Bước tới nội dung

Narval (tàu ngầm Pháp) (1925)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Narval
Tàu chị em Souffleur vào năm 1926
Lịch sử
Pháp
Tên gọiNarval
Bên khai thácHải quân Pháp
Xưởng đóng tàuArsenal de Cherbourg
Đặt lườn19 tháng 3 năm 1923
Hạ thủy9 tháng 5 năm 1925
Nhập biên chế23 tháng 7 năm 1926
Số phậnBị chìm do trúng thủy lôi vào ngày 15 tháng 12 năm 1940
Đặc điểm khái quát
Kiểu tàutàu ngầm lớp Requin
Trọng tải choán nước
Chiều dài78,30 m (256 ft 11 in)
Sườn ngang6,84 m (22 ft 5 in)
Mớn nước5,10 m (16 ft 9 in)
Động cơ đẩy
  • 2 × động cơ diesel, 2.900 hp (2.163 kW)
  • 2 × động cơ điện, 1.800 hp (1.342 kW)
Tốc độ
Tầm xa
  • 7.700 hải lý (14.300 km) ở tốc độ 9 hải lý trên giờ (17 km/h)
  • 70 hải lý (130 km) ở tốc độ 5 hải lý trên giờ (9,3 km/h) (khi lặn)
Độ sâu thử nghiệm80 m (260 ft)
Thủy thủ đoàn tối đa51
Vũ khí
  • 10 × ống phóng ngư lôi 550 mm (21,7 in)
  • 1 × pháo 100 mm (3,9 in)
  • 2 × súng máy 8 mm (0,31 in)

Narval là một tàu ngầm lớp Requin được chế tạo cho Hải quân Pháp vào giữa thập niên 1920. Tàu được đặt lườn vào tháng 3 năm 1923, hạ thủy vào tháng 5 năm 1925 và chính thức nhập biên chế vào tháng 7 năm 1926. Khi chính phủ Pháp đầu hàng Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Narval không theo chính phủ đầu hàng mà gia nhập lực lượng hải quân Pháp quốc Tự do tại đảo Malta. Ngày 15 tháng 12 năm 1940, con tàu bị chìm sau khi va phải một quả thủy lôi gần quần đảo Kerkennah ngoài khơi Tunisia. Đây cũng chính là bãi thủy lôi đã đánh chìm tàu chị em Morse của nó sáu tháng trước.

Thiết kế

Tàu ngầm lớp Requin có chiều dài 78 mét, mạn thuyền rộng 6,8 mét, tầm nước tối đa 5,1 mét và khả năng lặn sâu tối đa 80 mét. Các tàu có tải trọng choán nước 1.150 tấn Anh (1.168 t) khi nổi và 1.441 tấn Anh (1.464 t) khi lặn. Khi đi trên mặt nước, tàu sử dụng hai động cơ diesel công suất 2.900 hp (2.163 kW) và hai động cơ điện công suất 1.800 hp (1.342 kW). Hệ thống động lực điện của động cơ tàu cho phép có tốc độ 15 hải lý trên giờ (28 km/h; 17 mph) khi nổi và 9 hải lý trên giờ (17 km/h; 10 mph) khi lặn. Tầm xa hoạt động 7.700 hải lý (14.300 km) ở tốc độ 9 hải lý trên giờ (17 km/h) hoặc 4.000 hải lý (7.400 km) ở tốc độ 12 hải lý trên giờ (22 km/h). Khi lặn, tàu chỉ có thể di chuyển trong phạm vi 70 hải lý (130 km) ở tốc độ 5 hải lý trên giờ (9,3 km/h).[1]

Lịch sử hoạt động

Từ năm 1935 đến 1937, Narval được sửa chữa và nâng cấp toàn diện. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, tàu được nhập biên chế vào Tiểu đội tàu ngầm 4 và triển khai hoạt động ở vùng biển Địa Trung Hải đóng tại Bizerte, Tunisia, sau đó được điều động đến Beirut, Liban dưới quyền của Thuyền trưởng Cloarec.[2] Đến ngày 11 tháng 6 năm 1940, tàu quay trở lại Bizerte. Vào thời điểm Pháp ký hiệp định đầu hàng Đức, Narval đang làm nhiệm vụ tuần tra trên biển. Bất chấp lệnh cấm các tàu Pháp đến cảng của Anh đưa ra trước đó, chỉ huy của Narval vẫn quyết định đưa tàu đến Malta. Tại đây, Narval gia nhập vào lực lượng hải quân của Pháp quốc Tự do. Ngày 15 tháng 12 năm 1940, con tàu bị trúng thủy lôi và chìm khi di chuyển qua một bãi mìn ngoài khơi quần đảo Kerkennah, cùng bãi mìn đã đánh chìm tàu chị em Morse của nó sáu tháng trước.[3][4][5]

Tham khảo

Chú thích

  1. "Requin Class French Submarines". battleships-cruisers.co. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018.
  2. "French, Polish, German, United States Navy Ship Dispositions, September 1939". www.naval-history.net. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
  3. "FR Narval of the French Navy – French submarine of the Requin class – Allied Warships of WWII". uboat.net. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018.
  4. "Batiments ayant porté le nom de Narval". www.netmarine.net. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2025.
  5. "Q 118". sous-marin.france.pagesperso-orange.fr. ngày 4 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2025.

Sách

  • Fontenoy, Paul E. (2007). Submarines: An Illustrated History of Their Impact (Weapons and Warfare). Santa Barbara: ABC-CLIO Publishing. ISBN 978-1-85109-563-6.