Nguyễn Thượng Phiên
Nguyễn Thượng Phiên (阮尚𩕏, 1829 – 1908) là quan lại nhà Nguyễn. Ông vốn tên Nguyễn Phiên (阮𩕏) nhưng vào năm Thành Thái thứ 4 (1892) thì được nhà vua ban cho lót tên đệm là "Thượng" và đổi tên thành Nguyễn Thượng Phiên.[1]
Tiểu sử Nguyễn Thượng Phiên
Nguyễn Thượng Phiên người thôn Trù, xã Liên Bạt, tổng Xà Cầu, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Nội (nay thuộc xã Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội), sinh năm Minh Mạng 10 (1829). Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), ông thi Hương đỗ Cử nhân tại trường thi Hà Nội.[2] Thời gian đầu ông được bổ làm Huấn đạo, rồi Giáo thụ ngạch hậu bổ phủ Quốc Oai. Năm Tự Đức 18 (1865) cho tổ chức khoa Nha sĩ (tức khoa thi đặc biệt), ông trúng Đệ nhị giáp chế khoa.[3][4] Sau khi thi Tiến sĩ, ông giữ chức Hồng Lô tự khanh, Biện lý bộ Hộ sự vụ; sau được thăng làm Tham tri bộ Hình. Năm Thành Thái thứ 3 (1891), ông sung chức Kinh diên nhật giảng quan. Rồi tháng 5 năm sau (1892), ông được thăng Thượng thư bộ Hình. Tháng 4 năm Thành Thái thứ 5 (1893), lại được bổ làm Kinh diên giảng quan. Sau cải sang làm Thượng thư bộ Công. Tháng 9 năm Thành Thái thứ 9 (1897), ông được tặng Hiệp biện Đại học sĩ trí sự.
Tháng 4 năm Duy Tân thứ 2 (1908), Nguyễn Thượng Phiên qua đời, thọ 80 tuổi.
Gia quyến Nguyễn Thượng Phiên
Nguyễn Thượng Phiên có nhiều vợ và thê thiếp.
- Người vợ cả không rõ tên
- Kế thất là Nguyễn Thị Biện, con gái Phò mã Đô uý Nguyễn Khoa Kiểm và bà Lê Thị Cúc. Hai người có 1 trai.
- Con trai ông là Nguyễn Thượng Hiền, đỗ Hoàng giáp năm 1892, là nhà Cách mạng người Việt Nam.
Tham khảo Nguyễn Thượng Phiên
- ↑ "Đại Nam Thực Lục" Chính biên, Đệ ngũ kỷ, Quyển nhất.
- ↑ "Quốc triều Hương khoa lục". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016.
- ↑ "Quốc triều khoa bảng lục". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÃ SĨ NĂM ẤT SỬU NIÊN HIỆU TỰ ĐỨC NĂM THỨ 18 (1865)". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018.