Nguyễn Hữu Chung
Nguyễn Hữu Chung | |
|---|---|
| Dân biểu Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa pháp nhiệm II | |
| Nhiệm kỳ 4 tháng 10 năm 1971 – 30 tháng 4 năm 1975 | |
| Kế nhiệm | Chức vụ bãi bỏ |
| Khu vực bầu cử | Sài Gòn |
| Dân biểu Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa pháp nhiệm I | |
| Nhiệm kỳ 31 tháng 10 năm 1967 – 3 tháng 10 năm 1971 | |
| Kế nhiệm | Nhiệm kỳ tiếp tục |
| Khu vực bầu cử | Sài Gòn |
| Dân biểu Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa | |
| Nhiệm kỳ 27 tháng 9 năm 1966 – 31 tháng 10 năm 1967 | |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | 2 tháng 4, 1939 Bến Tre, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương |
| Mất | 26 tháng 2, 2004 (64 tuổi) Montréal, Canada |
| Quốc tịch | |
| Nghề nghiệp | Chính khách, kỹ sư, nhà báo |
Nguyễn Hữu Chung[1] (2 tháng 4 năm 1939 – 26 tháng 2 năm 2004), còn gọi là Chung Nguyễn, là kỹ sư, nhà báo và chính khách người Việt Nam, đồng thời là cựu Dân biểu Quốc hội Lập hiến[2] thời kỳ Quân quản và Dân biểu Hạ nghị viện thời Đệ Nhị Cộng hòa qua hai nhiệm kỳ liên tiếp. Ông còn là nhân vật thuộc thành phần thứ ba chủ trương trung lập, ủng hộ hòa bình và hòa giải dân tộc.
Tiểu sử Nguyễn Hữu Chung
Thân thế và học vấn
Nguyễn Hữu Chung sinh ngày 2 tháng 4 năm 1939 tại làng An Hội, tổng Bảo Hựu, quận Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là phường An Hội, tỉnh Vĩnh Long)[2]. Hồi trẻ ông theo học và tốt nghiệp kỹ sư nông lâm[2] rồi về nước công tác trong ngành nông lâm trước khi tham gia hoạt động chính trị về sau.
Sự nghiệp chính trị
Dưới thời Quân quản, Nguyễn Hữu Chung từng là Dân biểu Quốc hội Lập hiến[2] từ năm 1966 đến năm 1967. Sau cuộc tuyển cử Hạ nghị viện cuối năm 1967, ông đắc cử chức Dân biểu pháp nhiệm I (1967–1971) tại đơn vị I Sài Gòn.[3] Trong cuộc bầu cử Hạ nghị viện năm 1971, ông đắc cử nhiệm kỳ tiếp theo khi nhận được 23.370 phiếu, tương đương 16,4% ở khu vực ứng cử. Lúc làm Dân biểu pháp nhiệm II (1971–1975), ông thuộc Khối Dân tộc Xã hội[4] thể hiện lập trường trung lập, chống chiến tranh kéo dài, đòi chính phủ phải thi hành Hiệp định Paris và thúc đẩy hòa hợp dân tộc. Ngoài ra ông còn làm biên tập viên và viết bài cho mấy tờ Đại Dân Tộc và Điện Tín, đồng thời tham gia hoạt động phản chiến cùng nhóm dân biểu đối lập chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gồm Lý Quí Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba và Ngô Công Đức.
Sau này ông gia nhập Lực lượng Hòa giải Dân tộc của Vũ Văn Mẫu và cộng tác với nhóm Dương Văn Minh rồi làm đại diện báo chí cho tướng Minh. Sau khi tướng Minh lên làm Tổng thống vào chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975 thì nhóm này lại càng hoạt động tích cực cho giải pháp thương thuyết nhằm chấm dứt chiến tranh nhưng không thành công. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Minh đã ký giấy cho phép ông thực hiện chuyến di tản trá hình bằng tàu Việt Nam Thương tín với lý do chính thức là để tránh pháo kích của cộng quân.[5] Ông còn được giao nhiệm vụ đến Ngân hàng Việt Nam Thương tín để lấy một phần vàng dự trữ đưa lên tàu nhưng liền bị từ chối. Sáng sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975, trước khi Tổng thống Minh tuyên bố đầu hàng Quân Giải phóng vào buổi trưa, ông là thành viên duy nhất trong chính phủ Dương Văn Minh rời khỏi Dinh Độc Lập cùng gia đình xuống cảng Sài Gòn, leo lên tàu Việt Nam Thương Tín di tản do người anh làm hoa tiêu,[6] sau đó tàu cập bến đảo Guam rồi được hỗ trợ định cư nước ngoài.
Sau năm 1975
Sau khi Sài Gòn thất thủ, Nguyễn Hữu Chung chọn Canada và dọn sang định cư tại Montréal, Québec. Ông tiếp tục theo học và lấy bằng kỹ sư tại Trường Polytechnique Montréal rồi vào làm việc cho Công ty Điện lực Québec. Ông sống kín đáo và hầu như không tham gia hoạt động chính trị công khai ở hải ngoại. Ông qua đời ngày 26 tháng 2 năm 2004 tại Montréal, hưởng thọ 64 tuổi.
Đọc thêm Nguyễn Hữu Chung
- Dương Văn Ba, Những ngã rẽ, Hồi ký bản lưu hành trên Internet.
- Lý Quí Chung (Chánh Trinh), Hồi ký không tên, Nhà xuất bản Trẻ, 2004.
Tham khảo Nguyễn Hữu Chung
- ↑ Công báo Việt Nam Cộng Hòa, ấn bản Quốc hội (Hạ Nghị Viện). Phủ Thủ-Tướng (Sở Công-báo và Văn-khố). 1973. tr. 894. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 3 4 Niên-Giám Hạ-Nghị-Viện Việt-Nam Cộng-Hòa, Pháp-Nhiệm I (1967–1971). Quốc hội Việt Nam Cộng hòa. 1968. tr. 46. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Public Administration Bulletin USAID, Vietnam" (bằng tiếng Anh). Số 41. US Agency for International Development. ngày 30 tháng 11 năm 1967. tr. 119.
{{Chú thích tạp chí}}: Chú thích magazine cần|magazine=(trợ giúp) - ↑ K. W. Taylor (2015). Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967–1975). Cornell University Press. tr. 130. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Phạm Cao Phong (ngày 26 tháng 4 năm 2023). "Chỉ có Mặt trời từ trưa 30/04/1975 ở đô thành Sài Gòn hay sao?". BBC. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.
- ↑ GS Trình Quang Phú (ngày 29 tháng 4 năm 2025). "Dương Văn Minh và những ngày cuối tháng 4.1975". Thanh Niên. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2026.