt biển sang nhà Minh, tâu rằng vì Mạc Đăng Dung tiếm loạn, chiếm giữ kinh thành, ngăn trở đường đi nên bỏ lâu việc tiến cống.

Giáp Ngọ, [Nguyên Hoà] năm thứ 2 [1534], (Mạc Đại Chính năm thứ 5 Minh Gia Tĩnh năm thứ 13). Nhà Minh nghe tin Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đặt quan lại nguỵ, chiếm giữ Kinh thành, ngăn trở đường tiến cống, tự tiện làm bài Đại cáo tiềm xưng là thượng hoàng, tội trạng đã rõ, bèn sai Hàm Ninh hầu Cừu Loan làm tổng đốc quân vụ, Binh bộ thượng thư Mao Bá Ôn làm tham tán quân vụ, đem quân sang hỏi đánh.[8]

Năm 1538, Mạc Đăng Doanh, tức vua Mạc Thái Tông (chữ Hán: 莫太宗 1500-1540) sai Nguyễn Văn Thái và tùy tùng sang trấn Nam Quan ở Quảng Tây để dâng biểu cầu hòa nhà Minh và xin phân xử, Nguyễn Văn Thái mang tờ biểu đầu hàng sang nhà Minh. Tờ biểu đại ý nói nhà Lê không còn ai nối dõi, Đăng Dung được trao ấn chương để nối coi việc nước... Vì Trần Cung chiếm giữ Lạng Sơn, nên chưa dâng biểu và sang tiến cống được... Bọn vua tôi nhà Minh không nghe, sai Cừu Loan và Mao Bá Ôn gấp đến Quảng Tây chiêu tập binh mã tiến đánh nhà Mạc.[9]

Nhà Minh vì muốn hai bên đánh nhau nhằm ngư ông đắc lợi nên án binh bất động không tiến quân nữa. Trên danh nghĩa là vị nghĩa nhưng thực chất chỉ vì vị lợi mà thôi. Việc đi sứ lần này của ông và sứ đoàn khiến cho nhà Minh phải cân nhắc, tính toán và làm trì hoãn kế hoạch chinh phạt Đại Việt sang năm 1540.

Đi sứ nhà Minh lần 3 Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Canh Tý, [Nguyên Hoà] năm thứ 8 [1540], (Mạc Đại Chính năm thứ 11; Minh Gia Tĩnh năm thứ 19). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 15, Mạc Đăng Doanh chết. Con trưởng là Phúc Hải lên ngôi, lấy năm sau làm Quảng Hoà năm thứ 1. Mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ , đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết định khác. Lại sai bọn Văn Minh và Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh.

Có thể thấy rằng, vai trò của Thám hoa Nguyễn Văn Thái trong giai đoạn lịch sử này nổi bật nhất chính ở vị trí ngoại giao. Bằng sự khéo léo và tài trí của mình, ông đã giúp nhà Lê Sơ giai đoạn cuối vẫn không bị Triều đình phương Bắc gây rắc rối sau biến loạn lật đổ vua Lê Uy Mục. Tới khi ra làm quan cho triều đình nhà Mạc, ông tiếp tục được tin tưởng giao phó công việc ngoại giao này và đã cùng vua quan nhà Mạc khôn khéo, nhẫn nhịn, tránh lặp lại thảm kịch của nhà Hồ sau khi thay ngôi nhà Trần. Vì nếu đối đầu với nhà Minh giai đoạn Minh Thế Tông (chữ Hán: 明世宗 1507-1667) trị vị từ năm 1521 tới năm 1567, rất giàu tiềm lực cả về kinh tế và quân sự, nhà Mạc chắc chắn sẽ thất bại.

Di sản thơ văn Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú tập 2, trang 460, phần Văn tịch chí II, có nói về bộ ba cuốn sách do Tiến sĩ Vũ Cán soạn, Thám hoa Nguyễn Văn Thái đề tựa gồm:

  • Tùng hiên thi tập, 5 quyển
  • Văn tập, 12 quyển
  • Tứ lục bị lãm, không rõ mấy quyển

Có thể thấy rằng hai ông có rất nhiều điểm chung, cùng ra ứng thi và đỗ đạt trong kỳ đại khoa năm Nhâm Tuất (1502), cùng đi sứ sang Yên Kinh (1510), cùng ra làm quan Nhà Mạc từ năm 1527. Sự tâm đầu ý hợp của hai ônghẳn là không khó hiểu khi các cụ cũng là bạn thi thơ. Âm hưởng chủ đạo trong thơ Tiến sĩ Vũ Cán là tinh thần lạc quan yêu đời, ung dung, yêu cuộc sống thanh bạch, tha thiết với cảnh đồng quê; tuy còn chút băn khoăn khi ra làm quan triều Mạc. Nhìn chung, lời thơ của ông giản dị, chân thực, có nhiều bài đậm chất đạo lý, gần với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Sách tham khảo Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

[1] Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Hồng Đức.

[2] Vũ Miên, Phan Trọng Phiên và Uông Sĩ Lãng, Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (bản Hán - Nôm), 1779.

[3] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi, Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), NXB Văn học.

[4] Trần Hồng Sơn, Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, NXB Lao Động.

[6] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Đồng Khánh dư địa chí, NXB Thế giới.

[7] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Giáo Dục.

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, NXB Hà Nội.

[9] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Thông tin.

[10] Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, NXB Trẻ và NXB Thông tin.

[11] Viện Cao Học Thực Hành, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác Cổ, Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm, NXB Văn Hóa- Thông tin, 2005.

Chú thích Nguyễn Văn Thái (thám hoa)

  1. Trang 59 sách Đỉnh khiết Đại Việt Lịch triều Đăng khoa lục, quyển 1
  2. Văn bia Quốc Tử Giám khoa thi Mậu Dần 1518, bài ký có ghi người soạn "Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ Đạo Xuyên bá Trụ quốc Nguyễn Trí Thái vâng sắc soạn"
  3. Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên
  4. Đăng khoa lục sưu giảng, Trần Tiến
  5. Theo Đại Việt Thông Sử của Lê Quý Đôn, trang 323
  6. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Chính Biên - Quyển XXVII, trang 625,626
  7. Thác bản 01308 – Viện nghiên cứu hán nôm
  8. Theo Minh sử, Q.321, việc này xảy ra vào các năm Gia Tĩnh thứ 16 (1537), 17 (1538) và 19 (1540)
  9. Đại Việt sử ký toàn thư, trang 1215