Napoléon III
Trang hay phần này đang được viết mới, mở rộng hoặc đại tu. Bạn cũng có thể giúp xây dựng trang này. Nếu trang này không được sửa đổi gì trong vài ngày, bạn có thể gỡ bản mẫu này xuống. Nếu bạn là người đã đặt bản mẫu này, đang viết bài và không muốn bị mâu thuẫn sửa đổi với người khác, hãy treo bản mẫu {{đang sửa đổi}}.Sửa đổi cuối: InternetArchiveBot (thảo luận · đóng góp) vào 20 giờ trước. (làm mới) |
| Napoléon III | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Hoàng đế Pháp | |||||
Chân dung Napoléon III sau khi trở thành hoàng đế (chân dung được vẽ năm 1855 bởi Franz Xaver Winterhalter) | |||||
| Tổng thống đầu tiên của Pháp | |||||
| Nhiệm kỳ | 20 tháng 12 năm 1848 – 2 tháng 12 năm 1852 3 năm, 348 ngày | ||||
| Thủ tướng | Odilon Barrot Alphonse Henri d'Hautpoul Léon Faucher | ||||
| Tiền nhiệm | Louis-Eugène Cavaignac Nguyên thủ quốc gia | ||||
| Kế nhiệm | Adolphe Thiers Tổng thống năm 1871 | ||||
| Hoàng đế Pháp | |||||
| Trị vì | 2 tháng 12 năm 1852 – 4 tháng 9 năm 1870 17 năm, 276 ngày | ||||
| Đăng quang | 2 tháng 12 năm 1852 | ||||
| Thủ tướng | Émile Ollivier Charles Cousin-Moutauban | ||||
| Tiền nhiệm | Louis-Philippe I Vua của người Pháp | ||||
| Kế nhiệm | Louis Jules Trochu Chủ tịch Chính phủ Vệ quốc | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 20 tháng 4 năm 1808 Paris, Đệ nhất Đế chế Pháp | ||||
| Mất | 9 tháng 1 năm 1873 (64 tuổi) Chislehurst, Kent, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland | ||||
| An táng | Tu viện St Michael, Farnborough | ||||
| Hoàng hậu | Eugénie de Montijo | ||||
| Hậu duệ | Napoleon Eugène | ||||
| |||||
| Hoàng tộc | Nhà Bonaparte | ||||
| Thân phụ | Louis I của Hà Lan | ||||
| Thân mẫu | Hortense de Beauharnais | ||||
| Quân chủ Pháp |
| Vương tộc Bonaparte |
|---|
| Napoléon I |
|
| Napoléon II |
| Napoléon III |
|
Napoléon III hay Napoléon Đệ tam, cũng được biết như Louis-Napoléon Bonaparte (tên đầy đủ là Charles Louis-Napoléon Bonaparte) (20 tháng 4 năm 1808 – 9 tháng 1 năm 1873) là tổng thống đầu tiên của nền cộng hòa Pháp và hoàng đế duy nhất của Đệ Nhị Đế chế Pháp. Napoléon III nắm quyền một cách khác thường, vừa là tổng thống danh nghĩa đầu tiên của Pháp, vừa là vị vua cuối cùng của Pháp.
Napoleon III sinh ra vào thời kỳ đỉnh cao của Đệ Nhất Đế chế Pháp tại Cung điện Tuileries ở Paris, là con trai của Louis Bonaparte, Vua của Vương quốc Holland (cai trị 1806–1810), và Hortense de Beauharnais, và gọi Hoàng đế Napoleon I là bác. Chỉ hai tháng sau khi sinh, theo chính sách đặt tên triều đại của Napoleon I, ông mới được ban cho cái tên Charles-Louis Napoleon,[1] tuy nhiên, ngay sau đó, Charles đã bị xóa khỏi tên của ông. Louis Napoleon Bonaparte là tổng thống đầu tiên và duy nhất của Đệ Nhị Cộng hòa Pháp, được bầu vào năm 1848. Ông đã giành chính quyền bằng vũ lực vào năm 1851 khi không thể tái đắc cử theo hiến pháp. Sau đó, ông tự xưng là Hoàng đế của nước Pháp và thành lập ra Đệ Nhị Đế chế Pháp, trị vì cho đến khi Quân đội Pháp bị đánh bại và bị Phổ cùng các đồng minh bắt giữ trong Trận Sedan năm 1870.
Napoleon III là một vị vua được lòng dân, người đã giám sát quá trình hiện đại hóa nền kinh tế Pháp và lấp đầy Paris bằng những đại lộ và công viên mới. Ông đã mở rộng đế chế thực dân Pháp, đưa hải quân thương mại Pháp trở thành lực lượng lớn thứ hai thế giới, và đích thân tham gia hai cuộc chiến tranh. Giữ vững quyền lãnh đạo trong 22 năm, ông là nguyên thủ Pháp trị vì lâu nhất kể từ khi Ancien Régime sụp đổ, mặc dù triều đại của ông cuối cùng đã kết thúc khi ông đầu hàng Otto von Bismarck và Hoàng đế Wilhelm I vào ngày 2 tháng 9 năm 1870.
Napoleon III đã chỉ thị một cuộc tái thiết Paris quy mô lớn do Tỉnh trưởng Seine, Georges-Eugène Haussmann, thực hiện. Ông đã mở rộng và củng cố hệ thống đường sắt trên toàn quốc và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng. Napoleon thúc đẩy việc xây dựng Kênh đào Suez và thiết lập nền nông nghiệp hiện đại, chấm dứt nạn đói ở Pháp và đưa đất nước trở thành một nước xuất khẩu nông sản. Ông đã đàm phán Hiệp ước Cobden-Chevalier năm 1860 với Anh và các thỏa thuận tương tự với các đối tác thương mại châu Âu khác của Pháp. Các cải cách xã hội bao gồm việc trao cho công nhân Pháp quyền đình công và quyền tổ chức, và quyền cho phụ nữ được nhận vào một trường đại học Pháp.
Về chính sách đối ngoại, Napoleon III đặt mục tiêu tái khẳng định ảnh hưởng của Pháp ở châu Âu và trên toàn thế giới. Tại châu Âu, ông liên minh với Anh và đánh bại Nga trong Chiến tranh Krym (1853–1856). Chế độ của ông đã hỗ trợ thống nhất Bán đảo Ý bằng cách đánh bại Đế quốc Áo trong Chiến tranh giành độc lập Ý lần thứ hai và sau đó sáp nhập Savoy và Nice thông qua Hiệp ước Turin (1860) như một phần thưởng hoãn lại. Đồng thời, lực lượng của ông đã bảo vệ Lãnh địa Giáo hoàng khỏi sự thôn tính của Ý. Ông cũng ủng hộ việc hợp nhất các các thân vương quốc Danube năm 1859, dẫn đến việc thành lập các Thân vương quốc Liên hiệp Moldavia và Wallachia. Napoleon đã tăng gấp đôi diện tích của đế chế thực dân Pháp với các cuộc bành trướng ở châu Á, Thái Bình Dương và châu Phi. Mặt khác, cuộc can thiệp vào Mexico, nhằm mục đích thành lập Đệ Nhị Đế chế México dưới sự bảo hộ của Pháp, đã kết thúc trong thất bại hoàn toàn.
Từ năm 1866, Napoleon phải đối mặt với sức mạnh ngày càng tăng của Vương quốc Phổ khi thủ tướng Otto von Bismarck tìm cách thống nhất nước Đức dưới sự lãnh đạo của Phổ. Tháng 7 năm 1870, Napoleon miễn cưỡng tuyên chiến với Phổ trước áp lực của công chúng. Quân đội Pháp nhanh chóng bị đánh bại, và Napoleon bị bắt tại Sedan. Ông nhanh chóng bị truất ngôi và Đệ Tam Cộng hòa được tuyên bố thành lập tại Paris. Sau khi được thả khỏi sự giam giữ của Phổ, ông lưu vong sang Anh và qua đời tại đây vào năm 1873.
Tuổi thơ và gia đình
Cuộc sống đầu đời

Charles-Louis Napoleon Bonaparte, sau này được gọi là Louis Napoleon và sau đó là Napoleon III, sinh ra tại Paris vào đêm ngày 19 rạng sáng ngày 20 tháng 4 năm 1808. Cha ông là Louis Napoléon Bonaparte, em trai của Napoleon Bonaparte, người đã đưa Louis lên làm Vua của Holland từ năm 1806 đến năm 1810. Mẹ ông là Hortense de Beauharnais, con gái riêng duy nhất của vợ Napoleon là Joséphine de Beauharnais với người chồng đầu tiên là Alexandre de Beauharnais. Ông là Vương tử Bonaparte đầu tiên được sinh ra sau khi Đệ Nhất Đế chế Pháp được tuyên bố hình thành.[2]
Với tư cách là hoàng hậu, Joséphine đã đề xuất hôn nhân giữa Louis và Hortense như một cách để sinh ra người thừa kế cho Hoàng đế, và được Hoàng đế đồng ý, vì lúc đó Joséphine đã vô sinh.[3] Louis và Hortense có mối quan hệ không mấy tốt đẹp và chỉ sống chung với nhau trong một thời gian ngắn. Con trai đầu lòng của họ là Napoléon-Charles Bonaparte, qua đời năm 1807 và—mặc dù đã ly thân và có một người con trai thứ hai khỏe mạnh là Napoléon Louis Bonaparte—họ vẫn quyết định sinh thêm đứa con thứ ba. Hai người nối lại cuộc hôn nhân trong một thời gian ngắn tại Toulouse, bắt đầu từ ngày 12 tháng 8 năm 1807 và Louis Napoleon chào đời sớm hơn dự kiến (ít nhất) ba tuần so với chín tháng. Hortense được biết là có người tình và những kẻ thù của Louis Bonaparte, bao gồm cả Victor Hugo, đã lan truyền tin đồn rằng ông là con của một người đàn ông khác, nhưng hầu hết các nhà sử học ngày nay đều đồng ý rằng ông là con trai hợp pháp của Louis Napoléon Bonaparte, vua của Holland.[4][5][6]
Louis Napoleon được rửa tội tại Cung điện Fontainebleau vào ngày 5 tháng 11 năm 1810, với Hoàng đế Napoleon làm cha đỡ đầu và Hoàng hậu Marie-Louise làm mẹ đỡ đầu. Cha ông không còn ở bên cạnh, một lần nữa xa cách Hortense. Năm lên 7 tuổi, Louis Napoleon đến thăm bác mình tại Cung điện Tuileries ở Paris. Hoàng đế Napoleon I bế cậu lên cửa sổ để nhìn những người lính diễu hành ở Quảng trường Carrousel bên dưới. Louis Napoleon gặp bác mình lần cuối cùng cùng gia đình tại Château de Malmaison, ngay trước khi Napoleon lên đường tham gia Trận Waterloo.[7]
Tất cả các thành viên của Nhà Bonaparte đều bị buộc phải lưu vong sau thất bại của Hoàng đế Napoleon tại Trận Waterloo và Bourbon phục hoàng. Hortense và Louis Napoleon chuyển từ Aix-les-Bains đến Bern, rồi Baden-Baden, và cuối cùng đến một ngôi nhà ven hồ ở Arenenberg thuộc bang Thurgau của Thụy Sĩ. Ông được học một phần ở Đức tại trường trung học ở Augsburg, Vương quốc Bayern. Kết quả là, trong suốt quãng đời còn lại, tiếng Pháp của ông có một chút giọng Đức nhưng dễ nhận thấy. Gia sư ở nhà của ông là Philippe Le Bas, một người theo chủ nghĩa cộng hòa nhiệt thành và là con trai của một nhà cách mạng và là bạn thân của Robespierre. Le Bas đã dạy ông lịch sử Pháp và chính trị cấp tiến.[8]
Nhà cách mạng lãng mạn (1823–1835)
Khi Louis Napoleon 15 tuổi, mẹ ông là Hortense chuyển đến Rome, nơi gia đình Bonaparte có một biệt thự. Ông dành thời gian học tiếng Ý, khám phá những tàn tích cổ đại và học nghệ thuật lãng mạn và có ở đây các mối tình tuổi thiếu niên, những điều mà ông thường sử dụng trong cuộc sống sau này. Ông kết bạn với Đại sứ Pháp, François-René de Chateaubriand, cha đẻ của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Pháp, người mà ông vẫn giữ liên lạc trong nhiều năm. Ông đoàn tụ với anh trai mình là Napoléon-Louis; cùng nhau họ tham gia Carbonari, các hội cách mạng bí mật chống lại sự thống trị của Đế quốc Áo đối với miền Bắc Ý. Vào mùa xuân năm 1831, khi Louis Napoleon 23 tuổi, chính phủ Áo và Giáo hoàng đã phát động một cuộc tấn công chống lại Carbonari. Hai anh em bị cảnh sát truy nã, buộc phải chạy trốn. Trong cuộc chạy trốn, Napoléon-Louis mắc bệnh sởi. Ông qua đời trong vòng tay em trai mình vào ngày 17 tháng 3 năm 1831.[9] Hortense và Louis Napoleon đã trốn tránh cảnh sát và quân đội Áo, cuối cùng đã đến được biên giới Pháp.[10]
Hortense và Louis Napoleon bí mật đến Paris, nơi chế độ cũ của Vua Charles X vừa sụp đổ sau Cách mạng Tháng Bảy và được thay thế bằng chế độ tự do hơn của Louis Philippe I, vị vua duy nhất của Quân chủ Tháng Bảy. Họ đến Paris vào ngày 23 tháng 4 năm 1831 và cư trú dưới tên "Hamilton" tại Hotel du Holland trên Quảng trường Vendôme. Hortense đã viết đơn thỉnh cầu lên Vua Pháp, xin được ở lại Pháp, và Louis Napoleon đã đề nghị tình nguyện làm lính thường trong Quân đội Pháp. Vị vua mới đồng ý gặp Hortense một cách bí mật; Louis Napoleon bị sốt và không tham gia cùng họ. Cuối cùng, nhà vua đồng ý cho Hortense và Louis Napoleon ở lại Paris miễn là thời gian lưu trú của họ ngắn và bí mật. Louis Napoleon được thông báo rằng ông có thể gia nhập Quân đội Pháp nếu ông chịu đổi tên, nhưng ông đã từ chối một cách phẫn nộ. Hortense và Louis Napoleon ở lại Paris cho đến ngày 5 tháng 5 năm 1831, đúng kỷ niệm 10 năm ngày mất của Hoàng đế Napoleon I. Sự hiện diện của Hortense và Louis Napoleon tại khách sạn đã được biết đến, và một cuộc biểu tình công khai để tưởng nhớ Hoàng đế đã diễn ra tại Quảng trường Vendôme, ngay trước khách sạn của họ. Cùng ngày hôm đó, Hortense và Louis Napoleon được lệnh rời khỏi Paris. Trong thời gian ngắn ngủi ở Paris, Louis Napoleon tin chắc rằng tình cảm của người dân và quân đội Pháp dành cho Bonaparte vẫn còn mạnh mẽ.[2] Họ đến Anh một thời gian ngắn, rồi lại lưu vong ở Thụy Sĩ.[11]
Những năm đầu trưởng thành
Sự kế vị Bonaparte và chủ nghĩa Bonaparte
Kể từ khi đế chế của người bác Napoleon sụp đổ năm 1815, một phong trào Bonaparte đã tồn tại ở Pháp, với hy vọng đưa một người mang họ Bonaparte trở lại ngai vàng Pháp. Theo luật kế vị do Napoleon I thiết lập, quyền kế vị đầu tiên được truyền cho chính con trai ông, được cha mình tuyên bố là "Vua của Rome" ngay từ khi sinh ra. Người thừa kế này, được những người theo chủ nghĩa Bonaparte gọi là Napoléon II, đang sống trong cảnh giam lỏng tại triều đình Viên với tước hiệu Công tước xứ Reichstadt. Người kế vị tiếp theo là bác cả của Louis Napoleon, Joseph Bonaparte, tiếp theo là cha của ông, nhưng cả Joseph lẫn cha của ông đều không muốn quay trở lại đời sống chính trị. Khi Công tước xứ Reichstadt qua đời vào năm 1832, Louis Napoleon trở thành người thừa kế trên thực tế của triều đại và là người lãnh đạo phe Bonaparte.[12]
Lưu vong cùng mẹ ở Thụy Sĩ, Louis Napoleon gia nhập Quân đội Thụy Sĩ, được đào tạo để trở thành sĩ quan và viết một cuốn cẩm nang về pháo binh (bác của ông, Napoleon, đã trở nên nổi tiếng với tư cách là một sĩ quan pháo binh). Louis Napoleon cũng bắt đầu viết về triết lý chính trị của mình—như nhà sử học người Anh đầu thế kỷ XX H. A. L. Fisher đã nhận định, "chương trình của Đế chế không phải là sự ứng biến của một kẻ phiêu lưu tầm thường" mà là kết quả của sự suy ngẫm sâu sắc về triết lý chính trị của Napoleon và cách điều chỉnh nó cho phù hợp với bối cảnh quốc tế và trong nước đã thay đổi.[13] Ngay từ năm 1832, ông đã trình bày một sự hòa giải giữa chủ nghĩa Bonaparte và chủ nghĩa cộng hòa thông qua nguyên tắc chủ quyền nhân dân. Ông tin rằng một hoàng đế hùng mạnh tồn tại để thực thi ý chí của nhân dân.[2] Ông xuất bản Rêveries politiques hay "những giấc mơ chính trị" vào năm 1833 ở tuổi 25, tiếp theo là Considérations politiques et militaires sur la Suisse ("Những cân nhắc chính trị và quân sự về Thụy Sĩ") vào năm 1834, tiếp theo là Les Idées napoléoniennes ("Những ý tưởng của Napoleon") vào năm 1839, một tuyển tập các ý tưởng chính trị của ông, được xuất bản thành ba phiên bản và cuối cùng được dịch sang 6 ngôn ngữ. Ông xây dựng học thuyết của mình dựa trên hai ý tưởng: phổ thông đầu phiếu và đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Ông kêu gọi một "chế độ quân chủ mang lại lợi ích cho nền Cộng hòa mà không gây ra bất tiện", một chế độ "mạnh mẽ mà không chuyên chế, tự do mà không hỗn loạn, độc lập mà không bị chinh phục".[14] Ông cũng dự định xây dựng một cộng đồng các quốc gia châu Âu rộng lớn hơn.[2]
Đảo chính thất bại, lưu vong ở London (1836–1840)
"Ta tin", Louis Napoleon viết, "rằng thỉnh thoảng, có những người được tạo ra mà ta gọi là những người tình nguyện của sự quan phòng, những người nắm giữ vận mệnh của đất nước. Ta tin ta là một trong số những người đó. Nếu ta sai, ta có thể chết một cách vô ích. Nếu ta đúng, thì sự quan phòng sẽ đặt ta vào vị thế để hoàn thành sứ mệnh của mình."[15] Ông đã chứng kiến sự nhiệt tình của dân chúng dành cho Napoléon Bonaparte khi ông ở Paris, và ông tin chắc rằng, nếu ông hành quân đến Paris, như Napoléon Bonaparte đã làm vào năm 1815 trong thời kỳ Một Trăm Ngày, nước Pháp sẽ nổi dậy và sát cánh cùng ông. Ông bắt đầu lên kế hoạch đảo chính chống lại Vua Louis-Philippe I của Pháp.[16]

Ông lên kế hoạch cho cuộc nổi dậy của mình bắt đầu ở Strasbourg. Một đại tá của một trung đoàn đã đồng ý tham gia. Ngày 29 tháng 10 năm 1836, Louis Napoleon đến Strasbourg, trong quân phục của một sĩ quan pháo binh; ông tập hợp trung đoàn về phía mình. Quận lỵ bị chiếm giữ, và viên thị trưởng bị bắt. Thật không may cho Louis-Napoleon, vị tướng chỉ huy quân đồn trú đã trốn thoát và triệu tập một trung đoàn trung thành, bao vây những kẻ nổi loạn. Những kẻ nổi loạn đầu hàng và Louis-Napoleon chạy trốn trở về Thụy Sĩ.[17]
Louis Napoleon rất được yêu mến khi lưu vong và sự yêu mến của ông ở Pháp liên tục tăng lên sau cuộc đảo chính bất thành năm 1836, khi nó đưa ông trở thành người thừa kế huyền thoại của Bonaparte và tăng cường sự công khai của ông.[2]
Vua Louis Philippe đã yêu cầu chính phủ Thụy Sĩ dẫn độ Louis Napoleon về Pháp, nhưng người Thụy Sĩ chỉ ra rằng ông là một người lính và công dân Thụy Sĩ và từ chối giao nộp ông. Nhà vua đáp lại bằng cách gửi một đội quân đến biên giới Thụy Sĩ. Louis Napoleon cảm ơn những người chủ nhà Thụy Sĩ và tự nguyện rời khỏi đất nước. Những kẻ nổi loạn khác bị đưa ra xét xử ở Alsace, và tất cả đều được tha bổng.
Louis Napoleon đầu tiên đến London, sau đó đến Đế chế Brasil, và sau đó đến Thành phố New York. Ông đã gặp gỡ giới thượng lưu New York và nhà văn Washington Irving. Trong khi đang trên đường đi thăm thú nhiều nơi ở Hoa Kỳ, ông nhận được tin mẹ mình đang lâm bệnh nặng. Ông vội vã trở về Thụy Sĩ nhanh nhất có thể. Ông đến Arenenberg kịp lúc để ở bên mẹ vào ngày 5 tháng 8 năm 1837, khi bà qua đời. Cuối cùng, bà được chôn cất tại Rueil-Malmaison, Pháp, bên cạnh mẹ mình, vào ngày 11 tháng 1 năm 1838, nhưng Louis Napoleon không thể tham dự vì ông không được phép vào Pháp.[18]
Louis Napoleon trở về London cho một thời gian lưu vong mới vào tháng 10 năm 1838. Ông được thừa kế một gia tài lớn từ mẹ mình và thuê một căn nhà với 17 người hầu cùng một số bạn bè cũ và đồng chí. Ông được giới thượng lưu London tiếp đón và gặp gỡ các nhà lãnh đạo chính trị và khoa học thời bấy giờ, bao gồm Benjamin Disraeli và Michael Faraday. Ông cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu đáng kể về nền kinh tế của Anh. Ông đã đi dạo trong Công viên Hyde, nơi sau này ông đã sử dụng làm mô hình khi ông tạo ra Bois de Boulogne ở Paris.[19] Ông đã dành mùa đông năm 1838-39 tại Leamington Spa ở Warwickshire.[19]
Cuộc đảo chính thứ hai, nhà tù, trốn thoát và lưu đày (1840–1848)
Sống trong sự thoải mái của London, ông vẫn không từ bỏ giấc mơ trở về Pháp để phục hưng triều đại Bonaparte. Mùa hè năm 1840, ông mua vũ khí và quân phục, cho in các bản tuyên cáo, tập hợp một đội quân khoảng 60 người có vũ trang, thuê một con tàu tên là Edinburgh-Castle, và vào ngày 6 tháng 8 năm 1840, ông vượt eo biển Manche đến cảng Boulogne. Âm mưu đảo chính đã trở thành một thất bại thậm chí còn lớn hơn cả cuộc binh biến ở Strasbourg. Những kẻ nổi loạn bị hải quan chặn lại, binh lính đồn trú từ chối tham gia, những kẻ nổi loạn bị bao vây trên bãi biển, một người bị giết và những người khác bị bắt. Cả báo chí Anh và Pháp đều chế giễu Louis-Napoleon và âm mưu của ông. Tờ Journal des débats viết, "điều này còn hơn cả hài kịch. Người ta không giết người điên, người ta chỉ nhốt họ lại." Ông đã bị đưa ra xét xử, tại đó, mặc dù đã biện hộ hùng hồn cho lý lẽ của mình, ông vẫn bị kết án tù chung thân tại pháo đài Ham ở tỉnh Somme, miền Bắc nước Pháp.[20][21]
Các hoạt động
Sổ đăng ký của pháo đài Ham ngày 7 tháng 10 năm 1840, có mô tả ngắn gọn về tù nhân mới: "Tuổi: 32 tuổi. Chiều cao: 1m66. Tóc và lông mày: màu hạt dẻ. Mắt: Xám và nhỏ. Mũi: to. Miệng: bình thường. Râu: nâu. Ria mép: vàng hoe. Cằm: nhọn. Mặt: hình bầu dục. Nước da: nhợt nhạt. Đầu: hóp vào vai, vai rộng. Lưng: cong. Môi: dày".[22] Ông có một tình nhân tên là Eléonore Vergeot, một phụ nữ trẻ đến từ thị trấn Ham, người đã sinh cho ông hai người con.[23]
Trong thời gian ở tù, Louis Napoleon đã viết thơ, tiểu luận chính trị và các bài báo về nhiều chủ đề khác nhau. Ông đã đóng góp bài viết cho các tờ báo và tạp chí địa phương ở các thị trấn trên khắp nước Pháp, trở nên khá nổi tiếng với tư cách là một nhà văn. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông là L'extinction du pauperisme (1844), một nghiên cứu về nguyên nhân của nghèo đói trong tầng lớp công nhân Pháp, với các đề xuất xóa bỏ tình trạng này. Kết luận của ông: "Giai cấp công nhân chẳng có gì cả, cần phải trao cho họ quyền sở hữu. Họ không có tài sản nào khác ngoài sức lao động của chính mình, cần phải trao cho họ công việc mang lại lợi ích cho tất cả mọi người... họ không có tổ chức và không có mối quan hệ, không có quyền lợi và không có tương lai; cần phải trao cho họ quyền lợi và tương lai, đồng thời nuôi dạy họ theo cách riêng của họ thông qua sự kết nối, giáo dục và kỷ luật". Ông đã đề xuất nhiều ý tưởng thực tế để tạo ra một hệ thống ngân hàng và tiết kiệm cung cấp tín dụng cho giai cấp công nhân, và thành lập các thuộc địa nông nghiệp tương tự như các kibbutz sau này được thành lập ở Israel.[24] Cuốn sách này đã được tái bản và lưu hành rộng rãi ở Pháp, và đóng một vai trò quan trọng trong thành công bầu cử sau này của ông.
Louis Napoleon bận rộn trong tù, nhưng cũng bất mãn và mất kiên nhẫn. Ông nhận thức được rằng danh tiếng của bác mình đang ngày càng tăng ở Pháp; Napoleon I là chủ đề của những bài thơ, sách và vở kịch anh hùng. Đám đông khổng lồ đã tụ tập tại Paris vào ngày 15 tháng 12 năm 1840 khi hài cốt của Napoleon được trao trả với nghi lễ long trọng về Paris, được tổ chức bởi Vua Louis Philippe, trong khi Louis Napoleon chỉ có thể đọc về điều đó trong tù. Ngày 25 tháng 5 năm 1846, với sự giúp đỡ của bác sĩ và những người bạn khác ở bên ngoài, ông cải trang thành một người lao động khuân vác gỗ và bước ra khỏi nhà tù. Sau đó, kẻ thù của ông chế giễu gọi ông là "Badinguet", tên của người lao động mà ông đã giả danh. Một cỗ xe ngựa đang chờ để đưa ông đến bờ biển và sau đó đi thuyền đến Anh. Một tháng sau khi ông trốn thoát, cha ông, Louis, qua đời, khiến Charles Napoleon trở thành người thừa kế hiển nhiên của triều đại Bonaparte.[25]
Trở về Anh và những chuyện ban đầu

Louis Napoleon nhanh chóng lấy lại vị trí của mình trong xã hội Anh. Ông sống ở phố King, St James, London, đi xem kịch và săn bắn, nối lại tình bạn với Benjamin Disraeli và gặp Charles Dickens. Ông quay lại học tại Bảo tàng Anh. Ông ngoại tình với nữ diễn viên Rachel Félix, nữ diễn viên người Pháp nổi tiếng nhất thời bấy giờ, trong thời gian bà lưu diễn ở Anh. Quan trọng hơn cho sự nghiệp tương lai của ông, ông ngoại tình với nữ thừa kế giàu có Harriet Howard (1823–1865). Họ gặp nhau vào năm 1846, ngay sau khi ông trở về Anh. Họ bắt đầu sống chung, và bà nhận nuôi hai đứa con ngoài giá thú của ông và nuôi dạy chúng cùng với con trai của mình, và bà cung cấp tài chính cho các kế hoạch chính trị của ông để khi thời điểm đến, ông có thể trở về Pháp.plans so that, when the moment came, he could return to France.[26]
Sự nghiệp chính trị ban đầu
Cách mạng 1848 và sự ra đời của nền Đệ nhị cộng hoà
Tháng 2 năm 1848, Louis Napoleon hay tin Cách mạng Pháp 1848 đã nổ ra; Vua Louis Philippe I, do vấp phải sự phản đối từ chính phủ và quân đội, đã thoái vị. Tin rằng thời khắc của mình cuối cùng đã đến, ông lên đường trở về Paris vào ngày 27 tháng 2, rời khỏi nước Anh cùng ngày Louis-Philippe rời Pháp sang Anh lưu vong. Khi đến Paris, ông thấy rằng Đệ nhị Cộng hòa Pháp đã được tuyên bố thành lập, một Chính phủ Lâm thời do Alphonse de Lamartine lãnh đạo, và các phe phái cộng hòa khác nhau, từ phe bảo thủ đến phe cực tả, đang tranh giành quyền lực. Ông viết thư cho Lamartine thông báo về chuyến đi của mình, nói rằng ông "không có tham vọng nào khác ngoài việc phục vụ đất nước". Lamartine trả lời một cách lịch sự nhưng kiên quyết, yêu cầu Louis-Napoleon rời Paris "cho đến khi thành phố yên bình hơn, và không phải trước cuộc bầu cử Quốc hội". Các cố vấn thân cận của ông thúc giục ông ở lại và cố gắng nắm quyền, nhưng ông muốn thể hiện sự thận trọng và lòng trung thành của mình với nền Cộng hòa; Trong khi các cố vấn của ông vẫn ở Paris, ông trở về London vào ngày 2 tháng 3 năm 1848 và theo dõi các sự kiện từ đó.[27]
Louis Napoleon không tham gia cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên, được tổ chức vào tháng 4 năm 1848, nhưng ba thành viên của Nhà Bonaparte là Jérôme Bonaparte, Pierre Napoléon Bonaparte và Lucien Murat đã đắc cử; tên tuổi của người Nhà Bonaparte vẫn còn sức mạnh chính trị. Trong cuộc bầu cử tiếp theo, vào ngày 4 tháng 6, khi các ứng cử viên có thể tranh cử ở nhiều tỉnh, ông đã được bầu ở bốn tỉnh khác nhau; tại Paris, ông nằm trong số năm ứng cử viên hàng đầu, chỉ sau nhà lãnh đạo bảo thủ Adolphe Thiers và Victor Hugo. Những người ủng hộ ông chủ yếu thuộc cánh tả, thuộc tầng lớp nông dân và công nhân. Cuốn sách nhỏ của ông về "Sự diệt vong của chủ nghĩa bần cùng" được phát hành rộng rãi ở Paris, và tên tuổi của ông được ca ngợi cùng với tên tuổi của các ứng cử viên xã hội chủ nghĩa Armand Barbès và Louis Blanc.[28]
Các nhà lãnh đạo Cộng hòa trung dung của chính phủ lâm thời, Lamartine và Cavaignac, coi việc bắt giữ Louis Napoleon là một hành động cách mạng nguy hiểm, nhưng một lần nữa ông đã qua mặt họ. Ông viết thư cho chủ tịch chính phủ lâm thời: "Tôi tin rằng tôi nên chờ đợi để trở về trung tâm đất nước, để sự hiện diện của tôi ở Pháp sẽ không trở thành cái cớ cho kẻ thù của nền Cộng hòa".[29]
Vào tháng 6 năm 1848, cuộc Khởi nghĩa Những Ngày Tháng Sáu nổ ra ở Paris, do phe cực tả lãnh đạo, chống lại phe bảo thủ chiếm đa số trong Quốc hội. Hàng trăm chướng ngại vật xuất hiện ở các khu dân cư lao động. Tướng Louis-Eugène Cavaignac, người chỉ huy quân đội, ban đầu rút quân khỏi Paris để quân nổi dậy có thể triển khai chướng ngại vật, sau đó quay trở lại với lực lượng áp đảo để đàn áp cuộc nổi dậy; từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 6, đã diễn ra các trận đánh trên đường phố ở các khu vực lao động của Paris. Ước tính 5 nghìn quân nổi dậy đã bị giết tại các chướng ngại vật, 15 nghìn người bị bắt và 4 nghìn người bị trục xuất.[30]
Việc Louis Napoleon vắng mặt ở Paris đồng nghĩa với việc ông không liên quan gì đến cuộc nổi dậy hay cuộc đàn áp tàn bạo sau đó. Ông vẫn ở London vào ngày 17–18 tháng 9, khi cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức, nhưng ông là ứng cử viên ở 13 tỉnh. Ông được bầu ở 5 tỉnh; tại Paris, ông nhận được 110.000 phiếu bầu trong số 247.000 phiếu bầu, số phiếu bầu cao nhất trong số các ứng cử viên. Ông trở về Paris vào ngày 24 tháng 9 và lần này ông đã có một vị trí trong Quốc hội. Trong 7 tháng, ông đã chuyển từ một cuộc lưu vong chính trị ở London đến một vị trí rất nổi bật trong Quốc hội, khi chính phủ hoàn thành hiến pháp mới và chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Pháp.[31]
Cuộc bầu cử tổng thống năm 1848


Hiến pháp mới của Đệ nhị Cộng hòa, do một ủy ban bao gồm Alexis de Tocqueville soạn thảo, yêu cầu một cơ quan hành pháp mạnh mẽ và một tổng thống được bầu bằng phổ thông đầu phiếu thông qua quyền bầu cử phổ thông của nam giới, thay vì do Quốc hội lựa chọn.[32] Cuộc bầu cử được lên kế hoạch vào ngày 10–11 tháng 12 năm 1848. Louis Napoleon ngay lập tức tuyên bố ứng cử. Có bốn ứng cử viên khác cho vị trí này: Tướng Cavaignac, người đã chỉ huy cuộc đàn áp các cuộc nổi dậy tháng Sáu ở Paris; Lamartine, nhà thơ-triết gia và là lãnh đạo của chính phủ lâm thời; Alexandre Auguste Ledru-Rollin, lãnh đạo của những người xã hội chủ nghĩa; và François-Vincent Raspail, lãnh đạo của cánh tả cực đoan của những người xã hội chủ nghĩa.[33]
Louis Napoleon đặt trụ sở chiến dịch tranh cử và dinh thự của mình tại Hôtel du Rhin trên Quảng trường Vendôme. Ông đi cùng người bạn đồng hành, Harriet Howard, người đã cho ông một khoản vay lớn để hỗ trợ tài chính cho chiến dịch. Ông hiếm khi tham dự các kỳ họp của Quốc hội và hiếm khi bỏ phiếu. Ông không phải là một nhà hùng biện tài năng; Ông nói chậm rãi, đều đều, với giọng Đức nhẹ do được giáo dục tại Thụy Sĩ. Những người phản đối đôi khi chế giễu ông, ví ông như "một con gà tây tự cho mình là đại bàng".[34]
Chiến dịch tranh cử của Louis Napoleon thu hút cả phe tả lẫn phe hữu. Tuyên ngôn tranh cử của ông tuyên bố ủng hộ "tôn giáo, gia đình, tài sản, nền tảng vĩnh cửu của mọi trật tự xã hội". Nhưng nó cũng thể hiện ý định "tạo việc làm cho những người thất nghiệp; chăm lo cho tuổi già của người lao động; đưa vào luật lao động những cải tiến không làm suy yếu người giàu, mà mang lại hạnh phúc cho mỗi người và sự thịnh vượng cho tất cả".[35]
Các đại diện tranh cử của Louis Napoleon, nhiều người trong số họ là cựu chiến binh từ quân đội của Napoleon Bonaparte, đã vận động ủng hộ ông trên khắp đất nước. Louis Napoleon đã giành được sự ủng hộ miễn cưỡng của nhà lãnh đạo bảo thủ Adolphe Thiers, người tin rằng ông có thể là người dễ bị kiểm soát nhất; Thiers gọi ông là "trong số tất cả các ứng cử viên, người ít tệ nhất".[36] Ông đã giành được sự ủng hộ của L'Evenement, tờ báo của Victor Hugo, với tuyên bố: "Chúng tôi tin tưởng ông ấy; ông ấy mang một cái tên vĩ đại".[37] Đối thủ chính của ông, Tướng Cavaignac, dự đoán Louis Napoleon sẽ về nhất, nhưng ông sẽ nhận được chưa đến 50% số phiếu bầu, điều đó có nghĩa là cuộc bầu cử sẽ được chuyển đến Quốc hội, nơi Cavaignac chắc chắn sẽ giành chiến thắng.
Cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày 10–11 tháng 12. Kết quả được công bố vào ngày 20 tháng 12. Louis Napoleon được nhiều người dự đoán sẽ giành chiến thắng, nhưng quy mô chiến thắng của ông đã khiến hầu hết mọi người ngạc nhiên. Ông giành được 5.572.834 phiếu bầu, tương đương 74,2% số phiếu bầu, so với 1.469.156 phiếu bầu của Cavaignac. Ứng cử viên xã hội chủ nghĩa Ledru-Rollin nhận được 376.834 phiếu bầu; ứng cử viên cực tả Raspail nhận được 37.106 phiếu bầu, và nhà thơ Lamartine chỉ nhận được 17.000 phiếu bầu. Louis Napoleon giành được sự ủng hộ của mọi tầng lớp dân chúng: nông dân bất mãn với giá cả leo thang và thuế má cao; công nhân thất nghiệp; doanh nhân nhỏ mong muốn thịnh vượng và trật tự; và giới trí thức như Victor Hugo. Ông giành được 55,6% số phiếu bầu của tất cả cử tri đã đăng ký và chiến thắng ở tất cả các tỉnh của Pháp, ngoại trừ 4 tỉnh.[38]
- Chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1848 là cuộc đối đầu giữa Louis Napoleon với Tướng Cavaignac, Bộ trưởng Quốc phòng của Chính phủ lâm thời và các nhà lãnh đạo của đảng xã hội.
- Bài luận "Sự diệt vong của nạn bần cùng" của Louis Napoleon, ủng hộ các cải cách nhằm giúp đỡ giai cấp công nhân, đã được phổ biến rộng rãi trong chiến dịch tranh cử năm 1848.
Hoàng thân-Tổng thống (1848–1851)
Louis Napoleon chuyển dinh thự của mình đến Điện Élysée vào cuối tháng 12 năm 1848 và ngay lập tức treo một bức chân dung của mẹ mình trong phòng ngủ và một bức chân dung của Hoàng đế Napoleon I, trong bộ lễ phục đăng quang, trong phòng khách lớn. Adolphe Thiers khuyến nghị ông nên mặc trang phục "dân chủ đơn giản", nhưng theo gương bác mình, ông đã chọn quân phục của Tổng tư lệnh Vệ binh Quốc gia và chọn danh hiệu "Hoàng thân-Tổng thống".[39]
Louis Napoleon cũng lần đầu tiên dấn thân vào chính sách đối ngoại tại Ý, nơi khi còn trẻ ông đã tham gia vào cuộc nổi dậy yêu nước chống lại người Áo. Chính phủ tiền nhiệm đã cử một lực lượng viễn chinh, được Quốc hội giao nhiệm vụ và tài trợ, để hỗ trợ các lực lượng cộng hòa ở Ý chống lại người Áo và chống lại Giáo hoàng. Thay vào đó, lực lượng này được bí mật lệnh làm điều ngược lại, cụ thể là tiến vào Rome để giúp khôi phục quyền lực thế tục của Giáo hoàng Piô IX, người đã bị lật đổ bởi những người cộng hòa Ý, bao gồm Mazzini và Garibaldi. Quân đội Pháp bị quân lính của Garibaldi tấn công. Hoàng thân-Tổng thống, không tham khảo ý kiến các bộ trưởng, đã ra lệnh cho binh lính của mình chiến đấu nếu cần để ủng hộ Giáo hoàng. Điều này rất được lòng những người Công giáo Pháp, nhưng lại khiến những người cộng hòa, vốn ủng hộ Cộng hòa La Mã, tức giận.[39] Để làm hài lòng những người cộng hòa cấp tiến, ông yêu cầu Giáo hoàng ban hành các cải cách tự do và áp dụng Bộ luật Napoleon cho Lãnh địa Giáo hoàng. Để giành được sự ủng hộ từ những người Công giáo, ông đã phê chuẩn Loi Falloux vào năm 1851, đạo luật này đã khôi phục vai trò lớn hơn của Giáo hội Công giáo trong hệ thống giáo dục Pháp.[40]
Các cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức vào ngày 13–14 tháng 5 năm 1849, chỉ vài tháng sau khi Louis Napoleon lên nắm quyền, và phần lớn chiến thắng thuộc về liên minh những người cộng hòa bảo thủ—mà những người Công giáo và quân chủ gọi là "Đảng Trật tự"—do Thiers lãnh đạo. Những người theo chủ nghĩa xã hội và những người cộng hòa "đỏ", do Ledru-Rollin và Raspail lãnh đạo, cũng giành được 200 ghế. Những người cộng hòa ôn hòa, ở giữa, đã thất bại thảm hại, chỉ giành được 70–80 ghế. Đảng Trật tự chiếm đa số rõ ràng, đủ để ngăn chặn mọi sáng kiến của Louis Napoleon.[41]
Ngày 11 tháng 6 năm 1849, những người theo chủ nghĩa xã hội và những người cộng hòa cấp tiến đã nỗ lực giành chính quyền. Ledru-Rollin, từ trụ sở của mình tại Học viện Nghệ thuật và Nghề nghiệp, tuyên bố Louis Napoleon không còn là Tổng thống và kêu gọi một cuộc tổng nổi dậy. Một vài chướng ngại vật xuất hiện ở các khu dân cư lao động của Paris. Louis Napoleon đã hành động nhanh chóng, và cuộc nổi dậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Paris bị tuyên bố trong tình trạng phong toả, trụ sở của cuộc nổi dậy bị bao vây, và các nhà lãnh đạo bị bắt giữ. Ledru-Rollin chạy trốn sang Anh, Raspail bị bắt và bị tống giam, các câu lạc bộ cộng hòa bị đóng cửa, và các tờ báo của họ cũng bị đóng cửa.
Quốc hội, lúc này không còn những người cộng hòa cánh tả và quyết tâm loại họ ra khỏi cuộc chơi mãi mãi, đã đề xuất một luật bầu cử mới, đặt ra những hạn chế đối với quyền bầu cử phổ thông đầu phiếu của nam giới, áp đặt yêu cầu cư trú ba năm. Luật mới này đã loại trừ 3,5 trong số 9 triệu cử tri Pháp, những cử tri mà lãnh đạo Đảng Trật tự, Adolphe Thiers, đã gọi một cách khinh miệt là "đám đông đê tiện".[42] Luật bầu cử mới này được thông qua vào tháng 5 năm 1850 với đa số 433 phiếu thuận và 241 phiếu chống, đặt Quốc hội vào thế đối đầu trực tiếp với Hoàng thân-Tổng thống.[43] Louis Napoleon đã bất đồng với Quốc hội và các bộ trưởng bảo thủ phản đối các dự án của ông, ủng hộ những người bị tước đoạt. Ông đã giành được sự ủng hộ của quân đội, đi khắp đất nước để thực hiện các bài phát biểu dân túy lên án Quốc hội, và tự xưng là người bảo vệ quyền bầu cử phổ thông cho nam giới. Ông yêu cầu thay đổi luật, nhưng đề xuất của ông đã bị Quốc hội bác bỏ với tỷ lệ phiếu 355 phiếu thuận và 348 phiếu chống.[44]
Theo Hiến pháp năm 1848, Louis Napoleon phải từ chức khi hết nhiệm kỳ. Ông đã tìm kiếm một sửa đổi hiến pháp để cho phép mình kế vị, với lý do 4 năm là không đủ để thực hiện đầy đủ chương trình chính trị và kinh tế của mình. Ông đã đi khắp đất nước và nhận được sự ủng hộ từ nhiều chính quyền khu vực và nhiều người trong Quốc hội. Cuộc bỏ phiếu vào tháng 7 năm 1851 là 446 phiếu thuận và 278 phiếu chống, ủng hộ việc thay đổi luật và cho phép ông tái tranh cử, nhưng vẫn chưa đạt được đa số hai phần ba cần thiết để sửa đổi hiến pháp.[45]
Đảo chính (tháng 12 năm 1851)


Louis Napoleon tin rằng ông được nhân dân ủng hộ và ông đã chọn duy trì quyền lực bằng các phương tiện khác. Em trai cùng cha khác mẹ của ông là Charles, duc de Morny, và một vài cố vấn thân cận đã âm thầm bắt đầu tổ chức một cuộc đảo chính. Họ bao gồm bộ trưởng chiến tranh Jacques Leroy de Saint-Arnaud và các sĩ quan từ Quân đội Pháp ở Bắc Phi để cung cấp hậu thuẫn quân sự cho cuộc đảo chính. Vào đêm ngày 1–2 tháng 12, quân lính của Saint Arnaud đã âm thầm chiếm giữ nhà in quốc gia, Palais Bourbon, các tòa soạn báo và các địa điểm chiến lược trong thành phố. Vào buổi sáng, người dân Paris thấy các áp phích khắp thành phố thông báo về việc giải tán Quốc hội, khôi phục quyền phổ thông đầu phiếu, các cuộc bầu cử mới và tình trạng bao vây ở Paris và các tỉnh lân cận. Mười sáu thành viên của Quốc hội đã bị bắt tại nhà của họ. Khi khoảng 220 đại biểu của phe cánh hữu ôn hòa tập trung tại tòa thị chính của quận 10, họ cũng bị bắt.[46] Vào ngày 3 tháng 12, nhà văn Victor Hugo và một số người cộng hòa khác đã cố gắng tổ chức một cuộc phản đối cuộc đảo chính. Một vài chướng ngại vật xuất hiện, và khoảng 1.000 phiến quân tràn ra đường phố, nhưng quân đội đã hành quân với 30.000 quân và các cuộc nổi dậy nhanh chóng bị dập tắt, với khoảng 300 đến 400 người phản đối cuộc đảo chính bị giết.[47] Cũng có những cuộc nổi dậy nhỏ ở các thị trấn cộng hòa đỏ hiếu chiến hơn ở miền nam và miền trung nước Pháp, nhưng tất cả đều bị dập tắt vào ngày 10 tháng 12.[48]
Sau cuộc tự đảo chính, Louis Napoleon tiến hành một thời kỳ đàn áp những người phản đối, chủ yếu nhắm vào những người cộng hòa đỏ. Khoảng 26.000 người đã bị bắt, trong đó có 4.000 người chỉ riêng ở Paris. 239 tù nhân bị kết án nặng nhất đã bị đưa đến trại giam Cayenne ở Nam Mỹ.[49] 9.530 người bị đưa đến Algérie thuộc Pháp, 1.500 người bị trục xuất khỏi Pháp, và 3.000 người khác bị buộc phải rời khỏi nhà.[50] Ngay sau đó, một ủy ban xét lại đã trả tự do cho 3.500 người trong số những người bị kết án. Năm 1859, 1.800 tù nhân và người lưu vong còn lại được ân xá, ngoại trừ nhà lãnh đạo cộng hòa Ledru-Rollin, người được thả khỏi tù nhưng bị yêu cầu rời khỏi đất nước.[49]
Kiểm duyệt báo chí nghiêm ngặt được ban hành theo sắc lệnh từ ngày 17 tháng 2 năm 1852. Không một tờ báo nào đề cập đến các vấn đề chính trị hoặc xã hội được xuất bản mà không có sự cho phép của chính phủ, tiền phạt được tăng lên và danh sách các vi phạm báo chí được mở rộng. Sau ba lần cảnh cáo, một tờ báo hoặc tạp chí có thể bị đình chỉ hoặc thậm chí đóng cửa vĩnh viễn.[51]
Louis Napoleon muốn chứng minh rằng chính phủ mới của ông có sự ủy thác rộng rãi của nhân dân, vì vậy vào ngày 20–21 tháng 12, một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc đã được tổ chức để hỏi xem cử tri có đồng ý với cuộc đảo chính hay không. Thị trưởng nhiều vùng đe dọa sẽ công bố tên của bất kỳ cử tri nào từ chối bỏ phiếu. Khi được hỏi liệu họ có đồng ý với cuộc đảo chính hay không, 7.439.216 cử tri trả lời có, 641.737 người trả lời không và 1,7 triệu cử tri bỏ phiếu trắng.[52] Tính công bằng và tính hợp pháp của cuộc trưng cầu dân ý ngay lập tức bị những người chỉ trích Louis Napoleon đặt câu hỏi,[53] nhưng Louis Napoleon tin chắc rằng ông đã được trao quyền cai trị công khai.
Sau khi có kết quả, nhiều người đã thách thức tính hợp lệ của một kết quả chênh lệch khó tin như vậy.[53] Một trong những nhà phê bình như vậy là Victor Hugo, người ban đầu ủng hộ Louis Napoleon nhưng đã vô cùng tức giận trước cuộc đảo chính, đã rời đi Brussels vào ngày 11 tháng 12 năm 1851. Ông trở thành người chỉ trích Louis Napoleon gay gắt nhất, từ chối lệnh ân xá được đề nghị cho ông và không trở lại Pháp trong 20 năm.[54]
Tổng thống độc tài và xưng đế
Cuộc trưng cầu dân ý năm 1851 đã trao cho Louis Napoleon quyền sửa đổi hiến pháp. Công việc soạn thảo văn kiện mới bắt đầu vào năm 1852. Văn kiện này chính thức được chuẩn bị bởi một ủy ban gồm 80 chuyên gia, nhưng thực chất lại được soạn thảo bởi một nhóm nhỏ thân cận của Hoàng thân-Tổng thống. Theo hiến pháp mới, Louis Napoleon tự động được tái đắc cử làm tổng thống. Theo Điều Hai, tổng thống giờ đây có thể phục vụ không giới hạn số nhiệm kỳ 10 năm. Ông được trao toàn quyền tuyên chiến, ký kết hiệp ước, thành lập liên minh và ban hành luật. Hiến pháp tái lập quyền phổ thông đầu phiếu của nam giới, đồng thời duy trì Quốc hội, mặc dù thẩm quyền bị hạn chế.[55]
Chính phủ của Louis Napoleon đã áp đặt các biện pháp độc đoán mới để kiểm soát bất đồng chính kiến và làm giảm quyền lực của phe đối lập. Một trong những hành động đầu tiên của ông là trả thù kẻ thù cũ, Vua Louis Philippe I, người đã bỏ tù ông chung thân và qua đời vào năm 1850. Một sắc lệnh ban hành ngày 23 tháng 1 năm 1852 cấm gia đình cựu hoàng gia Orléans sở hữu tài sản ở Pháp và hủy bỏ quyền thừa kế mà ông đã để lại cho các con trước khi lên ngôi.
Lực lượng Vệ binh Quốc gia, với các thành viên đôi khi tham gia các cuộc biểu tình chống chính phủ, đã được tổ chức lại và phần lớn chỉ được sử dụng trong các cuộc diễu hành. Các quan chức chính phủ được yêu cầu mặc đồng phục trong các dịp lễ nghi chính thức. Bộ trưởng Giáo dục được trao quyền sa thải các giáo sư tại các trường đại học và xem xét nội dung các khóa học của họ. Sinh viên tại các trường đại học bị cấm để râu, được coi là biểu tượng của chủ nghĩa cộng hòa.[56]

Một cuộc bầu cử Quốc hội mới đã được tổ chức vào ngày 29 tháng 2 năm 1852. Toàn bộ nguồn lực của chính phủ được sử dụng thay mặt cho các ứng cử viên ủng hộ Hoàng thân-Tổng thống. Trong số tám triệu cử tri đủ điều kiện, 5.200.000 phiếu bầu đã được trao cho các ứng cử viên chính thức và 800.000 phiếu bầu cho các ứng cử viên đối lập. Khoảng một phần ba số cử tri đủ điều kiện đã bỏ phiếu trắng. Quốc hội mới bao gồm một số ít những người phản đối Louis Napoleon, bao gồm 17 người theo chế độ quân chủ, 18 người theo chủ nghĩa bảo thủ, hai người theo chủ nghĩa dân chủ tự do, ba người theo chủ nghĩa cộng hòa và 72 người độc lập.[56]
Mặc dù lúc này nắm giữ toàn bộ quyền lực cai trị trong nước, Louis Napoleon vẫn không bằng lòng với việc là một tổng thống độc tài. Mực trên bản hiến pháp mới, vốn cực kỳ độc tài của ông, vừa mới khô thì ông đã bắt tay vào việc khôi phục đế chế. Sau cuộc bầu cử, Hoàng thân-Tổng thống đã có một chuyến công du toàn quốc đầy thắng lợi. Tại Marseille, ông đã đặt viên đá góc cho một nhà thờ mới, một sàn giao dịch chứng khoán mới và một phòng thương mại. Tại Bordeaux, ngày 9 tháng 10 năm 1852, ông đã có bài phát biểu chính:
Một số người nói Đế chế là chiến tranh. Tôi nói Đế chế là hòa bình. Giống như Hoàng đế, tôi có rất nhiều cuộc chinh phạt phải thực hiện... Giống như ông ấy, tôi muốn... kéo vào dòng sông lớn của quần chúng những dòng chảy phụ thù địch đang tự đánh mất mình mà không mang lại lợi ích gì cho bất kỳ ai. Chúng ta có những vùng đất rộng lớn chưa được khai phá cần canh tác; đường sá cần mở; cảng cần đào; sông ngòi cần được thông thương; kênh đào cần hoàn thiện, mạng lưới đường sắt cần hoàn thiện. Trước Marseille, chúng ta có một vương quốc rộng lớn cần sáp nhập vào Pháp. Chúng ta có tất cả các cảng biển lớn của phương Tây cần kết nối với lục địa châu Mỹ bằng hệ thống giao thông hiện đại, mà chúng ta vẫn còn thiếu. Chúng ta có những tàn tích cần sửa chữa, những vị thần giả cần phá bỏ, những chân lý cần chiến thắng. Đây là cách tôi nhìn nhận Đế chế, nếu Đế chế được tái lập. Đây là những cuộc chinh phạt mà tôi đang cân nhắc, và các bạn xung quanh tôi, những người, giống như tôi, mong muốn lợi ích của đất nước, các bạn là những người lính của tôi.[57]
Édouard Drouyn de Lhuys, hai lần là bộ trưởng ngoại giao của Napoleon III, sau này đã nhận xét rằng, "Hoàng đế có những khát vọng to lớn nhưng năng lực lại hạn chế. Ông ấy muốn làm những điều phi thường nhưng chỉ có thể làm những điều xa hoa".[58]
Khi Louis Napoleon trở về Paris, thành phố được trang hoàng bằng những mái vòm lớn, với những biểu ngữ tuyên bố: "Tặng Napoleon III, hoàng đế". Đáp lại những yêu cầu chính thức về việc trả lại đế chế, Thượng viện đã lên lịch một cuộc trưng cầu dân ý khác vào ngày 21-22 tháng 11 năm 1852 về việc có nên phong Napoleon làm hoàng đế hay không. Sau khi có tới 97% phiếu bầu thuận (7.824.129 phiếu thuận và 253.159 phiếu chống, với hai triệu phiếu trắng), vào ngày 2 tháng 12 năm 1852—đúng một năm sau cuộc đảo chính—Nền Đệ Nhị Cộng hòa Pháp chính thức kết thúc, được thay thế bằng Đệ Nhị Đế chế Pháp.[59] Hoàng thân-Tổng thống Louis Napoleon Bonaparte trở thành Napoleon III, Hoàng đế của nước Pháp. Tên hiệu của ông coi Napoleon II, người chưa bao giờ thực sự cai trị, là một Hoàng đế thực sự (ông đã được công nhận là Hoàng đế trong một thời gian ngắn từ ngày 22 tháng 6 đến ngày 7 tháng 7 năm 1815). Hiến pháp năm 1852 vẫn được giữ nguyên; nó tập trung quá nhiều quyền lực vào tay Napoleon đến mức những thay đổi thực chất duy nhất là thay thế từ "tổng thống" bằng từ "hoàng đế", và chuyển chức vụ này thành cha truyền con nối.
Đệ Nhị Đế chế Pháp
Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và nền kinh tế (1853–1869)
Xây dựng ban đầu
Một trong những ưu tiên hàng đầu của Napoleon III là hiện đại hóa nền kinh tế Pháp, vốn đã tụt hậu rất xa so với Vương quốc Anh và một số nhà nước của Đức. Kinh tế chính trị từ lâu đã là niềm đam mê của Hoàng đế. Khi ở Anh, ông đã đến thăm các nhà máy và ga tàu; trong tù, ông đã nghiên cứu và viết về ngành công nghiệp đường và các chính sách xóa đói giảm nghèo. Ông muốn chính phủ đóng một vai trò chủ động, chứ không phải thụ động, trong nền kinh tế. Năm 1839, ông đã viết: "Chính phủ không phải là một điều xấu tất yếu, như một số người vẫn tuyên bố; thay vào đó, nó là động lực tốt cho toàn bộ cơ thể xã hội".[60] Ông không ủng hộ việc chính phủ can thiệp trực tiếp vào công nghiệp. Thay vào đó, chính phủ đã đóng một vai trò rất tích cực trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho tăng trưởng kinh tế; kích thích thị trường chứng khoán và các ngân hàng đầu tư cung cấp tín dụng; xây dựng đường sắt, cảng, kênh đào và đường bộ; và cung cấp đào tạo và giáo dục. Ông cũng mở cửa thị trường Pháp cho hàng hóa nước ngoài, chẳng hạn như đường sắt từ Anh, buộc ngành công nghiệp Pháp phải trở nên hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn.[61]
Thời kỳ này thuận lợi cho việc mở rộng công nghiệp. Cơn sốt vàng ở California và Úc đã làm tăng nguồn cung tiền tệ của châu Âu. Trong những năm đầu của Đế chế, nền kinh tế cũng được hưởng lợi từ sự trưởng thành của những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số của thời kỳ Phục hưng.[62] Sự tăng giá đều đặn do sự gia tăng nguồn cung tiền tệ đã khuyến khích việc thúc đẩy các công ty và đầu tư vốn.
Từ năm 1852, Napoleon khuyến khích thành lập các ngân hàng mới, chẳng hạn như Crédit Mobilier, ngân hàng này bán cổ phần cho công chúng và cung cấp các khoản vay cho cả khu vực tư nhân và chính phủ. Crédit Lyonnais được thành lập năm 1863 và Société Générale năm 1864. Các ngân hàng này đã cung cấp vốn cho các dự án lớn của Napoleon III, từ đường sắt và kênh đào đến việc tái thiết Paris.
Năm 1851, Pháp chỉ có 3.500 km đường sắt, so với 10.000 km ở Anh và 800 km ở Vương quốc Bỉ, một quốc gia chỉ bằng 1/20 diện tích của Pháp. Chỉ vài ngày sau cuộc đảo chính năm 1851, Bộ trưởng Công chính của Napoléon đã khởi động một dự án xây dựng một tuyến đường sắt quanh Paris, kết nối các tuyến đường sắt độc lập khác nhau đến Paris từ khắp cả nước. Chính phủ đã bảo lãnh các khoản vay để xây dựng các tuyến đường sắt mới và thúc giục các công ty đường sắt hợp nhất. Có 18 công ty đường sắt vào năm 1848 và 6 công ty vào cuối thời kỳ Đế chế. Đến năm 1870, Pháp đã có 20.000 km đường sắt kết nối với các cảng của Pháp và với hệ thống đường sắt của các nước láng giềng, vận chuyển hơn 100 triệu hành khách mỗi năm và vận chuyển các sản phẩm từ các nhà máy thép, mỏ và nhà máy mới của Pháp.[63]
Sự phát triển của tàu hơi nước và công cuộc tái thiết ban đầu ở Paris
Các tuyến vận tải biển mới được thành lập, và các cảng được xây dựng lại ở Marseille và Le Havre, kết nối Pháp bằng đường biển với Hoa Kỳ, Mỹ La Tinh, Bắc Phi và Viễn Đông. Trong thời kỳ Đế chế, số lượng tàu hơi nước đã tăng gấp ba lần, và đến năm 1870, Pháp sở hữu đội tàu biển lớn thứ hai thế giới sau Anh.[64] Napoleon III đã ủng hộ dự án hàng hải vĩ đại nhất thời bấy giờ, đó là việc xây dựng Kênh đào Suez từ năm 1859 đến năm 1869. Dự án kênh đào được tài trợ bằng cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Paris và do cựu nhà ngoại giao Pháp Ferdinand de Lesseps chỉ đạo. Nó được khai trương bởi Hoàng hậu Eugénie với buổi biểu diễn vở opera Aida của Giuseppe Verdi.[65]
Việc tái thiết trung tâm Paris cũng khuyến khích sự mở rộng và đổi mới thương mại. Cửa hàng bách hóa đầu tiên, Le Bon Marché, khai trương tại Paris vào năm 1852, trong một tòa nhà khiêm tốn và phát triển nhanh chóng, doanh thu tăng từ 450.000 franc một năm lên 20 triệu franc. Người sáng lập là Aristide Boucicaut, đã ủy thác xây dựng một tòa nhà kính và sắt mới do Louis-Charles Boileau và Gustave Eiffel thiết kế, khánh thành năm 1869 và trở thành hình mẫu cho các cửa hàng bách hóa hiện đại. Các cửa hàng bách hóa khác nhanh chóng xuất hiện: Au Printemps năm 1865 và La Samaritaine năm 1870. Chúng nhanh chóng được sao chép trên khắp thế giới.[66]
Chương trình của Napoleon cũng bao gồm việc cải tạo đất nông nghiệp và tái trồng rừng. Một dự án như vậy ở tỉnh Gironde đã thoát nước và tái trồng rừng trên 10.000 km2 (3.900 dặm vuông) đất đồng cỏ, tạo ra rừng Landes, rừng thông ven biển lớn nhất châu Âu.
Tái thiết Paris (1854–1870)

Napoleon III bắt đầu chế độ của mình bằng cách khởi động một loạt các dự án công trình công cộng khổng lồ ở Paris, tuyển dụng hàng chục nghìn công nhân để cải thiện vệ sinh, cấp nước và giao thông của thành phố. Để chỉ đạo nhiệm vụ này, ông đã bổ nhiệm Georges-Eugène Haussmann, một tỉnh trưởng mới của Seine, và trao cho ông ta những quyền hạn đặc biệt để xây dựng lại trung tâm thành phố. Ông đã đặt một bản đồ Paris lớn ở vị trí trung tâm trong văn phòng của mình, và ông cùng Haussmann đã lên kế hoạch cho một Paris mới.[67]
Dân số Paris đã tăng gấp đôi kể từ năm 1815, trong khi diện tích của thành phố không hề tăng lên cũng như cấu trúc của những con phố và ngõ hẻm thời trung cổ rất hẹp không hề được phát triển.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của dân số và những người sẽ bị buộc phải rời khỏi trung tâm do việc xây dựng các đại lộ và quảng trường mới, Napoleon đã ban hành một sắc lệnh vào năm 1860 để sáp nhập mười một xã (đô thị) ở ngoại ô Paris và tăng số quận từ 12 lên 20. Paris nhờ đó được mở rộng đến ranh giới hiện đại, ngoại trừ hai công viên thành phố lớn (Bois de Boulogne và Bois de Vincennes) đã trở thành một phần của thủ đô nước Pháp vào năm 1920.
Trong suốt thời kỳ trị vì của Napoleon III và một thập kỷ sau đó, phần lớn Paris là một công trường xây dựng khổng lồ. Kỹ sư trưởng thủy lực của ông, Eugène Belgrand, đã xây dựng một đường ống dẫn nước mới để dẫn nước sạch từ sông Vanne ở vùng Champagne, và một hồ chứa nước khổng lồ mới gần Công viên Montsouris tương lai. Hai công trình này đã tăng nguồn cung cấp nước cho Paris từ 87.000 lên 400.000 mét khối nước mỗi ngày.[68] Hàng trăm km đường ống phân phối nước khắp thành phố, và một mạng lưới thứ hai, sử dụng nguồn nước kém sạch hơn từ sông Ourcq và sông Seine, đã rửa sạch đường phố và tưới tiêu cho công viên và khu vườn mới. Ông đã xây dựng lại hoàn toàn hệ thống cống rãnh Paris và lắp đặt hàng dặm đường ống để phân phối khí cho hàng ngàn đèn đường mới dọc theo các con phố Paris.[69]
Bắt đầu từ năm 1854, tại trung tâm thành phố, các công nhân của Haussmann đã phá bỏ hàng trăm tòa nhà cũ và xây dựng những đại lộ mới để kết nối các điểm trung tâm của thành phố. Các tòa nhà dọc theo những đại lộ này được yêu cầu phải có cùng chiều cao, được xây dựng theo phong cách kiến trúc tương tự, và được ốp đá màu kem để tạo nên diện mạo đặc trưng của các đại lộ Paris.
Hoàng đế đã cho xây dựng hai nhà ga đường sắt mới: Ga Lyon (1855) và Ga du Nord (1865). Ông đã hoàn thành Les Halles, khu chợ nông sản lớn bằng gang và kính ở trung tâm thành phố, và xây dựng một bệnh viện thành phố mới, Hôtel-Dieu de Paris, thay thế cho những tòa nhà thời trung cổ đổ nát trên đảo Ile de la Cité. Điểm nhấn kiến trúc đặc trưng là Nhà hát Opera Paris, nhà hát lớn nhất thế giới, do Charles Garnier thiết kế để tôn vinh trung tâm Paris mới của Napoleon.[70]
Napoleon cũng muốn xây dựng các công viên và vườn mới để người dân Paris giải trí và thư giãn, đặc biệt là những người ở các khu phố mới của thành phố đang mở rộng.[71] Các công viên mới của Napoleon được lấy cảm hứng từ ký ức của ông về các công viên ở London, đặc biệt là Công viên Hyde, nơi ông đã đi dạo và dạo chơi trên xe ngựa khi sống lưu vong; nhưng ông muốn xây dựng ở quy mô lớn hơn nhiều. Làm việc với Haussmann và Adolphe Alphand, kỹ sư đứng đầu Sở Đường dạo bộ và Đồn điền mới, ông đã vạch ra kế hoạch cho bốn công viên lớn tại các điểm chính của la bàn xung quanh thành phố. Hàng ngàn công nhân và người làm vườn bắt đầu đào hồ, xây dựng thác nước, trồng cỏ, luống hoa và cây xanh, và xây dựng các nhà gỗ và hang động. Napoleon III đã biến Bois de Boulogne thành một công viên ở phía tây Paris. Về phía đông, ông cho xây dựng Bois de Vincennes, và về phía bắc là Công viên Buttes-Chaumont. Công viên Montsouris được xây dựng ở phía nam.[71]
Ngoài việc xây dựng bốn công viên lớn, Napoleon còn cho cải tạo và trồng lại cây xanh cho các công viên cũ của thành phố, bao gồm Công viên Monceau, trước đây thuộc sở hữu của gia đình Orléans, và Vườn Luxembourg. Ông cũng cho xây dựng khoảng 20 công viên và vườn nhỏ trong các khu phố như những phiên bản thu nhỏ của các công viên lớn của mình. Alphand gọi những công viên nhỏ này là "những salon xanh và hoa". Ý định của Napoleon trong kế hoạch này là mỗi khu phố trong số 80 "khu phố" (khu phố) của Paris sẽ có một công viên, sao cho không ai ở cách công viên đó quá mười phút đi bộ. Các công viên này đã ngay lập tức tiếp cận thành công với mọi tầng lớp người dân Paris.[72]
Tìm kiếm một người vợ

Ngay sau khi lên ngôi hoàng đế, Napoleon III bắt đầu tìm kiếm một người vợ để sinh cho mình một người thừa kế. Ông vẫn gắn bó với người bạn tình lâu năm Harriet Howard, người đã tham dự các buổi tiệc chiêu đãi tại Điện Élysée và du ngoạn khắp nước Pháp cùng ông. Napoleon lặng lẽ cử một phái đoàn ngoại giao đến tiếp cận gia đình Thân vương nữ Carola xứ Vasa, cháu gái của Vua Gustav IV Adolf của Thụy Điển bị phế truất. Họ đã từ chối vì ông theo đạo Công giáo và tình hình chính trị bất ổn về tương lai của ông, cũng như gia đình Thân vương nữ Adelheid xứ Hohenlohe-Langenburg, cháu gái của Nữ hoàng Victoria.
Hoàng đế phải lòng một nữ quý tộc Tây Ban Nha 23 tuổi, Eugénie du Derje de Montijo. Cô được học hành phần lớn ở Paris. Vẻ đẹp của cô đã thu hút Napoleon III, và theo thói quen, ông đã cố gắng quyến rũ cô, nhưng Eugénie bảo ông hãy đợi đến khi kết hôn. Lễ cưới dân sự được tổ chức tại Cung điện Tuileries vào ngày 22 tháng 1 năm 1853, và một buổi lễ long trọng hơn nhiều được tổ chức vài ngày sau đó tại Nhà thờ Đức Bà Paris. Năm 1856, Eugénie sinh hạ một hoàng tử và là người thừa kế tương lai, Napoléon, Thái tử hoàng gia.[73]
Sau khi đã có người thừa kế ngai vàng, Napoléon lại tiếp tục những cuộc "vui chơi nhỏ nhặt" với những người phụ nữ khác. Eugénie trung thành thực hiện nhiệm vụ của một hoàng hậu, chiêu đãi khách khứa và tháp tùng Hoàng đế đến các buổi khiêu vũ, opera và nhà hát. Bà đã đến Ai Cập để khánh thành Kênh đào Suez và chính thức đại diện cho ông mỗi khi ông ra nước ngoài.
Mặc dù là một người Công giáo sùng đạo và bảo thủ trong nhiều vấn đề khác, Eugénie vẫn hết sức ủng hộ bình đẳng cho phụ nữ. Bà đã gây áp lực buộc Bộ Giáo dục Quốc gia trao bằng tú tài đầu tiên cho một phụ nữ và đã cố gắng nhưng không thành công để thuyết phục Viện hàn lâm Pháp bầu nhà văn George Sand làm viện sĩ nữ đầu tiên của viện.[74]
Chính sách đối ngoại (1852–1860)
Về chính sách đối ngoại, Napoléon III đặt mục tiêu tái khẳng định ảnh hưởng của Pháp ở châu Âu và trên toàn thế giới với tư cách là người ủng hộ chủ quyền của nhân dân và chủ nghĩa dân tộc.[75] Tại châu Âu, ông liên minh với Anh và đánh bại Nga trong Chiến tranh Krym (1854–1856). Quân đội Pháp đã hỗ trợ thống nhất nước Ý bằng cách chiến đấu bên cạnh Vương quốc Sardegna. Đổi lại, Pháp nhận được Savoy và Bá quốc Nice vào năm 1860. Tuy nhiên, sau đó, để xoa dịu những người Công giáo nhiệt thành ở Pháp, ông đã cử quân đội đến bảo vệ Lãnh địa Giáo hoàng trước sự thôn tính của Ý.[76][77]
Nguyên tắc các dân tộc

Trong một bài phát biểu tại Bordeaux ngay sau khi lên ngôi Hoàng đế, Napoléon III đã tuyên bố rằng "Đế chế đồng nghĩa với hòa bình" ("L'Empire, c'est la paix"), trấn an các chính phủ nước ngoài rằng ông sẽ không tấn công các cường quốc châu Âu khác để mở rộng Đế chế Pháp. Tuy nhiên, ông quyết tâm theo đuổi một chính sách đối ngoại mạnh mẽ nhằm mở rộng ảnh hưởng của Pháp và cảnh báo rằng ông sẽ không đứng nhìn và cho phép một cường quốc châu Âu khác đe dọa nước láng giềng của mình.
Vào đầu triều đại của mình, ông cũng là người ủng hộ một "nguyên tắc các dân tộc" mới (principe des nationalités) ủng hộ việc thành lập các quốc gia mới dựa trên dân tộc, chẳng hạn như Ý, thay thế cho các đế chế đa quốc gia cũ, chẳng hạn như chế độ quân chủ Habsburg (hay Đế quốc Áo, được biết đến từ năm 1867 với tên gọi Áo-Hung). Về điều này, ông chịu ảnh hưởng từ chính sách của người bác mình, như được mô tả trong Đài tưởng niệm Sainte-Hélène. Trong tất cả các dự án chính sách đối ngoại của mình, ông luôn đặt lợi ích của nước Pháp lên hàng đầu. Napoleon III cảm thấy rằng các quốc gia mới được thành lập trên cơ sở bản sắc dân tộc sẽ trở thành đồng minh và đối tác tự nhiên của Pháp.[78]
Liên minh với Anh và Chiến tranh Crimea (1853–1856)
Với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao Anh và sau này là Thủ tướng, Lãnh chúa Palmerston có mối quan hệ cá nhân thân thiết với các chính khách hàng đầu của Pháp, đặc biệt là Napoleon III. Mục tiêu của Palmerston là thiết lập quan hệ hòa bình với Pháp để Anh có thể rảnh tay ngoại giao ở những nơi khác trên thế giới.[79] Ban đầu, Napoleon có chính sách đối ngoại thân Anh và không muốn làm mất lòng chính phủ Anh, những người mà ông coi tình hữu nghị là quan trọng đối với Pháp. Sau một mối đe dọa ngắn ngủi về việc xâm lược Anh vào năm 1851, Pháp và Anh đã hợp tác trong những năm 1850 với một liên minh trong Chiến tranh Krym và một hiệp ước thương mại quan trọng vào năm 1860.[80]
Tuy nhiên, báo chí vẫn liên tục thổi phồng những lo ngại về chiến tranh. John Delane, biên tập viên của tờ The Times, đã đến thăm Pháp vào tháng 1 năm 1853 và rất ấn tượng trước sự chuẩn bị quân sự của nước này. Ông bày tỏ niềm tin rằng "Louis-Napoleon đã quyết tâm theo đuổi một chính sách đối ngoại tiến bộ".[81] Napoleon III thực sự quyết tâm tăng cường sức mạnh hải quân của đất nước. Chiếc thiết giáp hạm chạy bằng hơi nước đầu tiên được chế tạo chuyên dụng (được đặt tên theo Napoleon I một cách đáng lo ngại) đã được hạ thủy vào năm 1850, và hệ thống phòng thủ của Cherbourg đã được củng cố. Điều này dẫn đến việc mở rộng đê chắn sóng Alderney và xây dựng Pháo đài Clonque.[82]
Ngay từ khi thành lập Đế chế, Napoleon III đã tìm kiếm một liên minh với Anh. Ông đã sống lưu vong ở đó và coi Anh là đối tác tự nhiên trong các dự án mà ông muốn thực hiện. Một cơ hội đã sớm xuất hiện: Đầu năm 1853, Sa hoàng Nikolai I của Nga đã gây áp lực lên chính phủ Ottoman yếu kém, yêu cầu họ trao cho Nga quyền bảo hộ đối với người Cơ đốc giáo ở Balkan cũng như quyền kiểm soát Constantinople và Dardanelles. Đế chế Ottoman, được Anh và Pháp hậu thuẫn, đã từ chối yêu cầu của Nga, và một hạm đội chung Anh-Pháp đã được gửi đến để hỗ trợ Đế chế Ottoman. Khi Nga từ chối rời khỏi các Công quốc Danube mà họ đã chiếm đóng, Anh và Pháp đã tuyên chiến vào ngày 27 tháng 3 năm 1854.[83]
Pháp và Anh mất sáu tháng để tổ chức một cuộc viễn chinh quân sự quy mô lớn đến Biển Đen. Hạm đội Anh-Pháp đã đổ bộ 30 nghìn quân Pháp và 20 nghìn quân Anh lên bán đảo Krym vào ngày 14 tháng 9 và bắt đầu bao vây cảng Sevastopol quan trọng của Nga. Khi cuộc bao vây kéo dài, quân đội Pháp và Anh được tăng cường và quân đội từ Vương quốc Sardegna cũng tham gia, đạt tổng cộng 140.000 quân, nhưng họ đã phải chịu đựng rất nhiều dịch bệnh sốt phát ban, kiết lỵ và dịch tả. Trong suốt 332 ngày bao vây, quân Pháp đã mất 95.000 binh sĩ, trong đó có 75.000 người do bệnh tật. Nỗi đau khổ của quân đội ở Krym đã được che giấu cẩn thận khỏi công chúng Pháp bằng kiểm duyệt báo chí.[84]
Cái chết của Sa hoàng Nikolas I vào ngày 2 tháng 3 năm 1855 và việc ông được thay thế bởi Alexander II đã làm thay đổi cán cân chính trị. Vào tháng 9, sau một cuộc pháo kích dữ dội, quân đội Anh-Pháp gồm 50 nghìn người đã tấn công các vị trí của Nga, và quân Nga buộc phải sơ tán khỏi Sevastopol. Alexander II đã tìm kiếm một giải pháp chính trị, và các cuộc đàm phán đã được tổ chức tại Paris trong tòa nhà mới của Bộ Ngoại giao Pháp trên Quai d'Orsay, từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 8 tháng 4 năm 1856.[83]
Chiến tranh Krym đã bổ sung thêm ba địa danh mới cho Paris: Alma, được đặt theo tên chiến thắng đầu tiên của Pháp trên dòng sông cùng tên; Sevastopol; và Malakoff, được đặt theo tên một tòa tháp ở trung tâm phòng tuyến của Nga bị quân Pháp chiếm giữ. Cuộc chiến đã mang lại hai hệ quả ngoại giao quan trọng: Alexander II trở thành đồng minh của Pháp, và Anh và Pháp đã hòa giải. Vào tháng 4 năm 1855, Napoleon III và Eugénie đến Anh và được Nữ hoàng tiếp đón; đến lượt mình, Victoria và Thân vương Albert đã đến thăm Paris. Victoria là quốc vương Anh đầu tiên làm như vậy sau nhiều thế kỷ.[85]
Thất bại của Nga và liên minh với Anh đã mang lại cho Pháp quyền lực và uy tín ngày càng tăng ở châu Âu. Đây là cuộc chiến tranh đầu tiên giữa các cường quốc châu Âu kể từ khi Chiến tranh Napoléon và Đại hội Viên kết thúc, đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống liên minh đã duy trì hòa bình trong gần nửa thế kỷ. Cuộc chiến cũng chính thức chấm dứt Hiệp ước Hòa bình Châu Âu và Liên minh Tứ cường, hay "Liên minh Waterloo", mà bốn cường quốc còn lại (Nga, Phổ, Áo và Anh) đã thiết lập. Hội nghị Hòa bình Paris năm 1856 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong chính sách đối ngoại của Napoleon.[86] Hội nghị này đã khuyến khích Napoleon III thực hiện một chính sách đối ngoại táo bạo hơn nữa ở Ý.[87]
Chiến dịch Ý
Giai đoạn đầu
Tối ngày 14 tháng 1 năm 1858, Napoléon III và vợ mình đã thoát khỏi một vụ ám sát nghiêm trọng mà không để lại vết thương nào. Một nhóm âm mưu đã ném ba quả bom vào cỗ xe ngựa của hoàng gia khi nó đang trên đường đến nhà hát opera. Tám thành viên trong đoàn hộ tống và những người chứng kiến đã thiệt mạng và hơn một trăm người bị thương. Những kẻ chủ mưu đã nhanh chóng bị bắt giữ. Kẻ cầm đầu là một người theo chủ nghĩa dân tộc Ý, Felice Orsini, được hỗ trợ bởi một bác sĩ phẫu thuật người Pháp Simon François Bernard. Họ tin rằng nếu Napoléon III bị giết, một cuộc nổi dậy của phe cộng hòa sẽ ngay lập tức nổ ra ở Pháp và chính phủ cộng hòa mới sẽ giúp tất cả các bang của Ý giành độc lập từ Áo và đạt được sự thống nhất quốc gia. Bernard lúc đó đang ở London. Vì ông là người lưu vong chính trị, Chính phủ Vương quốc Anh đã từ chối dẫn độ ông, nhưng Orsini đã bị xét xử, kết án và hành quyết vào ngày 13 tháng 3 năm 1858. Vụ đánh bom đã thu hút sự chú ý của Pháp, đặc biệt là Napoléon III, vào vấn đề chủ nghĩa dân tộc Ý.[88]
Một phần của Ý, đặc biệt là Vương quốc Sardegna được Vương tộc Savoia cai trị một cách độc lập, nhưng miền Trung bán đảo Ý vẫn do Giáo hoàng (vào thời kỳ này là Giáo hoàng Piô IX) cai trị, trong khi Lombardy, Venice và phần lớn miền Bắc do Đế chế Áo cai trị dưới hình thức liên minh cá nhân. Các nhà nước khác độc lập trên danh nghĩa (đáng chú ý là Công quốc Parma và Đại công quốc Toscana) nhưng trên thực tế hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Áo vì các vương tộc này đều thuộc chi nhánh triều đại Habsburg-Lorraine cai trị. Napoleon III đã cùng những người yêu nước Ý chiến đấu chống lại người Áo khi còn trẻ và ông có thiện cảm với họ, nhưng Hoàng hậu Eugene, phần lớn chính phủ của ông và Giáo hội Công giáo Pháp lại ủng hộ Giáo hoàng và các chính phủ đương nhiệm. Chính phủ Anh cũng phản đối ý tưởng thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc ở Ý. Bất chấp sự phản đối trong chính phủ, Napoleon III đã làm tất cả những gì có thể để ủng hộ sự nghiệp của Piedmont-Sardegna. Vua của Piedmont-Sardegna, Victor Emmanuel II, được mời đến Paris vào tháng 11 năm 1855 và được đối xử trọng thị như cách triều đình Pháp tiếp đón Nữ hoàng Victoria của Anh.
Bá tước xứ Cavour, Thủ tướng của Piedmont-Sardegna, đã đến Paris cùng Nhà vua và một sứ giả khác trong nỗ lực giành được sự ủng hộ của Napoleon III: người em họ trẻ tuổi của ông, Virginia Oldoini, Bá tước phu nhân xứ Castiglione (1837–1899). Đúng như Cavour hy vọng, bà đã lọt vào mắt xanh của Hoàng đế và trở thành tình nhân của ông. Từ năm 1855 đến năm 1857, bà đã tận dụng cơ hội này để truyền đạt thông điệp và biện hộ cho sự nghiệp thống nhất Ý của triều đình Sardegna.[89]
Vào tháng 7 năm 1858, Napoleon đã sắp xếp một chuyến thăm bí mật của Bá tước xứ Cavour. Trong Hiệp định Plombières, họ đã đồng ý hợp lực và đánh đuổi quân Áo khỏi Ý. Đổi lại, Napoleon III yêu cầu có được lãnh thổ của Công quốc Savoy (vùng đất tổ tiên của Vua Piedmont-Sardegna) và Bá quốc Nice, trước đó đã bị Pháp chiếm sau khi Napoleon sụp đổ năm 1815 và được trả lại cho Piedmont-Sardegna. Cavour phản đối và ông nói rằng Nice là của Ý, nhưng Napoleon đáp lại rằng "đây là những vấn đề thứ yếu. Sẽ có thời gian để thảo luận sau".[90]
Được Napoleon III đảm bảo về sự ủng hộ, Bá tước Cavour bắt đầu chuẩn bị Quân đội Hoàng gia Sardegna cho cuộc chiến chống lại Áo. Napoleon III tìm kiếm sự hỗ trợ ngoại giao. Ông đã tiếp cận Lãnh chúa xứ Derby (Thủ tướng Vương quốc Anh) và chính phủ của ông này; Anh phản đối chiến tranh, nhưng đồng ý giữ thái độ trung lập. Vẫn gặp phải sự phản đối mạnh mẽ trong chính phủ của mình, Napoleon III đề nghị đàm phán một giải pháp ngoại giao với Hoàng đế Franz Joseph I của Áo, lúc đó mới 28 tuổi, vào mùa xuân năm 1858. Người Áo yêu cầu giải giáp Piedmont-Sardegna trước và gửi 30.000 quân đến tăng cường cho các đơn vị đồn trú của họ ở Ý. Napoleon III đáp lại vào ngày 26 tháng 1 năm 1859 bằng cách ký một hiệp ước liên minh với Piedmont-Sardegna. Napoleon hứa sẽ gửi 200.000 quân đến hỗ trợ 100.000 quân từ Piedmont-Sardegna để buộc quân Áo phải rời khỏi miền Bắc bán đảo Ý; đổi lại, Pháp sẽ nhận được Bá quốc Nice và Công quốc Savoy với điều kiện người dân của họ đồng ý trong một cuộc trưng cầu dân ý.[91]
Hoàng đế Franz Joseph, ngày càng mất kiên nhẫn, cuối cùng đã phát động chiến tranh. Vào ngày 23 tháng 4 năm 1859, ông đã gửi tối hậu thư cho chính quyền Piedmont-Sardegna, yêu cầu họ ngừng chuẩn bị quân sự và giải tán quân đội. Ngày 26 tháng 4, Bá tước Cavour bác bỏ các yêu cầu này, và ngày 27 tháng 4, quân đội Áo xâm lược Piedmont.
Đế chế hải ngoại

Năm 1862, Napoleon III đã gửi quân đến Mexico trong nỗ lực thiết lập một chế độ quân chủ đồng minh ở châu Mỹ, đưa Đại công tước Ferdinand Maximilian của Áo lên ngôi với đế hiệu là Maximilian I. Tuy nhiên, Đệ Nhị Đế chế México đã phải đối mặt với sự kháng cự quyết liệt từ chính phủ cộng hòa của Tổng thống Benito Juárez. Sau chiến thắng trong Nội chiến Hoa Kỳ năm 1865, Hoa Kỳ đã nói rõ rằng quân Pháp sẽ phải rời đi. Hoa Kỳ đã gửi 50.000 quân dưới quyền Tướng Philip H. Sheridan đến Biên giới México–Hoa Kỳ và giúp tiếp tế cho Juárez. Quân đội của Napoleon III bị dàn trải rất mỏng; ông đã cam kết 40.000 quân đến Mexico, 20.000 quân đến Rome để bảo vệ Giáo hoàng chống lại những người Ý có âm mưu thống nhất bán đảo, cũng như 80.000 quân khác đồn trú ở Algeria bất ổn. Hơn nữa, Vương quốc Phổ, vừa đánh bại Áo trong Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866, là một mối đe dọa sắp xảy ra. Napoleon III nhận ra tình thế khó khăn của mình và rút quân khỏi Mexico vào năm 1866. Maximilian bị lật đổ và xử bắng dù chính phủ cộng hoà đã nhận được nhiều lá thư của các nhân vật nổi tiếng đương thời xin ân xá cho hoàng đế, trong đó có lời thỉnh cầu của Victor Hugo và Giuseppe Garibaldi.[94][95]
Napoleon III cũng ủng hộ một dự án thành lập một vương quốc Ả Rập ở Algeria, liên kết với Pháp, chỉ dựa trên yếu tố văn hóa Ả Rập, gây bất lợi cho các quốc gia khác (Berber, v.v.).[96]
Ở Đông Nam Á, Napoleon III thành công hơn trong việc thiết lập quyền kiểm soát bằng một chiến dịch quân sự hạn chế tại một thời điểm. Trong Chiến dịch Nam Kỳ, ông đã chiếm được Nam Kỳ (phần cực nam của Việt Nam ngày nay, bao gồm cả Sài Gòn) vào năm 1862. Năm 1863, ông thiết lập chế độ bảo hộ đối với Campuchia. Ngoài ra, Pháp còn có phạm vi ảnh hưởng trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ở miền Nam Trung Quốc, bao gồm một căn cứ hải quân tại Vịnh Quảng Châu (Quảng Châu Loan).[97] Một cuộc viễn chinh của Pháp tới Triều Tiên cũng được tiến hành để đáp trả vụ sát hại các nhà truyền giáo Pháp, mặc dù cuộc viễn chinh này đã thất bại.
Theo thông tin được cung cấp cho Abdón Cifuentes vào năm 1870, khả năng can thiệp có lợi cho Vương quốc Araucanía và Patagonia chống lại Chile đã được thảo luận trong Hội đồng Nhà nước của Napoleon.[98] Năm 1870, thiết giáp hạm D'Entrecasteaux của Pháp neo đậu tại Corral, Chile khiến Cornelio Saavedra Rodríguez nghi ngờ về một số loại can thiệp của Pháp vào việc chiếm đóng đang diễn ra trên vùng đất của người Mapuche.[99] Một lô hàng vũ khí đã bị chính quyền Argentina tịch thu tại Buenos Aires vào năm 1871, theo báo cáo thì lô hàng này của Orélie-Antoine de Tounens, người được gọi là Vua của Araucanía và Patagonia.[99]
Cuộc sống tại triều đình của Napoleon III
Theo gương các vị vua Pháp và chú của mình là Napoleon Bonaparte, Napoleon III đã chuyển nơi ở chính thức của mình đến Cung điện Tuileries, nơi ông có một dãy phòng ở tầng trệt của cánh phía nam giữa sông Seine và Pavillon de l'Horloge, hướng ra khu vườn.
Phòng ngủ của Napoleon III được trang trí bằng một bùa hộ mệnh của Charlemagne (một biểu tượng may mắn cho gia đình Bonaparte), trong khi văn phòng của ông có một bức chân dung Julius Caesar của Ingres và một tấm bản đồ lớn của Paris mà ông dùng để trình bày ý tưởng tái thiết Paris cho tỉnh trưởng vùng Seine, Nam tước Georges-Eugène Haussmann. Các phòng của Hoàng đế quá nóng và đầy khói thuốc, vì ông hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Hoàng hậu ở trong một dãy phòng ngay phía trên phòng của ông, được trang trí rất cầu kỳ theo phong cách Louis XVI với một phòng khách màu hồng, một phòng khách màu xanh lá cây và một phòng khách màu xanh lam.[100]
Triều đình di chuyển cùng Hoàng đế và Hoàng hậu từ cung điện này sang cung điện khác mỗi năm theo một lịch trình đều đặn. Đầu tháng 5, Hoàng đế và triều đình chuyển đến Lâu đài Saint-Cloud để tham gia các hoạt động ngoài trời trong công viên. Vào tháng 6 và tháng 7, họ cùng với những vị khách được chọn chuyển đến Cung điện Fontainebleau để đi dạo trong rừng và chèo thuyền trên hồ. Vào tháng 7, triều đình chuyển đến các suối nước nóng để chữa bệnh, đầu tiên là Plombières, sau đó đến Vichy, và sau năm 1856, đến trại quân sự và dinh thự được xây dựng tại Châlons-sur-Marne (ngày nay là Châlons-en-Champagne), nơi Napoleon có thể tắm nước khoáng và xem các cuộc diễu binh và diễn tập quân sự. Bắt đầu từ năm 1856, Hoàng đế và Hoàng hậu dành mỗi tháng 9 ở Biarritz tại Villa Eugénie, một biệt thự lớn nhìn ra biển.[101] Họ sẽ đi dạo trên bãi biển hoặc đi đến vùng núi, và vào buổi tối, họ sẽ khiêu vũ, ca hát, chơi bài và tham gia các trò chơi khác, các buổi biểu diễn kịch nghiệp dư và trò chơi đoán chữ với khách của họ. Vào tháng 11, triều đình chuyển đến Lâu đài Compiègne để đi dạo trong rừng, khiêu vũ và chơi các trò chơi khác. Các nhà khoa học và nghệ sĩ nổi tiếng, như Louis Pasteur, Gustave Flaubert, Eugène Delacroix và Giuseppe Verdi, được mời tham gia các lễ hội tại Compiègne.[102]
Vào cuối năm, Hoàng đế và triều đình trở về Cung điện Tuileries và tổ chức một loạt các buổi tiếp đón trang trọng và ba hoặc bốn buổi dạ hội lớn với sáu trăm khách mời vào đầu năm mới. Các chức sắc và quốc vương đến thăm thường xuyên được mời. Trong Lễ hội Carnival, có một loạt các buổi dạ hội hóa trang rất công phu theo chủ đề của các quốc gia và thời kỳ lịch sử khác nhau, mà khách mời đôi khi đã chi những khoản tiền lớn cho trang phục của họ.
Nghệ thuật thị giác
Napoléon III có gu thẩm mỹ bảo thủ và truyền thống trong nghệ thuật: những họa sĩ yêu thích của ông là Alexandre Cabanel và Franz Xaver Winterhalter, những người nhận được nhiều đơn đặt hàng lớn và tác phẩm của họ được mua cho các bảo tàng nhà nước. Đồng thời, ông cũng tuân theo dư luận và có đóng góp quan trọng cho trào lưu nghệ thuật tiên phong của Pháp. Năm 1863, ban giám khảo của Salon Paris, triển lãm thường niên nổi tiếng về hội họa Pháp, do giám đốc cực kỳ bảo thủ của Học viện Mỹ thuật, Bá tước Émilien de Nieuwerkerke đứng đầu, đã từ chối tất cả các tác phẩm dự thi của các nghệ sĩ tiên phong, bao gồm cả Édouard Manet, Camille Pissarro và Johan Jongkind. Các nghệ sĩ và bạn bè của họ đã phàn nàn, và những lời phàn nàn này đã đến tai Napoléon III. Văn phòng của ông đã đưa ra một tuyên bố: "Nhiều lời phàn nàn đã được gửi đến Hoàng đế về vấn đề các tác phẩm nghệ thuật bị ban giám khảo của Triển lãm từ chối. Bệ hạ, mong muốn để công chúng đánh giá tính hợp pháp của những lời phàn nàn này, đã quyết định rằng các tác phẩm nghệ thuật bị từ chối nên được trưng bày ở một phần khác của Palais de l'Industrie".[103]
Theo sắc lệnh của Napoleon, một cuộc triển lãm các bức tranh bị từ chối, được gọi là Salon des Refusés, đã được tổ chức ở một phần khác của Palais de l'Industrie, nơi diễn ra Salon. Hơn một nghìn khách tham quan mỗi ngày đã đến xem những bức tranh hiện nay đã nổi tiếng như Le Déjeuner sur l'herbe của Édouard Manet và Symphony in White, No. 1: The White Girl của James McNeill Whistler. [104] Nhà báo Émile Zola đã tường thuật rằng khách tham quan chen lấn để vào các phòng trưng bày đông đúc nơi treo những bức tranh bị từ chối, và các căn phòng tràn ngập tiếng cười và những lời bình luận chế giễu của nhiều khán giả. Mặc dù các bức tranh bị nhiều nhà phê bình và du khách chế giễu, nhưng tác phẩm của trường phái tiên phong lần đầu tiên được công chúng Pháp biết đến và chiếm vị trí bên cạnh phong cách hội họa truyền thống hơn.[105]
Napoleon III cũng bắt đầu hoặc hoàn thành việc phục hồi một số di tích lịch sử quan trọng, do Eugène Viollet-le-Duc thực hiện cho ông. Ông đã phục hồi ngọn tháp của Nhà thờ Đức Bà Paris, vốn đã bị phá hủy một phần và bị xúc phạm trong Cách mạng Pháp. Năm 1855, ông hoàn thành việc phục hồi, bắt đầu từ năm 1845, các cửa sổ kính màu của Nhà thờ Sainte-Chapelle, và năm 1862, ông tuyên bố đây là di tích lịch sử quốc gia. Năm 1853, ông đã phê duyệt và cung cấp kinh phí cho việc phục hồi thị trấn thời trung cổ Carcassonne của Viollet-le-Duc. Ông cũng tài trợ cho việc phục hồi Lâu đài Vincennes và Lâu đài Pierrefonds của Viollet-le-Duc. Năm 1862, ông đóng cửa nhà tù từng chiếm giữ Tu viện Mont-Saint-Michel kể từ Cách mạng Pháp, nơi giam giữ nhiều tù nhân chính trị quan trọng, để có thể trùng tu và mở cửa cho công chúng tham quan.
Chính sách kinh tế xã hội
Chính sách xã hội và cải cách
Ngay từ đầu triều đại của mình, Napoléon III đã khởi xướng một loạt cải cách xã hội nhằm cải thiện đời sống của giai cấp công nhân. Ông bắt đầu với những dự án nhỏ, chẳng hạn như mở hai phòng khám ở Paris cho công nhân ốm đau và bị thương, một chương trình hỗ trợ pháp lý cho những người không đủ khả năng chi trả, cũng như trợ cấp cho các công ty xây dựng nhà ở giá rẻ cho công nhân của họ. Ông đã cấm việc chủ sử dụng lao động chiếm giữ hoặc ghi chú vào giấy tờ lao động mà mỗi nhân viên bắt buộc phải mang theo; những ghi chú tiêu cực đồng nghĩa với việc công nhân không thể tìm được việc làm khác. Năm 1866, ông khuyến khích việc thành lập một quỹ bảo hiểm nhà nước để giúp đỡ công nhân hoặc nông dân bị tàn tật và giúp đỡ các góa phụ và gia đình của họ.[106]
Để giúp đỡ giai cấp công nhân, Napoléon III đã trao giải thưởng cho bất kỳ ai có thể phát triển một chất thay thế bơ rẻ tiền; giải thưởng đã thuộc về nhà hóa học người Pháp Hippolyte Mège-Mouriès, người đã đăng ký bằng sáng chế cho một sản phẩm mà ông đặt tên là oleomargarine vào năm 1869, sau này được rút gọn thành margarine.[107]
Napoleon III và chính quyền của ông đã ban hành luật kiểm duyệt truyền thông đáng kể, nhắm vào các bức tranh biếm họa chính trị như của Honoré Daumier.[108]
Quyền đình công và tổ chức (1864–1866)
Cải cách xã hội quan trọng nhất của ông là luật năm 1864, luật này trao cho công nhân Pháp quyền đình công, điều đã bị cấm từ năm 1810. Năm 1866, ông bổ sung thêm "Sắc lệnh Khoan dung" trao cho công nhân nhà máy quyền tổ chức. Ông ban hành một sắc lệnh quy định việc đối xử với người học việc và giới hạn giờ làm việc vào Chủ nhật và ngày lễ. Ông đã loại bỏ khỏi Bộ luật Napoléon điều khoản 1781 khét tiếng, trong đó nói rằng lời khai của chủ lao động, ngay cả khi không có bằng chứng, sẽ được tòa án coi trọng hơn lời nói của người lao động.[109]
Giáo dục cho trẻ em gái và phụ nữ, cải cách trường học (1861–1869)
Napoleon III và Hoàng hậu Eugénie đã nỗ lực để tạo điều kiện tiếp cận giáo dục công lập rộng rãi hơn cho trẻ em gái và phụ nữ. Năm 1861, thông qua sự can thiệp trực tiếp của Hoàng đế và Hoàng hậu, Julie-Victoire Daubié trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Pháp nhận được bằng tú tài.[110] Năm 1862, trường dạy nghề đầu tiên dành cho nữ sinh được mở cửa, và Madeleine Brès trở thành người phụ nữ đầu tiên ghi danh vào Khoa Y tại Đại học Paris.
Năm 1863, ông bổ nhiệm Victor Duruy, con trai của một công nhân nhà máy và là một nhà sử học được kính trọng, làm Bộ trưởng Giáo dục Công cộng mới. Duruy đã đẩy nhanh tốc độ cải cách, thường xuyên xung đột với Giáo hội Công giáo, vốn muốn giữ quyền kiểm soát giáo dục. Bất chấp sự phản đối của Giáo hội, Duruy đã mở các trường học cho nữ sinh ở mỗi xã có hơn 500 cư dân, tổng cộng 800 trường học mới được mở.[111]
Từ năm 1863 đến năm 1869, Duruy đã thành lập các thư viện học thuật cho 15.000 trường học và yêu cầu các trường tiểu học phải cung cấp các khóa học về lịch sử và địa lý. Các trường trung học bắt đầu dạy triết học, môn học đã bị cấm bởi chế độ trước đó theo yêu cầu của Giáo hội Công giáo. Lần đầu tiên, các trường công lập ở Pháp bắt đầu dạy lịch sử đương đại, ngoại ngữ hiện đại, nghệ thuật, thể dục và âm nhạc. Kết quả của các cuộc cải cách trường học rất ấn tượng: năm 1852, hơn 40% lính nghĩa vụ ở Pháp không biết đọc hoặc viết, nhưng đến năm 1869, con số này đã giảm xuống còn 25%. Tỷ lệ mù chữ ở cả nam và nữ giảm xuống còn 32%.[111]
Ở cấp đại học, Napoleon III đã thành lập các khoa mới ở Marseille, Douai, Nancy, Clermont-Ferrand và Poitiers và thành lập một mạng lưới các viện nghiên cứu cao cấp về khoa học, lịch sử và kinh tế. Những điều này cũng bị các giáo sĩ Công giáo chỉ trích. Đức Hồng Y Tổng Giám mục Rouen, Monseigneur Bonnechose, đã viết, "Khoa học chân chính là tôn giáo, trong khi khoa học giả, mặt khác, là phù phiếm và kiêu ngạo; vì không thể giải thích được Chúa, nó nổi loạn chống lại Ngài".[112]
Chính sách kinh tế
Giảm thuế quan và mở cửa lại thị trường Pháp (1860)
Một trong những điểm trọng tâm trong chính sách kinh tế của Napoléon III là việc giảm thuế quan và mở cửa thị trường Pháp cho hàng hóa nhập khẩu. Ông đã từng ở Anh vào năm 1846 khi Thủ tướng Robert Peel giảm thuế quan đối với ngũ cốc nhập khẩu, và ông đã thấy những lợi ích đối với người tiêu dùng Anh và nền kinh tế Anh. Tuy nhiên, ông đã phải đối mặt với sự phản đối gay gắt từ nhiều nhà công nghiệp và nông dân Pháp, những người lo sợ sự cạnh tranh từ Anh. Tin chắc mình đúng, ông đã cử cố vấn kinh tế trưởng của mình, Michel Chevalier, đến London để bắt đầu các cuộc thảo luận, và bí mật đàm phán một thỏa thuận thương mại mới với Anh, kêu gọi giảm dần thuế quan ở cả hai nước. Ông đã ký hiệp ước mà không tham khảo ý kiến của Quốc hội vào ngày 23 tháng 1 năm 1860. Bốn trăm nhà công nghiệp hàng đầu của Pháp đã đến Paris để phản đối, nhưng ông từ chối nhượng bộ. Thuế quan công nghiệp đối với các sản phẩm như đường ray thép cho đường sắt được giảm trước; thuế quan đối với ngũ cốc không được giảm cho đến tháng 6 năm 1861. Các thỏa thuận tương tự đã được đàm phán với Hà Lan, Ý và các nước láng giềng khác của Pháp. Các ngành công nghiệp của Pháp buộc phải hiện đại hóa và trở nên hiệu quả hơn để cạnh tranh với người Anh, như Napoleon III đã dự định. Thương mại giữa hai nước bùng nổ.[113]
Mở rộng kinh tế và thay đổi xã hội
Đến những năm 1860, khoản đầu tư khổng lồ của nhà nước vào đường sắt, cơ sở hạ tầng và chính sách tài chính của Napoléon III đã mang lại những thay đổi mạnh mẽ cho nền kinh tế và xã hội Pháp. Người Pháp đi du lịch với số lượng lớn hơn, thường xuyên hơn và xa hơn bao giờ hết. Việc Napoléon III mở các thư viện trường công lập đầu tiên và Louis Hachette mở các hiệu sách đầu tiên tại các ga xe lửa mới của Napoléon đã dẫn đến việc sách được lưu hành rộng rãi hơn trên khắp nước Pháp.[114]
Trong thời kỳ Đế chế, sản xuất công nghiệp tăng 73%, tăng trưởng nhanh gấp đôi so với Vương quốc Anh, mặc dù tổng sản lượng vẫn thấp hơn. Từ năm 1850 đến năm 1857, nền kinh tế Pháp tăng trưởng với tốc độ 5% mỗi năm và xuất khẩu tăng 60% từ năm 1855 đến năm 1869.[115]
Sản lượng nông nghiệp của Pháp tăng 60%, được thúc đẩy bởi các kỹ thuật canh tác mới được giảng dạy tại các trường nông nghiệp do Napoléon III thành lập ở mỗi tỉnh và các thị trường mới được mở ra bởi đường sắt. Mối đe dọa của nạn đói, vốn đã ám ảnh vùng nông thôn Pháp trong nhiều thế kỷ, đã giảm bớt. Nạn đói cuối cùng được ghi nhận ở Pháp là vào năm 1855.[115]
Trong thời kỳ Đế chế, sự di cư của dân cư nông thôn ra thành phố ngày càng tăng. Tỷ lệ dân số tham gia vào nông nghiệp giảm từ 61% vào năm 1851 xuống còn 54% vào năm 1870.[116]
Mức lương trung bình của công nhân Pháp tăng 45% trong thời kỳ Đế chế thứ hai, nhưng chỉ theo kịp lạm phát giá cả. Mặt khác, nhiều người Pháp hơn bao giờ hết có thể tiết kiệm tiền; số lượng tài khoản ngân hàng tăng từ 742.889 vào năm 1852 lên 2.079.141 vào năm 1870.[116]
Sự phản đối ngày càng tăng và những nhượng bộ tự do (1860–1870)
Mặc dù đất nước đã đạt được những tiến bộ về kinh tế, nhưng sự phản đối trong nước đối với Napoleon III đang dần gia tăng, đặc biệt là trong Quốc hội (Corps législatif). Những người cộng hòa tự do cánh tả luôn phản đối ông, tin rằng ông đã chiếm đoạt quyền lực và đàn áp nền Cộng hòa. Những người Công giáo bảo thủ ngày càng bất mãn, bởi vì ông đã bỏ rơi Giáo hoàng Piô IX trong cuộc đấu tranh để giữ quyền kiểm soát chính trị đối với Lãnh thổ Giáo hoàng và đã xây dựng một hệ thống giáo dục công lập cạnh tranh với hệ thống Công giáo. Nhiều doanh nhân, đặc biệt là trong ngành luyện kim và dệt may, không hài lòng, bởi vì ông đã giảm thuế quan đối với các sản phẩm của Anh, khiến các sản phẩm của Anh cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm của họ. Các thành viên Quốc hội đặc biệt không hài lòng với ông vì ông chỉ giao dịch với họ khi cần tiền. Khi ông tự do hóa thương mại với Anh, ông thậm chí còn không tham khảo ý kiến của họ.[117]
Chương trình công trình công cộng quy mô lớn của Napoleon và chính sách đối ngoại tốn kém của ông đã tạo ra khoản nợ chính phủ ngày càng tăng nhanh; Thâm hụt hàng năm vào khoảng 100 triệu franc vàng, và tổng nợ đã lên tới gần 1.000 triệu franc vàng (1 tỷ đô la Mỹ). Hoàng đế cần khôi phục lòng tin của giới kinh doanh và lôi kéo cơ quan lập pháp cùng chia sẻ trách nhiệm.
Ngày 24 tháng 12 năm 1860, Napoléon III, bất chấp sự phản đối của chính các bộ trưởng của mình, đã ban hành sắc lệnh tuyên bố rằng cơ quan lập pháp sẽ có quyền lực lớn hơn. Lần đầu tiên, Thượng viện và Hạ viện có thể đưa ra phản hồi đối với chương trình của Hoàng đế, các bộ trưởng buộc phải bảo vệ chương trình của mình trước Hạ viện, và quyền sửa đổi chương trình của các đại biểu được mở rộng. Ngày 1 tháng 2 năm 1861, các cải cách tiếp theo được công bố: các đại biểu có thể phát biểu từ bục diễn thuyết, chứ không chỉ từ chỗ ngồi của họ, và biên bản tốc ký của mỗi phiên họp sẽ được lập và công bố. Một cải cách thậm chí còn quan trọng hơn được công bố vào ngày 31 tháng 12 năm 1861: ngân sách của mỗi bộ sẽ được bỏ phiếu theo từng phần, chứ không phải theo khối, và chính phủ không còn có thể chi tiêu tiền bằng sắc lệnh đặc biệt khi cơ quan lập pháp không họp. Tuy nhiên, họ vẫn giữ quyền thay đổi dự toán ngân sách theo từng phần.
Các đại biểu nhanh chóng tận dụng các quyền mới của mình; Chính sách của Hoàng đế đối với Ý đã bị lên án gay gắt trong Quốc hội, và các sửa đổi chống chính phủ của các đại biểu ủng hộ Công giáo đã bị bác bỏ với tỷ lệ 158 phiếu thuận và 91 phiếu chống tại Hạ viện và 79 phiếu thuận và 61 phiếu chống tại Thượng viện.[118]
Trong cuộc bầu cử lập pháp năm 1863, các ứng cử viên ủng hộ chính phủ nhận được 5.308.000 phiếu bầu, trong khi phe đối lập nhận được 1.954.000 phiếu bầu, gấp ba lần so với cuộc bầu cử trước đó. Các tỉnh nông thôn vẫn bỏ phiếu cho các ứng cử viên của Napoléon III, nhưng ở Paris, 63% số phiếu bầu dành cho các ứng cử viên cộng hòa chống chính phủ, với tỷ lệ tương tự ở tất cả các thành phố lớn. Quốc hội mới bao gồm một khối đối lập lớn, từ những người Công giáo phẫn nộ trước các chính sách của Giáo hoàng đến những người theo chủ nghĩa Hợp pháp, những người theo chủ nghĩa Orléans, những người theo chủ nghĩa bảo hộ và những người theo chủ nghĩa cộng hòa, được trang bị những quyền lực mới do chính Hoàng đế trao cho họ.[119][120]
Mặc dù có sự phản đối trong cơ quan lập pháp, các cải cách của Napoléon III vẫn được lòng dân ở phần còn lại của đất nước. Một cuộc trưng cầu dân ý mới được tổ chức vào năm 1870, với nội dung như sau: "Nhân dân chấp thuận các cải cách tự do được Hoàng đế bổ sung vào Hiến pháp kể từ năm 1860, với sự đồng ý của các cơ quan lập pháp và được Thượng viện phê chuẩn vào ngày 20 tháng 4 năm 1870". Napoléon III coi đây là một cuộc trưng cầu dân ý về sự cai trị của ông với tư cách là Hoàng đế: "Bằng cách bỏ phiếu đồng ý", ông viết, "các bạn sẽ xua tan mối đe dọa của cuộc cách mạng; các bạn sẽ đặt quốc gia trên một nền tảng vững chắc của trật tự và tự do, và các bạn sẽ dễ dàng hơn trong việc truyền ngôi cho con trai tôi". Khi các phiếu bầu được kiểm đếm, Napoléon III đã mất Paris và các thành phố lớn khác nhưng đã giành chiến thắng quyết định ở phần còn lại của đất nước. Kết quả bỏ phiếu cuối cùng là 7.336.434 phiếu thuận, 1.560.709 phiếu chống và 1.900.000 phiếu trắng. Léon Gambetta, lãnh đạo phe đối lập cộng hòa, đã viết trong tuyệt vọng: "Chúng tôi đã bị đánh bại. Hoàng đế được yêu mến hơn bao giờ hết".[121]
Những năm cuối triều đại
Sức khỏe suy giảm và sự trỗi dậy của Phổ

Trong suốt những năm 1860, sức khỏe của Hoàng đế ngày càng xấu đi. Sức khỏe của ông bị ảnh hưởng bởi 6 năm bị giam cầm tại Ham; ông bị đau mãn tính ở chân và bàn chân, đặc biệt là khi trời lạnh, và kết quả là, ông luôn sống và làm việc trong những căn phòng và văn phòng quá nóng. Ông hút thuốc rất nhiều, không tin tưởng các bác sĩ và lời khuyên của họ, và cho rằng mọi vấn đề chỉ đơn giản là do "bệnh thấp khớp", và vì vậy ông thường xuyên đến các suối nước nóng ở Vichy và các khu nghỉ dưỡng khác.[122] Ông gặp khó khăn khi cưỡi ngựa, và buộc phải đi bộ chậm, thường xuyên phải dùng gậy. Từ năm 1869 trở đi, các cơn khủng hoảng đường tiết niệu của ông được điều trị bằng thuốc phiện, khiến ông trông uể oải và thờ ơ. Chữ viết của ông trở nên khó đọc và giọng nói yếu ớt. Vào mùa xuân năm 1870, ông được một người bạn cũ từ Anh là Lãnh chúa Malmesbury, đến thăm. Malmesbury thấy ông "đã thay đổi khủng khiếp và rất ốm yếu".[123]
Các vấn đề sức khỏe của Hoàng đế được chính phủ giữ bí mật vì lo sợ rằng nếu tình trạng của ông được công khai, phe đối lập sẽ yêu cầu ông thoái vị. Tờ báo, Courrier de la Vienne, đã bị kiểm duyệt cảnh báo ngừng xuất bản các bài báo có "ý đồ rõ ràng và ác ý nhằm lan truyền, trái với sự thật, những lo ngại về sức khỏe của Hoàng đế".[124]
Vào cuối tháng 6 năm 1870, một chuyên gia về các vấn đề đường tiết niệu, Germain Sée]], cuối cùng đã được triệu tập để khám cho ông. Sée báo cáo rằng Hoàng đế bị sỏi bàng quang. Vào ngày 2 tháng 7, bốn bác sĩ nổi tiếng người Pháp, Auguste Nélaton, Philippe Ricord, Fauvel và Corvisart, đã khám cho ông và xác nhận chẩn đoán. Tuy nhiên, họ ngần ngại phẫu thuật vì rủi ro cao và vì sức khỏe yếu của Hoàng đế. Tuy nhiên, trước khi có thể làm bất cứ điều gì tiếp theo, Pháp đang ở giữa một cuộc khủng hoảng ngoại giao.[125]
Vào những năm 1860, Vương quốc Phổ nổi lên như một đối thủ mới của quyền lực Pháp ở châu Âu. Thủ tướng Otto von Bismarck ấp ủ tham vọng để Phổ lãnh đạo một nước Đức thống nhất. Tháng 5 năm 1862, Bismarck đến Paris trong một nhiệm vụ ngoại giao và lần đầu tiên gặp gỡ Napoléon III. Hai người có mối quan hệ thân thiết. Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng 9 năm 1862, tại Munich, Bismarck đã tuyên bố trong một bài phát biểu nổi tiếng: "Những vấn đề lớn của thời đại chúng ta sẽ không được giải quyết bằng những bài phát biểu và phiếu bầu của đa số, như người ta tin tưởng vào năm 1848, mà bằng sắt và máu". Bismarck coi Đế quốc Áo và Đệ Nhị Đế chế Pháp là những trở ngại chính đối với tham vọng của mình, và ông đã lên kế hoạch chia rẽ và đánh bại họ.
Tìm kiếm đồng minh và chiến tranh giữa Áo và Phổ
Vào mùa đông và mùa xuân năm 1864, khi Bang liên Đức xâm lược và chiếm đóng các công quốc nói tiếng Đức do Đan Mạch cai trị (Công quốc Schleswig và Công quốc Holstein), Napoleon III nhận ra mối đe dọa mà một nước Đức thống nhất sẽ gây ra cho Pháp, và ông đã tìm kiếm các đồng minh để thách thức Đức, nhưng không thành công.
Chính phủ Anh nghi ngờ rằng Napoleon muốn chiếm Bỉ và Luxembourg, cảm thấy an tâm với hải quân hùng mạnh của mình, và không muốn bất kỳ cuộc xung đột quân sự nào trên lục địa châu Âu về phía Pháp.[126]
Chính phủ Nga cũng nghi ngờ Napoleon, người mà họ tin rằng đã khuyến khích những người theo chủ nghĩa dân tộc Ba Lan nổi dậy chống lại sự cai trị của Nga vào năm 1863. Mặt khác, Bismarck và Phổ đã đề nghị hỗ trợ Nga để giúp đàn áp những người yêu nước Ba Lan.[127]
Vào tháng 10 năm 1865, Napoleon đã có một cuộc gặp gỡ thân mật với Bismarck tại Biarritz. Họ đã thảo luận về Veneto, lãnh thổ còn lại của Áo ở Bán đảo Ý. Bismarck nói với Napoleon rằng Phổ không có thỏa thuận bí mật nào để trao Veneto cho Ý, và ngược lại, Napoleon đảm bảo với ông rằng Pháp không có thỏa thuận bí mật nào với Áo. Bismarck ám chỉ một cách mơ hồ rằng, trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa Áo và Phổ, sự trung lập của Pháp sẽ được đền đáp bằng một số lãnh thổ như một sự đền bù. Napoleon III đã nghĩ đến Luxembourg.[128]
Năm 1866, quan hệ giữa Áo và Phổ xấu đi và Bismarck yêu cầu trục xuất Áo khỏi Liên minh Đức. Napoleon và bộ trưởng ngoại giao của ông, Édouard Drouyn de Lhuys, dự đoán một cuộc chiến tranh kéo dài và cuối cùng là chiến thắng của Đế quốc Áo. Napoleon III cảm thấy ông có thể đòi hỏi một cái giá từ cả Phổ và Áo để đổi lấy sự trung lập của Pháp. Vào ngày 12 tháng 6 năm 1866, Pháp đã ký một hiệp ước bí mật với Áo, đảm bảo sự trung lập của Pháp trong một Chiến tranh Áo-Phổ. Đổi lại, trong trường hợp Áo chiến thắng, Áo sẽ trao Veneto cho Pháp và cũng sẽ thành lập một nhà nước Đức độc lập mới trên sông Rhine, nhà nước này sẽ trở thành đồng minh của Pháp. Cùng lúc đó, Napoleon đề xuất một hiệp ước bí mật với Bismarck, hứa rằng Pháp sẽ giữ thái độ trung lập trong cuộc chiến giữa Áo và Phổ. Trong trường hợp Phổ thắng, Pháp sẽ công nhận việc Phổ sáp nhập các nhà nước Đức nhỏ hơn, và đổi lại, Pháp sẽ nhận được một phần lãnh thổ Đức, vùng Palatinate phía bắc Alsace. Bismarck, tự tin vào chiến thắng nhờ sự hiện đại hóa của quân đội Phổ, đã thẳng thừng bác bỏ đề nghị của Napoleon.
Ngày 15 tháng 6, quân đội Phổ xâm lược Vương quốc Sachsen, một đồng minh của Áo. Ngày 2 tháng 7, Áo yêu cầu Napoleon dàn xếp một hiệp định đình chiến giữa Ý, quốc gia đã liên minh với Phổ, và Áo, đổi lại Pháp sẽ nhận được Veneto. Nhưng ngày 3 tháng 7, quân đội Phổ đã đánh bại quân đội Áo trong trận Königgrätz ở Bohemia. Con đường đến Viên đã rộng mở cho quân Phổ, và Áo yêu cầu một hiệp định đình chiến. Hiệp định đình chiến được ký kết vào ngày 22 tháng 7; Phổ sáp nhập Vương quốc Hannover, Tuyển hầu xứ Hessen, Công quốc Nassau và Thành bang tự do Frankfurt, với tổng dân số 4 triệu người.[129]
Thất bại của Áo kéo theo một cuộc khủng hoảng mới về sức khỏe của Napoléon III. Nguyên soái Canrobert, người đã gặp ông vào ngày 28 tháng 7, viết rằng Hoàng đế "thật đáng thương khi nhìn thấy. Ông hầu như không thể ngồi dậy trên ghế bành, và khuôn mặt hốc hác của ông thể hiện đồng thời nỗi đau khổ về tinh thần và nỗi đau thể xác.[129]
Khủng hoảng Luxembourg
Napoléon III vẫn hy vọng nhận được một số khoản bồi thường từ Phổ vì sự trung lập của Pháp trong suốt cuộc chiến. Ngoại trưởng Drouyn đã yêu cầu Bismarck nhượng lại vùng Palatinate trên sông Rhine, thuộc về Vương quốc Bayern, và việc phi quân sự hóa Luxembourg, nơi có một pháo đài kiên cố với lực lượng đồn trú mạnh mẽ của Phổ theo các hiệp ước quốc tế trước đó. Cố vấn cấp cao của Napoléon là Eugène Rouher, đã nâng cao yêu cầu, đề nghị Phổ chấp nhận việc Pháp sáp nhập Bỉ và Luxembourg, gây ra cuộc khủng hoảng Luxembourg.
Luxembourg đã giành lại độc lập trên danh nghĩa vào năm 1839 với tư cách là một đại công quốc. Tuy nhiên, nó vẫn thuộc liên minh cá nhân với Hà Lan. Vua Willem III của Hà Lan, đồng thời là Đại công tước Luxembourg, đang rất cần tiền và sẵn sàng bán Đại công quốc cho Pháp. Bismarck nhanh chóng can thiệp và cho đại sứ Anh xem bản sao các yêu cầu của Napoléon; kết quả là, ông đã gây áp lực buộc Willem III từ chối bán Luxembourg cho Pháp. Pháp buộc phải từ bỏ mọi yêu sách đối với Luxembourg trong Hiệp ước Luân Đôn (1867). Napoleon III không thu được gì từ những nỗ lực của mình ngoài việc phi quân sự hóa pháo đài Luxembourg.[130]
Thất bại trong việc tăng quy mô Quân đội Pháp
Mặc dù sức khỏe suy yếu, Napoleon III vẫn có thể thấy rằng Quân đội Phổ, kết hợp với quân đội Bayern và các nhà nước Đức khác, sẽ là một kẻ thù đáng gờm. Năm 1866, Phổ, với dân số 22 triệu người, đã có thể huy động một đội quân 700.000 người, trong khi Pháp, với dân số 38 triệu người, chỉ có một đội quân 385.000 người, trong đó 140.000 người ở Algeria, Mexico và Lãnh địa Giáo hoàng.[131] Vào mùa thu năm 1867, Napoleon III đề xuất một hình thức nghĩa vụ quân sự phổ quát tương tự như hệ thống của Phổ để tăng quy mô Quân đội Pháp, nếu cần, có thể huy động lên đến 1 triệu người. Đề xuất của ông đã bị nhiều sĩ quan Pháp phản đối, chẳng hạn như Nguyên soái Randon, người thích một đội quân nhỏ hơn, chuyên nghiệp hơn; Ông nói: "Đề xuất này sẽ chỉ mang lại cho chúng ta những tân binh; chúng ta cần những người lính".[132] Đề xuất này cũng bị phe đối lập cộng hòa trong quốc hội Pháp phản đối mạnh mẽ, họ lên án đề xuất này là sự quân sự hóa xã hội Pháp. Nghị sĩ cộng hòa Émile Ollivier, người sau này trở thành thủ tướng của Napoléon, tuyên bố: "Quân đội Pháp, mà tôi luôn cho là quá lớn, giờ đây sẽ được tăng lên một quy mô quá mức. Tại sao? Cần thiết ở đâu? Nguy hiểm ở đâu? Ai đang đe dọa chúng ta? ...Nếu Pháp giải giáp, người Đức sẽ biết cách thuyết phục chính phủ của họ làm điều tương tự".[133] Đối mặt với thất bại gần như chắc chắn trong quốc hội, Napoléon III đã rút lại đề xuất. Nó được thay thế vào tháng 1 năm 1868 bằng một dự án khiêm tốn hơn nhiều nhằm tạo ra một lực lượng dự bị, hay garde mobile, để hỗ trợ quân đội.[134]
Một cuộc tìm kiếm đồng minh cuối cùng
Napoleon III quá tự tin vào sức mạnh quân sự của mình và đã tiến hành chiến tranh ngay cả sau khi ông không tìm được bất kỳ đồng minh nào ủng hộ cuộc chiến nhằm ngăn chặn sự thống nhất nước Đức.[135]
Sau thất bại của Áo, Napoleon tiếp tục tìm kiếm đồng minh chống lại Phổ. Vào tháng 4 năm 1867, ông đề xuất một liên minh, cả phòng thủ và tấn công, với Áo. Nếu Áo tham gia cùng Pháp trong một cuộc chiến thắng lợi chống lại Phổ, Napoleon hứa rằng Áo có thể thành lập một liên minh mới với các nhà nước phía nam của Đức và có thể sáp nhập Silesia, trong khi Pháp sẽ nhận phần mình là bờ trái sông Rhine. Nhưng thời điểm đưa ra lời đề nghị của Napoleon lại không được lựa chọn tốt; Áo đang trong quá trình cải cách nội bộ lớn, tạo ra chế độ quân chủ kép mới của Áo-Hungary.
Nỗ lực của Napoleon nhằm đưa Đại công tước Maximilian, em trai của Hoàng đế Áo, lên nắm quyền ở Mexico đang đi đến hồi kết thảm khốc; quân đội Pháp vừa rút khỏi Mexico vào tháng 2 năm 1867, và Maximilian bất hạnh sẽ bị bắt, xét xử và xử bắn vào ngày 19 tháng 6. Napoleon III đã đưa ra những đề nghị này một lần nữa vào tháng 8 năm 1867, trong chuyến thăm để chia buồn về cái chết của Maximilian, nhưng đề xuất này đã không được đón nhận nhiệt tình.[136]

vẽ.
Napoleon III cũng đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng để thuyết phục Ý trở thành đồng minh của ông chống lại Phổ. Vua Victor Emmanuel II của Ý rất ủng hộ mối quan hệ tốt hơn với Pháp, nhớ lại vai trò mà Napoleon III trong việc thống nhất nước Ý, nhưng dư luận Ý phần lớn thù địch với Pháp; vào ngày 3 tháng 11 năm 1867, binh lính Pháp và Lãnh địa Giáo hoàng đã nổ súng vào những người yêu nước Ý của Garibaldi khi ông cố gắng chiếm Rome. Napoleon đã trình bày một hiệp ước liên minh được đề xuất vào ngày 4 tháng 6 năm 1869, kỷ niệm chiến thắng chung của Pháp và Ý tại Magenta. Người Ý đáp lại bằng cách yêu cầu Pháp rút quân đang bảo vệ Giáo hoàng ở Rome. Với quan điểm của những người Công giáo Pháp nhiệt thành, đây là một điều kiện mà Napoleon III không thể chấp nhận.[137]
Trong khi Napoleon III không thành công trong việc tìm kiếm đồng minh, Bismarck đã ký các hiệp ước quân sự bí mật với các nhà nước miền nam Đức, những nước hứa sẽ cung cấp quân đội trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa Phổ và Pháp. Năm 1868, Bismarck ký một hiệp định với Đế quốc Nga, theo đó Nga được tự do hành động ở Bán đảo Balkan để đổi lấy sự trung lập trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa Pháp và Phổ. Hiệp ước này gây thêm áp lực lên Áo-Hung, quốc gia cũng có lợi ích ở Balkan, để không liên minh với Pháp.
Nhưng quan trọng hơn cả, Phổ hứa sẽ ủng hộ Nga trong việc dỡ bỏ các hạn chế của Đại hội Paris (1856). "Bismarck đã mua được sự đồng lõa của Sa hoàng Alexander II bằng cách hứa sẽ giúp khôi phục quyền tiếp cận Biển Đen và Địa Trung Hải (bị cắt đứt bởi các hiệp ước kết thúc Chiến tranh Krym), các cường quốc khác ít dễ bị mua chuộc hơn".[138] Bismarck cũng tiếp cận chính phủ tự do của William Ewart Gladstone ở London, đề nghị bảo vệ sự trung lập của Bỉ trước mối đe dọa từ Pháp. Bộ Ngoại giao Anh dưới thời Lãnh chúa Clarendon đã huy động hạm đội Anh để ngăn cản Pháp thực hiện bất kỳ hành động gây hấn nào chống lại Bỉ. Trong bất kỳ cuộc chiến nào giữa Pháp và Phổ, Pháp sẽ hoàn toàn đơn độc.[139]
Năm 1867, chính trị gia người Pháp Adolphe Thiers (người trở thành Tổng thống Cộng hòa Pháp năm 1871) cáo buộc Napoleon III có chính sách đối ngoại sai lầm: "Không thể có sai lầm nào".[140] Bismarck nghĩ rằng sự kiêu ngạo của Pháp sẽ dẫn đến chiến tranh; ông đã lợi dụng sự kiêu ngạo đó trong Bức điện Ems vào tháng 7 năm 1870. Pháp đã mắc bẫy và tuyên chiến với Phổ, điều này đã chứng tỏ là một tính toán sai lầm lớn.[141] Điều này cho phép Bismarck và Phổ trình bày cuộc chiến với thế giới như một cuộc chiến phòng thủ, mặc dù Phổ và Bismarck có kế hoạch xâm lược, và họ sớm được biết đến liên quan đến việc sáp nhập các tỉnh Alsace-Lorraine của Pháp.
Ứng cử viên Hohenzollern và điện tín Ems
Trong hồi ký của mình, được viết rất lâu sau chiến tranh, Bismarck đã viết, "Tôi luôn cho rằng một cuộc chiến với Pháp sẽ tất yếu xảy ra sau một cuộc chiến chống lại Áo... Tôi tin chắc rằng khoảng cách được tạo ra theo thời gian giữa miền bắc và miền nam nước Đức không thể được khắc phục tốt hơn bằng một cuộc chiến tranh quốc gia chống lại các dân tộc láng giềng đang gây hấn với chúng ta. Tôi không nghi ngờ gì rằng cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh Pháp-Đức trước khi việc tái tổ chức chung của nước Đức có thể được thực hiện".[142] Khi mùa hè năm 1870 đến gần, áp lực ngày càng gia tăng đối với Bismarck để tiến hành một cuộc chiến với Pháp càng nhanh càng tốt. Tại Bayern, nhà nước lớn nhất trong các bang miền nam nước Đức, việc thống nhất với Phổ (chủ yếu là Tin Lành) đang bị phản đối bởi Đảng Yêu nước, đảng này ủng hộ một liên minh giữa Vương quốc Bayern (Công giáo) với Đế quốc Áo (Công giáo). Dư luận Tin Lành Đức đứng về phía việc thống nhất với Phổ.
Tại Pháp, tình cảm yêu nước cũng đang ngày càng lớn mạnh. Vào ngày 8 tháng 5 năm 1870, cử tri Pháp đã ủng hộ áp đảo chương trình của Napoléon III trong một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc, với 7.358.000 phiếu thuận so với 1.582.000 phiếu chống, tăng hai triệu phiếu ủng hộ so với cuộc bầu cử lập pháp năm 1869. Hoàng đế ít được lòng dân ở Paris và các thành phố lớn, nhưng lại rất được lòng dân ở vùng nông thôn Pháp. Napoléon đã bổ nhiệm một ngoại trưởng mới là Antoine Agenor, Công tước xứ Gramont, người thù địch với Bismarck. Hoàng đế yếu đuối và ốm đau, nhưng những người theo chủ nghĩa Bonapart cực đoan hơn đã sẵn sàng thể hiện sức mạnh của họ chống lại những người cộng hòa và những người theo chế độ quân chủ trong quốc hội.[143]
Tin tức về việc Leopold, Thân vương xứ Hohenzollern, ứng cử vào ngôi vị vua Tây Ban Nha, được công bố vào ngày 2 tháng 7 năm 1870, đã gây ra sự phẫn nộ trong quốc hội và báo chí Pháp. Chính phủ bị cả phe đối lập cộng hòa và quân chủ, cũng như những người theo chủ nghĩa Bonapart cực đoan, chỉ trích vì sự yếu kém của họ trước Phổ. Vào ngày 6 tháng 7, Napoléon III đã tổ chức một cuộc họp với các bộ trưởng của mình tại lâu đài Saint-Cloud và nói với họ rằng Phổ phải rút lại ứng cử viên Hohenzollern nếu không sẽ có chiến tranh. Ông hỏi Thống chế Leboeuf, tổng tham mưu trưởng của quân đội Pháp, liệu quân đội đã sẵn sàng cho một cuộc chiến chống lại Phổ hay chưa. Leboeuf trả lời rằng binh lính Pháp có súng trường vượt trội hơn súng trường Phổ, pháo binh Pháp được chỉ huy bởi một đội ngũ sĩ quan tinh nhuệ, và quân đội "sẽ không thiếu một chiếc cúc nào trên ống quần". Ông đảm bảo với Hoàng đế rằng quân đội Pháp có thể điều động 400 nghìn người trên sông Rhine trong vòng chưa đầy 15 ngày.[144]
Đại sứ Pháp tại Phổ, Bá tước Vincent Benedetti, được cử đến khu nghỉ dưỡng suối nước nóng Bad Ems của Đức, nơi nhà vua Phổ đang ở. Benedetti đã gặp nhà vua vào ngày 13 tháng 7 trong công viên của lâu đài. Nhà vua lịch sự nói với ông rằng ngài hoàn toàn đồng ý với việc rút lui khỏi cuộc tranh cử vào ngài vàng Tây Ban Nha của Nhà Hohenzollern, nhưng ngài không thể hứa hẹn thay mặt chính phủ cho tương lai. Ngài cho rằng vấn đề đã được giải quyết. Theo chỉ thị của Gramont, Benedetti yêu cầu một cuộc gặp khác với nhà vua để nhắc lại yêu cầu, nhưng nhà vua đã lịch sự nhưng kiên quyết từ chối. Benedetti trở về Paris và vụ việc dường như đã kết thúc. Tuy nhiên, Bismarck đã chỉnh sửa bức điện chính thức về cuộc gặp để làm cho nó có vẻ như cả hai bên đều thù địch: "Đức vua," bức điện viết, "đã từ chối gặp lại đại sứ Pháp, và thông báo cho ông ta, thông qua một phụ tá, rằng Đức vua không còn gì để nói với Đại sứ nữa." Phiên bản này đã được thông báo cho các chính phủ, và ngày hôm sau đã xuất hiện trên báo chí Pháp.[145]
Bức điện tín Ems đã có tác dụng chính xác như Bismarck dự định. Một lần nữa, dư luận ở Pháp lại nổi giận. "Văn bản này đã tạo ra hiệu ứng như một lá cờ đỏ đối với sắc lệnh của người Gallia," Bismarck sau đó viết. Gramont, bộ trưởng ngoại giao Pháp, tuyên bố rằng ông cảm thấy "vừa bị tát". Lãnh đạo phe bảo thủ trong quốc hội là Thiers, lên tiếng ủng hộ sự ôn hòa, lập luận rằng Pháp đã thắng trận chiến ngoại giao và không có lý do gì để gây chiến, nhưng ông bị át tiếng bởi những tiếng la hét rằng ông là kẻ phản bội và là người Phổ. Thủ tướng mới của Napoleon là Émile Ollivier, tuyên bố rằng Pháp đã làm tất cả những gì có thể làm một cách nhân đạo và danh dự để ngăn chặn chiến tranh, và rằng ông chấp nhận trách nhiệm "với một trái tim nhẹ nhàng". Một đám đông 15.000–20.000 người, mang cờ và biểu ngữ yêu nước, đã tuần hành qua các đường phố Paris, đòi chiến tranh. Vào ngày 19 tháng 7 năm 1870, một tuyên bố chiến tranh đã được gửi tới chính phủ Phổ.[146]
Thất bại trong Chiến tranh Pháp-Phổ
Khi Pháp tham gia chiến tranh, đã có những cuộc biểu tình yêu nước trên đường phố Paris, với đám đông hát La Marseillaise và hô vang "Tiến về Berlin! Tiến về Berlin!". Nhưng Napoleon lại u sầu. Ông nói với Tướng Lepic rằng ông dự đoán cuộc chiến sẽ "dài và khó khăn", và tự hỏi, "Ai biết liệu chúng ta có trở về được không?". Ông nói với Thống chế Randon rằng ông cảm thấy mình quá già để tham gia một chiến dịch quân sự.[147] Mặc dù sức khỏe suy yếu, Napoleon vẫn quyết định cùng quân đội ra mặt trận với tư cách là tổng tư lệnh, như ông đã làm trong chiến dịch Ý thành công trước đó. Vào ngày 28 tháng 7, ông rời Saint-Cloud bằng tàu hỏa đến mặt trận. Ông được tháp tùng bởi Thái tử hoàng gia 14 tuổi trong quân phục, bởi các sĩ quan tham mưu của ông, và bởi một đội ngũ lớn các đầu bếp và người hầu. Ông xanh xao và rõ ràng là đang đau đớn. Hoàng hậu ở lại Paris với tư cách là Nhiếp chính, như bà đã làm trong những dịp khác khi Hoàng đế vắng mặt ở nước ngoài.
Việc huy động quân đội Pháp diễn ra hỗn loạn. Hai trăm nghìn binh lính đổ dồn về biên giới Đức, dọc theo một mặt trận dài 250 km, làm tắc nghẽn tất cả các con đường và đường sắt trong nhiều dặm. Các sĩ quan và các đơn vị tương ứng của họ không thể tìm thấy nhau. Tướng Moltke và Quân đội Phổ, nhờ kinh nghiệm huy động trong Chiến tranh Áo-Phổ, đã có thể di chuyển hiệu quả 3 đạo quân gồm 518.000 người đến một mặt trận tập trung hơn chỉ 120 km. Ngoài ra, binh lính Đức còn được hỗ trợ bởi một lực lượng dự bị đáng kể của Landwehr (Lực lượng phòng thủ lãnh thổ), với 340.000 người, và một lực lượng dự bị bổ sung gồm 400.000 lính phòng thủ lãnh thổ. Quân đội Pháp đến biên giới được trang bị bản đồ lãnh thổ Đức, nhưng không có bản đồ nước Pháp—nơi diễn ra cuộc chiến thực sự—và không có kế hoạch cụ thể nào về những gì họ sẽ làm.[148]
Vào ngày 2 tháng 8, Napoleon và Thái tử hoàng gia đã cùng quân đội vượt biên giới Đức một cách thăm dò về phía thành phố Saarbrücken. Quân Pháp đã thắng một cuộc giao tranh nhỏ và không tiến xa hơn. Napoléon III, ốm nặng, không thể cưỡi ngựa và phải vịn vào một cái cây để giữ thăng bằng. Trong khi đó, quân Phổ đã tập hợp một đội quân lớn hơn nhiều ở phía đối diện Alsace và Lorraine so với dự đoán hoặc sự hiểu biết của người Pháp. Ngày 4 tháng 8 năm 1870, quân Phổ tấn công với lực lượng áp đảo vào một sư đoàn Pháp ở Alsace trong trận Wissembourg (tiếng Đức: Weissenburg), buộc họ phải rút lui. Ngày 5 tháng 8, quân Đức đánh bại một đạo quân Pháp khác trong trận Spicheren ở Lorraine.
Ngày 6 tháng 8, 140.000 quân Đức tấn công 35.000 binh sĩ Pháp trong trận Wörth; quân Pháp mất 19.200 binh sĩ tử trận, bị thương và bị bắt, và buộc phải rút lui. Binh sĩ Pháp đã chiến đấu dũng cảm, kỵ binh và bộ binh Pháp liên tục tấn công các tuyến phòng thủ của Đức, nhưng quân Đức có ưu thế hơn về hậu cần, liên lạc và lãnh đạo. Vũ khí quyết định là khẩu pháo dã chiến Krupp sáu pound mới của Đức, được nạp đạn từ phía sau, có nòng thép, tầm bắn xa hơn, tốc độ bắn cao hơn và chính xác hơn so với các khẩu pháo nạp đạn từ phía trước bằng đồng của Pháp. Pháo Krupp gây thương vong khủng khiếp cho quân đội Pháp.[149]
Khi tin tức về những thất bại của Pháp đến Paris vào ngày 7 tháng 8, nó đã được đón nhận với sự hoài nghi và thất vọng. Thủ tướng Ollivier và tổng tham mưu trưởng quân đội, Thống chế Edmond Le Bœuf, đều từ chức. Hoàng hậu Eugénie, với tư cách là Nhiếp chính, đã tự mình chỉ định một chính phủ mới. Bà chọn Tướng Cousin-Montauban, được biết đến nhiều hơn với tên gọi Bá tước Palikao, 74 tuổi và là cựu chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp đến Trung Quốc, làm thủ tướng mới. Bá tước Palikao bổ nhiệm Thống chế François Achille Bazaine, chỉ huy lực lượng Pháp ở Lorraine, làm tổng tư lệnh quân sự mới. Napoleon III đề nghị trở về Paris, nhận ra rằng ông không làm được gì tốt cho quân đội. Hoàng hậu, người đứng đầu chính phủ, đã trả lời bằng điện tín, "Đừng nghĩ đến việc quay trở lại, trừ khi ngài muốn gây ra một cuộc cách mạng khủng khiếp. Họ sẽ nói rằng ngài bỏ quân đội để trốn tránh nguy hiểm." Hoàng đế đồng ý ở lại với quân đội.[150] Với việc Hoàng hậu điều hành đất nước và Bazaine chỉ huy quân đội, Hoàng đế không còn vai trò thực sự nào nữa. Ở mặt trận, Hoàng đế nói với Thống chế Leboeuf, "cả hai chúng ta đều đã bị cách chức".[151]
Vào ngày 18 tháng 8 năm 1870, Trận Gravelotte, trận chiến lớn nhất của cuộc chiến, diễn ra ở Lorraine giữa quân Đức và quân đội của Thống chế Bazaine. Quân Đức chịu tổn thất 20.000 người và quân Pháp 12.000 người, nhưng quân Đức đã giành chiến thắng, vì quân đội của Thống chế Bazaine, với 175.000 binh lính, 6 sư đoàn kỵ binh và 500 khẩu pháo, đã bị bao vây bên trong các công sự của Metz, không thể di chuyển.[152]
Napoleon đang ở Châlons-sur-Marne với quân đội của Thống chế Patrice de MacMahon. MacMahon, Nguyên soái Bazaine và Bá tước Palikao, cùng với Hoàng hậu ở Paris, đều có những ý kiến khác nhau về những gì quân đội nên làm tiếp theo, và Hoàng đế phải đóng vai trò trọng tài. Hoàng đế và MacMahon đề xuất di chuyển quân đội của họ đến gần Paris hơn để bảo vệ thành phố, nhưng vào ngày 17 tháng 8, Bazaine đã điện báo cho Hoàng đế: "Tôi khuyên ngài nên từ bỏ ý tưởng này, dường như là bỏ rơi Quân đội ở Metz... Ngài không thể thực hiện một cuộc nghi binh mạnh mẽ hướng về phía quân đoàn Phổ, vốn đã kiệt sức vì quá nhiều trận chiến sao? Hoàng hậu cũng đồng ý với tôi". Napoleon III đã viết thư trả lời, "Ta chấp nhận ý kiến của ngài".[153] Hoàng đế đã để Thái tử hoàng gia trở lại Paris để đảm bảo an toàn cho ông và đi cùng đội quân mệt mỏi về hướng Metz. Hoàng đế, ngồi trên một cỗ xe mở, đã bị chế giễu, chửi rủa và lăng mạ bởi những người lính mất tinh thần.[152]
Hướng di chuyển của quân đội MacMahon được cho là bí mật, nhưng nó đã được công bố trên báo chí Pháp và do đó nhanh chóng bị Bộ Tổng tham mưu Đức biết được. Moltke, chỉ huy quân Đức, đã ra lệnh cho hai đạo quân Phổ đang hành quân về phía Paris quay về phía quân đội MacMahon. Vào ngày 30 tháng 8, một quân đoàn của quân đội MacMahon bị quân Đức tấn công tại Beaumont, mất 500 người và 40 khẩu pháo. MacMahon, tin rằng mình đang dẫn trước quân Đức, đã quyết định dừng lại và tổ chức lại lực lượng của mình tại thành phố kiên cố Sedan, ở Ardennes gần biên giới Bỉ.[154]
Trận Sedan và đầu hàng

Trận Sedan là một thảm họa hoàn toàn đối với người Pháp—quân đội Pháp đầu hàng quân Phổ và chính Napoleon III đã bị bắt làm tù binh chiến tranh.[155] MacMahon đến Sedan với 100.000 binh lính, không biết rằng hai đạo quân Đức đang tiến gần đến thành phố (một từ phía tây và một từ phía đông), chặn mọi đường thoát. Quân Đức đến vào ngày 31 tháng 8, và đến ngày 1 tháng 9, chiếm giữ các ngọn đồi xung quanh Sedan, nơi họ đặt các khẩu đội pháo và bắt đầu bắn phá các vị trí của Pháp bên dưới. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 1 tháng 9, một quả đạn pháo của Đức đã làm MacMahon bị thương nặng ở hông. Sedan nhanh chóng bị bắn phá bởi 700 khẩu pháo của Đức.[156] Người thay thế MacMahon, Tướng Wimpffen, đã phát động một loạt các cuộc tấn công kỵ binh để cố gắng phá vỡ vòng vây của Đức, nhưng không thành công. Trong trận chiến và cuộc bắn phá, người Pháp mất 17.000 người chết hoặc bị thương và 21.000 người bị bắt.
Khi đạn pháo của Đức trút xuống các vị trí của Pháp, Napoleon III đi lang thang vô định ở khu vực trống trải xung quanh các vị trí của Pháp. Một sĩ quan trong đội hộ tống quân sự của ông đã thiệt mạng và hai người khác bị thương. Một bác sĩ đi cùng ông đã viết trong sổ tay của mình: "Nếu người đàn ông này không đến đây để tự sát, tôi không biết anh ta đến đây để làm gì. Tôi đã không thấy ông ta ra lệnh gì suốt buổi sáng".[156]
Cuối cùng, vào lúc một giờ chiều, Napoleon III thoát khỏi trạng thái mơ màng và ra lệnh treo cờ trắng trên thành trì. Sau đó, ông gửi một thông điệp tới nhà vua Phổ, người đang ở Sedan với quân đội của mình: "Thưa ngài, người anh em của tôi, vì không thể chết khi dẫn đầu quân đội, tôi không còn cách nào khác ngoài việc trao thanh kiếm của mình vào tay Bệ hạ".[157]
Sau chiến tranh, khi bị buộc tội đã "đầu hàng một cách nhục nhã" tại Sedan, ông đã viết:
Một số người tin rằng, bằng cách chôn vùi bản thân dưới đống đổ nát của Sedan, chúng ta sẽ phục vụ tốt hơn cho tên tuổi và triều đại của tôi. Có thể. Không, việc nắm giữ trong tay sinh mạng của hàng ngàn người mà không có dấu hiệu nào để cứu họ là điều vượt quá khả năng của tôi.... trái tim tôi đã từ chối những vinh quang nham hiểm này.[158]
Vào lúc 6 giờ sáng ngày 2 tháng 9, trong bộ quân phục của một vị tướng và cùng với 4 vị tướng từ bộ tham mưu của mình, Napoleon được đưa đến trụ sở của quân Đức tại Donchery. Ông mong đợi được gặp Vua Wilhelm I của Phổ, nhưng thay vào đó ông lại gặp Otto von Bismarck và chỉ huy quân Đức, Tướng Helmuth von Moltke. Họ đã đưa ra các điều khoản đầu hàng cho Napoleon. Hoàng đế yêu cầu quân đội của mình được giải giáp và được phép đi vào Vương quốc Bỉ, nhưng Bismarck đã từ chối. Họ cũng yêu cầu Napoleon ký các văn kiện sơ bộ của một hiệp ước hòa bình, nhưng Napoleon từ chối, nói với họ rằng chính phủ Pháp do Nhiếp chính là Hoàng hậu Eugénie đứng đầu, sẽ cần phải đàm phán bất kỳ thỏa thuận hòa bình nào. Sau đó, Hoàng đế được đưa đến Lâu đài Bellevue gần Frénois (Ardennes) [fr], nơi nhà vua Phổ đến thăm ông. Napoleon nói với nhà vua rằng ông không muốn chiến tranh, nhưng dư luận đã buộc ông phải làm vậy. Tối hôm đó, từ Lâu đài, Napoleon viết thư cho Hoàng hậu Eugénie:
Tôi không thể mô tả những gì tôi đã phải chịu đựng và những gì tôi đang chịu đựng bây giờ... Tôi thà chết còn hơn là đầu hàng một cách thảm khốc như vậy, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, đó là cách duy nhất để tránh cuộc tàn sát 60.000 người. Giá như tất cả những nỗi thống khổ của tôi tập trung ở đây! Tôi nghĩ về em, con trai của chúng ta và đất nước bất hạnh của chúng ta.[159]
Hậu quả
Tin tức về sự đầu hàng đến Paris vào ngày 3 tháng 9, xác nhận những tin đồn đã lan truyền trong thành phố. Khi Hoàng hậu nghe tin Hoàng đế và quân đội bị bắt làm tù binh, bà đã phản ứng bằng cách hét vào mặt phụ tá riêng của Hoàng đế: "Không! Một Hoàng đế không đầu hàng! Ông ta đã chết!...Họ đang cố giấu tôi. Tại sao ông ta không tự sát! Ông ta không biết mình đã tự làm nhục bản thân sao?!"[160] Sau đó, khi đám đông thù địch hình thành gần cung điện và các nhân viên bắt đầu bỏ chạy, Hoàng hậu đã lẻn ra ngoài cùng một người trong đoàn tùy tùng và tìm nơi trú ẩn với nha sĩ người Mỹ của bà, Thomas Evans, người đã đưa bà đến Deauville. Từ đó, vào ngày 7 tháng 9, bà đã đi du thuyền của một quan chức Anh đến Anh.
Vào ngày 4 tháng 9, một nhóm các đại biểu cộng hòa, do Léon Gambetta dẫn đầu, đã tập hợp tại Tòa thị chính Paris và tuyên bố sự trở lại của nền Cộng hòa và việc thành lập Chính phủ Vệ quốc. Đế chế thứ hai đã kết thúc.[161]
Bị giam cầm, lưu vong và qua đời

Từ ngày 5 tháng 9 năm 1870 đến ngày 19 tháng 3 năm 1871, Napoleon III và đoàn tùy tùng gồm 13 phụ tá của ông được giam giữ trong điều kiện thoải mái tại Cung điện Wilhelmshöhe gần Kassel, Đức ngày nay. Eugénie đã đến đó một cách bí mật để thăm Napoleon.[162]
Tướng Bazaine, đang ở trong pháo đài Metz cùng với phần lớn quân đội Pháp còn lại trong khi bị bao vây, đã có các cuộc đàm phán bí mật với các phái viên của Bismarck vào ngày 23 tháng 9. Ý tưởng là để Bazaine thiết lập một chế độ bảo thủ ở Pháp, cho chính ông ta hoặc cho con trai của Napoleon.[163] Phái viên của Bazaine, người đã nói chuyện với Bismarck tại Versailles vào ngày 14 tháng 10, tuyên bố rằng quân đội ở Metz vẫn trung thành với Napoleon. Bazaine sẵn sàng nắm quyền ở Pháp sau khi người Đức đánh bại nền cộng hòa ở Paris. Do vị thế của Pháp nói chung đang suy yếu, Bismarck đã mất hứng thú với lựa chọn này.[164]
Vào ngày 27 tháng 11, Napoleon soạn một bản ghi nhớ gửi Bismarck, trong đó nêu lên khả năng nhà vua Phổ có thể thúc giục người dân Pháp triệu hồi ông làm Hoàng đế sau khi một hiệp ước hòa bình được ký kết và Paris đầu hàng. Nhưng vào thời điểm này, Metz đã thất thủ, khiến Napoleon không còn cơ sở quyền lực. Bismarck không thấy nhiều cơ hội cho việc khôi phục đế chế, vì người dân Pháp sẽ coi Napoleon chỉ là con rối của kẻ thù.[165] Một sáng kiến cuối cùng của Eugénie đã thất bại vào tháng Giêng, do phái viên của bà từ London đến muộn. Bismarck từ chối công nhận cựu hoàng hậu, vì điều này đã gây ra sự khó chịu với Anh và Nga. Ngay sau đó, người Đức đã ký một hiệp định đình chiến với Chính phủ Pháp.[166]
Napoleon tiếp tục viết các bài luận và thư từ chính trị và mơ ước trở lại nắm quyền. Các ứng cử viên của Chủ nghĩa Bonaparte đã tham gia cuộc bầu cử đầu tiên cho Quốc hội vào ngày 8 tháng 2 nhưng chỉ giành được 5 ghế. Vào ngày 1 tháng 3, quốc hội mới được bầu chính thức tuyên bố phế truất hoàng đế và đổ hết mọi trách nhiệm về thất bại của Pháp lên ông.[162] Khi hòa bình được dàn xếp giữa Pháp và Đức, Bismarck đã thả Napoleon; hoàng đế quyết định đi lưu vong ở Anh. Do nguồn tài chính hạn chế, Napoleon đã bán tài sản và đồ trang sức và đến Anh vào ngày 20 tháng 3 năm 1871.

Napoleon, Eugénie, con trai của họ và đoàn tùy tùng đã định cư tại Camden Place,[167] một ngôi nhà nông thôn ba tầng lớn ở làng Chislehurst thuộc Kent, cách London nửa giờ đi tàu. Ông được Nữ hoàng Victoria tiếp đón, người cũng đã đến thăm ông tại Chislehurst.[168]
Louis-Napoleon có mối liên hệ lâu dài với Chislehurst và Camden Place: nhiều năm trước, khi bị lưu vong ở Anh, ông thường đến thăm Emily Rowles, người có cha sở hữu Camden Place vào những năm 1830. Bà đã giúp ông trốn thoát khỏi nhà tù Pháp năm 1846.[169]
Napoleon dành thời gian viết lách và thiết kế một loại bếp tiết kiệm năng lượng hơn. Vào mùa hè năm 1872, sức khỏe của ông bắt đầu xấu đi. Các bác sĩ khuyên nên phẫu thuật để loại bỏ sỏi bàng quang. Sau hai cuộc phẫu thuật, ông trở nên rất ốm yếu. Thất bại cuối cùng của ông trong chiến tranh sẽ ám ảnh vị cựu hoàng đế đang hấp hối trong những ngày cuối đời. Những lời cuối cùng của ông là "Chẳng phải chúng ta đã không phải là những kẻ hèn nhát ở Sedan sao?", hướng về Henri Conneau, người hầu cận của ông, người đã chiến đấu bên cạnh ông trong trận chiến. Ông được làm lễ xức dầu cuối cùng và qua đời vào ngày 9 tháng 1 năm 1873.[170]
Napoleon ban đầu được chôn cất tại Nhà thờ Công giáo St Mary's Church, Chislehurst. Tuy nhiên, sau khi con trai ông, một sĩ quan trong Quân đội Anh, qua đời năm 1879 khi chiến đấu chống lại người Zulu ở Nam Phi trong Chiến tranh Anh-Zulu, Eugénie đã quyết định xây dựng một tu viện và một nhà nguyện cho hài cốt của Napoleon III và con trai họ. Năm 1888, hài cốt được chuyển đến Hầm mộ Hoàng gia tại Tu viện St Michael, Farnborough, Hampshire, Anh.[171]
Cuộc sống cá nhân
Louis Napoleon có tiếng tăm trong lịch sử là một kẻ trăng hoa, nhưng ông lại nói: "Thường thì đàn ông mới là người tấn công. Còn tôi, tôi tự vệ, và tôi thường đầu hàng".[172] Ông có rất nhiều tình nhân. Trong suốt triều đại của mình, nhiệm vụ của Bá tước Felix Bacciochi, thư ký xã hội của ông, là sắp xếp các cuộc hẹn hò và tìm kiếm phụ nữ cho Hoàng đế. Các mối tình của ông không phải là những trò tiêu khiển tầm thường: chúng làm ông xao nhãng việc cai trị, ảnh hưởng đến mối quan hệ của ông với hoàng hậu, và làm giảm uy tín của ông trong mắt các triều đình châu Âu khác.[173]

Trong số rất nhiều người tình và tình nhân của ông có:[174]
- Maria Anna Schiess (1812–1880), đến từ Allensbach (Hồ Constance, Đức), họ có 1 con trai ngoài giá thú là Bonaventure Karrer (1839–1921).[175]
- Mary Louisa Edwards (1814–1894), tình nhân của ông ở London từ năm 1839 đến năm 1840. Louis Napoleon gọi bà là "Comtesse d'Espel" và sắp xếp cho bà ở Brasted Place, Kent. Bà đóng vai trò trong việc tổ chức cuộc đảo chính bất thành của ông ở Boulogne vào tháng 8 năm 1840. Bà đến thăm ông trong tù ở Ham vào năm 1840 và 1841.[176]
- Eléonore Vergeot, người giặt giũ trong nhà tù ở Ham, và họ có với nhau 2 người con là Eugène Bure (1843–1910) và Alexandre Bure (1845–1882).[177]
- Rachel Felix (1821–1858), "nữ diễn viên nổi tiếng nhất châu Âu."
- Harriet Howard (1823–1865), một nữ diễn viên giàu có và là người ủng hộ tài chính chính.
- Virginia Oldoini, Nữ bá tước xứ Castiglione (1837–1899), một điệp viên, nghệ sĩ và người đẹp nổi tiếng, được Camillo Cavour cử đi để gây ảnh hưởng đến chính sách của Hoàng đế.
- Marie-Anne Walewska (1823–1912), một người có thể là tình nhân, là vợ của Bá tước Alexandre Colonna-Walewski, họ hàng và bộ trưởng ngoại giao của ông.
- Justine Marie Le Boeuf, còn được biết đến với tên Marguerite Bellanger (1838–1886), một nữ diễn viên và vũ công nhào lộn. Bellanger bị đồn thổi là con gái ngoài giá thú của một đao phủ, và bà là người bị ghét nhất trong số các tình nhân, mặc dù có lẽ là người hoàng đế yêu thích nhất.[178]
- Nữ bá tước Louisa de Mercy-Argenteau (1837–1890), có thể họ là một mối quan hệ thuần khiết, bà đã viết tác phẩm Tình yêu cuối cùng của một Hoàng đế, hồi ký của bà về mối quan hệ với hoàng đế.
Vợ ông, Eugénie, đã chống lại những lời tán tỉnh của ông trước khi kết hôn. Bà được mẹ và bạn mình, Prosper Mérimée, hướng dẫn. "Con đường đến trái tim nàng là gì?" Napoleon hỏi. "Qua nhà thờ, thưa bệ hạ," bà trả lời.[172] Tuy nhiên, sau khi kết hôn, không lâu sau ông đã ngoại tình vì Eugénie xem quan hệ tình dục với ông là "ghê tởm".[172] Có nghi ngờ rằng bà đã cho phép chồng mình tiếp tục ngoại tình sau khi bà sinh cho ông một người thừa kế.[173]
Đến cuối những năm 40 tuổi, Napoleon bắt đầu mắc nhiều bệnh tật, bao gồm bệnh thận, sỏi bàng quang, nhiễm trùng bàng quang và tuyến tiền liệt mãn tính, viêm khớp, bệnh gút, béo phì và tác hại mãn tính của việc hút thuốc. Năm 1856, Tiến sĩ Robert Ferguson, một chuyên gia tư vấn được mời từ London, đã chẩn đoán ông mắc chứng "suy nhược thần kinh" có "tác động làm suy yếu khả năng tình dục..."[174] mà Robert cũng đã báo cáo điều này cho chính phủ Anh.[173]
Di sản
Công trình
Cùng với Prosper Mérimée, Napoléon III tiếp tục tìm cách bảo tồn nhiều công trình kiến trúc thời trung cổ ở Pháp đã bị bỏ quên kể từ Cách mạng Pháp, một dự án mà Mérimée đã bắt đầu trong thời kỳ Quân chủ tháng Bảy. Với Eugène Viollet-le-Duc làm kiến trúc sư trưởng, nhiều công trình đã được cứu, bao gồm một số công trình nổi tiếng nhất ở Pháp: Nhà thờ Đức Bà Paris, Mont Saint-Michel, Carcassonne, Tu viện Vézelay, Lâu đài Pierrefonds và Lâu đài Roquetaillade.
Napoléon III cũng chỉ đạo việc xây dựng mạng lưới đường sắt Pháp, góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác than và thép ở Pháp. Bước tiến này đã thay đổi hoàn toàn bản chất của nền kinh tế Pháp, đưa nước này bước vào thời đại hiện đại của chủ nghĩa tư bản quy mô lớn.[179] Nền kinh tế Pháp, lớn thứ hai thế giới vào thời điểm đó (sau nền kinh tế Anh), đã trải qua sự tăng trưởng rất mạnh mẽ trong triều đại của Napoléon III.[180] Những cái tên như ông trùm thép Eugène Schneider và ông trùm ngân hàng James Mayer de Rothschild là biểu tượng của thời kỳ này. Hai trong số những ngân hàng lớn nhất của Pháp, Société Générale và Crédit Lyonnais, vẫn còn tồn tại đến ngày nay, được thành lập trong giai đoạn đó. Thị trường chứng khoán Pháp cũng mở rộng mạnh mẽ, với nhiều công ty khai thác than và thép phát hành cổ phiếu. Các nhà sử học ghi nhận công lao chủ yếu của Napoleon trong việc hỗ trợ đường sắt, nhưng không phải trong việc xây dựng nền kinh tế nói chung.[181]
Áp lực quân sự của Napoleon và những sai lầm của Nga, đỉnh điểm là Chiến tranh Krym, đã giáng một đòn mạnh vào Liên minh châu Âu, vì nó đã gây ra một cuộc chiến tranh làm gián đoạn hòa bình hậu Napoleon, mặc dù giải pháp ngoại giao cuối cùng cho cuộc chiến đã chứng minh sức sống bền bỉ của hệ thống này. Liên minh dựa trên sự ổn định và cân bằng quyền lực, trong khi Napoleon cố gắng sắp xếp lại bản đồ thế giới theo hướng có lợi cho Pháp.
Một khẩu pháo 12 pound do Pháp thiết kế thường được gọi là "pháo Napoleon" hoặc "pháo 12 pound Napoleon" để vinh danh ông.
Đánh giá và danh tiếng

Danh tiếng lịch sử của Napoleon III thấp hơn nhiều so với bác của ông và đã bị hoen ố nặng nề bởi những thất bại quân sự của đế chế ở Mexico và chống lại Vương quốc Phổ. Victor Hugo miêu tả ông là "Napoleon Nhỏ" (Napoléon le Petit), một người tầm thường, trái ngược với Napoleon I "Đại đế", được miêu tả là một thiên tài quân sự và hành chính. Ở Pháp, sự đối lập gay gắt từ nhân vật văn học trung tâm của thời đại, người có những lời công kích ám ảnh và mạnh mẽ nhắm vào Napoleon III, đã khiến việc đánh giá khách quan triều đại của ông trong một thời gian rất dài trở nên bất khả thi. Karl Marx, trong tác phẩm Ngày 18 tháng Brumaire của Louis Napoleon (The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte), đã nổi tiếng chế giễu Napoleon III bằng cách nói rằng "Hegel nhận xét ở đâu đó rằng tất cả các sự kiện và nhân vật lịch sử vĩ đại của thế giới đều xuất hiện, nói một cách nào đó, hai lần. Ông quên thêm: lần đầu tiên là bi kịch, lần thứ hai là trò hề". Napoleon III thường được coi là một nhà lãnh đạo độc đoán nhưng không hiệu quả, người đã đưa Pháp vào những cuộc phiêu lưu quân sự nước ngoài đáng ngờ, và cuối cùng là thảm họa.[182]
Đến những năm 1930, các nhà sử học coi Đế chế thứ hai là tiền thân của chủ nghĩa phát xít, nhưng đến những năm 1950, họ lại ca ngợi nó như một ví dụ hàng đầu về một chế độ hiện đại hóa.[183][76] Tuy nhiên, nhìn chung, các nhà sử học đã đưa ra những đánh giá tiêu cực về chính sách đối ngoại của Napoleon, và những đánh giá tích cực hơn một chút về chính sách đối nội của ông, đặc biệt là sau khi ông tự do hóa chế độ cai trị của mình sau năm 1858. Những thành tựu lớn nhất của ông đến từ những cải thiện về vật chất, dưới hình thức một mạng lưới đường sắt vĩ đại tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và kết nối quốc gia lại với nhau, tập trung vào Paris. Ông được đánh giá cao về việc xây dựng lại Paris với những đại lộ rộng lớn, các tòa nhà công cộng nổi bật, các khu dân cư rất hấp dẫn dành cho tầng lớp thượng lưu ở Paris, và các công viên công cộng lớn, bao gồm Bois de Boulogne và Bois de Vincennes, được tất cả các tầng lớp người dân Paris sử dụng.[184] Ông đã thúc đẩy kinh doanh và xuất khẩu của Pháp. Trong chính sách quốc tế, ông đã cố gắng noi theo bác của mình, với nhiều cuộc phiêu lưu đế quốc trên khắp thế giới, cũng như các cuộc chiến tranh ở châu Âu. Ông đã xử lý sai lầm nghiêm trọng mối đe dọa từ Phổ và thấy mình không có đồng minh nào trước sức mạnh áp đảo.[185]
Trong phim
Napoleon đã được khắc họa bởi:
- Walter Kingsford in
- The Story of Louis Pasteur (1936)
- A Dispatch from Reuter's (1940)
- Frank Vosper trong Spy of Napoleon (1936)
- Guy Bates Post trong
- Maytime (1937)
- The Mad Empress (1939)
- Leon Ames trong Suez (1938)
- Claude Rains trong Juarez (1939)
- Walter Franck trong Bismarck (1940)
- Jerome Cowan trong The Song of Bernadette (1943)
- David Bond trong The Sword of Monte Cristo (1951)
- Siegfried Wischnewski trong Maximilian von Mexiko (1970).[186]
- Robert Dumont trong Those Years (tiếng Tây Ban Nha: Aquellos años, 1973).[187]
- Julian Sherrier trong Edward the Seventh (1975)
- Nick Jameson trong The Secret Diary of Desmond Pfeiffer (1998)
- Erwin Steinhauer trong Sisi (2009).[188]
- Christophe Malavoy trong Ludwig II (2012)
Napoleon III cũng đóng một vai trò nhỏ nhưng quan trọng trong "April and the Extraordinary World" (2015).
Trong tiểu thuyết
Napoleon III là nhân vật chính (cùng với Horatio Hornblower) của C. S. Forester trong Cuộc Gặp Gỡ Cuối Cùng (The Last Encounter).[189] Cuộc sống trong Đế chế thứ hai được miêu tả trong chu kỳ sử thi Rougon-Macquart gồm 20 tiểu thuyết của Émile Zola. Napoleon III xuất hiện trong La Curée (1872), khi gia đình Saccard tham dự một buổi khiêu vũ tại Tuileries.
Tước hiệu, phong cách, vinh dự và huy hiệu
Tước hiệu và phong cách
Trong nhiệm kỳ làm Tổng thống của Đệ Nhị Cộng hòa Pháp, Louis Napoleon Bonaparte đã sử dụng danh xưng và tước hiệu "His Imperial Highness, Thân vương-Tổng thống của Cộng hòa Pháp". Sau khi trở thành hoàng đế, danh xưng và tước hiệu của ông trở thành "His Majesty Napoleon Đệ Tam, nhờ ân điển của Chúa và ý chí của Quốc gia, Hoàng đế của nước Pháp".[190]
Với tư cách là người đứng đầu nhà nước Pháp, Napoleon III cũng là Đồng Vương công Andorra, từ năm 1848 với tư cách là Thân vương-Tổng thống của Cộng hòa Pháp, và từ năm 1852 với tư cách là Hoàng đế của nước Pháp.
Vinh danh
Trong nước[191]
- Huân chương Bắc đẩu bội tinh hạng nhất (1848; đính kim cương năm 1870),
- Huân chương quân sự (1852; đính kim cương năm 1870),
- Huân chương kỷ niệm Chiến dịch Ý năm 1859 (đính kim cương năm 1870),
Nước ngoài[191]
Sardegna:- Hiệp sĩ Dòng Truyền Tin, "Ngày 13 tháng 7 năm 1849"
- Đại thập tự Huân chương Quân sự Savoy, "Ngày 28 tháng 9 năm 1855"
- Huân chương Vàng về lòng dũng cảm quân sự, 1859
Lãnh địa Giáo hoàng: Thập tự lớn Huân chương Giáo hoàng Piô IX, 1849
Tuscany: Thập tự lớn Huân chương Thánh Joseph, 1850
Spain: Hiệp sĩ Huân chương Lông cừu vàng, "Ngày 17 tháng 9 năm 1850"
Grand Duchy of Hesse: Thập tự lớn Huân chương Ludwig, "Ngày 18 tháng 7 năm 1852"
Bồ Đào Nha:- Thập tự lớn Huân chương Tháp và Kiếm, "Ngày 3 tháng 8 năm 1852"
- Thập tự lớn Sash of the Three Orders, "Ngày 7 tháng 10 năm 1854"
- Thập tự lớn Huân chương Thánh James của Kiếm, "Ngày 3 tháng 4 năm 1865"
Sachsen: Knight of the Order of the Rue Crown, 29 December 1852
Brasil: Grand Cross of the Order of the Southern Cross, 23 March 1853
Bayern: Knight of the Order of St. Hubert, 22 September 1853- Mexico:
Mexican Republic: Grand Cross of the Order of Guadalupe, 12 January 1854
Mexican Empire: Grand Cross of the Imperial Order of the Mexican Eagle, with Collar, 1 January 1865
Belgium: Grand Cordon of the Order of Leopold, 15 February 1854
Ernestine duchies: Grand Cross of the Saxe-Ernestine House Order, 1 March 1854
Áo: Grand Cross of the Order of St. Stephen, 1854
Two Sicilies: Grand Cross of the Order of Saint Ferdinand and of Merit, 1854
Liên hiệp Anh: Knight of the Order of the Garter, 18 April 1855
Denmark: Knight of the Order of the Elephant, 2 August 1855
Netherlands: Grand Cross of the Military William Order, 13 September 1855
Sweden-Norway:- Knight of the Order of the Seraphim, 10 October 1855
- Knights Grand Cross of the Order of the Sword, 1st Class, 26 August 1861
Ottoman Empire:- Order of the Medjidie, 1st Class, 1855
- Order of Osmanieh, 1st Class, in Diamonds, 1862
Baden:- Knight of the House Order of Fidelity, 17 April 1856
- Grand Cross of the Order of the Zähringer Lion, 17 April 1856
Prussia:- Knight of the Order of the Black Eagle, 8 June 1856
- Grand Cross of the Order of the Red Eagle, 8 June 1856
Württemberg: Grand Cross of the Order of the Württemberg Crown, 1856
Nga:- Knight of the Order of St. Andrew, 11 June 1856
- Knight of the Order of St. Alexander Nevsky, 11 June 1856
- Knight of the Order of the White Eagle, 11 June 1856
- Knight of the Order of St. Anna, 1st Class, 11 June 1856
Persia: Grand Cross of the Order of the Lion and the Sun, 1856
Hesse-Kassel: Knight of the Order of the Golden Lion, 10 January 1858
Nassau: Knight of the Order of the Golden Lion of Nassau, 2 May 1858
Hanover:- Knight of the Order of St. George, 1860
- Grand Cross of the Royal Guelphic Order[192]
Tunisia: Husainid Family Order, 17 September 1860
Saxe-Weimar-Eisenach: Grand Cross of the Order of the White Falcon, 14 November 1860
Greece: Grand Cross of the Order of the Redeemer, 1863
Honduras: Grand Cross of the Order of Santa Rosa and of Civilization, 1869
Monaco: Grand Cross of the Order of St. Charles, 16 November 1869[193]
Các tác phẩm của Napoléon III
- Des Idées Napoleoniennes – Bản phác thảo quan điểm của Napoléon III về hướng đi tối ưu cho nước Pháp, được viết trước khi ông lên ngôi Hoàng đế.
- History of Julius Caesar – Một tác phẩm lịch sử ông viết trong thời trị vì của mình. Ông đã so sánh chính trị của Julius Caesar với chính trị của bản thân cũng như của chú mình.
- Études sur le passé et l'avenir de l'artillerie – một tác phẩm nhiều tập về lịch sử pháo binh. Tập 1 và 2 do ông viết; tập 3-6 do Idelphonse Favé tiếp tục, với phụ đề: Histoire des progrès de l'artillerie.
- Napoléon III đã viết một số bài báo về các vấn đề quân sự, khoa học (điện từ học, ưu nhược điểm của đường củ cải so với đường mía), các chủ đề lịch sử (các vị vua Stuart của Scotland), và về tính khả thi của kênh đào Nicaragua]. Ông cũng viết cuốn sách nhỏ "Sự tuyệt chủng của nghèo đói". (OCLC 318651712, JSTOR 60201169) giúp ích cho sự thăng tiến chính trị của ông.
Đọc thêm
Chú thích
- ↑ Strauss-Schom 2018, tr. 1–2.
- 1 2 3 4 5 McMillan, James F. (1991). Napoleon III. London: Longman. tr. 8–33.
- ↑ Bresler 1999, tr. 20.
- ↑ Séguin 1990, tr. 21–24.
- ↑ Milza 2006, tr. 15.
- ↑ Bresler 1999, tr. 37.
- ↑ Séguin 1990, tr. 26.
- ↑ Milza 2006, tr. 39–42.
- ↑ Bresler 1999, tr. 94–95.
- ↑ Milza 2006, tr. 58–72.
- ↑ Milza 2006, tr. 72–77.
- ↑ Séguin 1990, tr. 55–56.
- ↑ Fisher, Herbert Albert Laurens (1908). Bonapartism, six lectures delivered in the University of London. Oxford: Clarendon Press. tr. 87.
- ↑ Séguin 1990, tr. 61–62.
- ↑ Séguin 1990, tr. 68.
- ↑ "Louis-Napoléon Bonaparte". elysee.fr (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Milza 2006, tr. 97–100.
- ↑ Milza 2006, tr. 107–108.
- ↑ "Napoleon III". Leamington History Group. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Milza 2006, tr. 122–133.
- ↑ Strauss-Schom 2018, tr. 65–70.
- ↑ Quoted in Séguin 1990, tr. 81.
- ↑ Séguin 1990, tr. 83.
- ↑ Séguin 1990, tr. 89. Translated by D. Siefkin.
- ↑ Séguin 1990, tr. 93.
- ↑ Séguin 1990, tr. 96–97.
- ↑ Séguin 1990, tr. 102.
- ↑ Séguin 1990, tr. 105.
- ↑ Séguin 1990, tr. 106.
- ↑ Séguin 1990, tr. 108–109.
- ↑ Milza 2006, tr. 182.
- ↑ Séguin 1990, tr. 111.
- ↑ Milza 2006, tr. 182–190.
- ↑ Séguin 1990, tr. 115.
- ↑ Séguin 1990, tr. 125.
- ↑ Séguin 1990, tr. 123.
- ↑ Séguin 1990, tr. 124.
- ↑ Milza 2006, tr. 189–190.
- 1 2 Milza 2006, tr. 194.
- ↑ Roger Price (1997). Napoléon III and the Second Empire. Psychology Press. tr. 16. ISBN 978-0-2031-3424-5.
- ↑ Milza 2006, tr. 208–209.
- ↑ Cobban 1965, tr. 155.
- ↑ Ronald Aminzade (1993). Ballots and Barricades: Class Formation and Republican Politics in France, 1830–1871. Princeton University Press. tr. 299. ISBN 978-0-6910-2871-2.
- ↑ Cobban 1965, tr. 156.
- ↑ John Stevens Cabot Abbott (1873). The history of Napoleon III., emperor of the French. B.B. Russell. tr. 418.
- ↑ Milza 2006, tr. 255.
- ↑ Milza 2006, tr. 261.
- ↑ Cobban 1965, tr. 157–158.
- 1 2 Cobban 1965, tr. 158.
- ↑ Cobban 1965; Milza 2006.
- ↑ Cobban 1965, tr. 159.
- ↑ Milza 2006, tr. 271.
- 1 2 Edward Berenson; Vincent Duclert; Christophe Prochasson (2011). The French Republic: History, Values, Debates. Cornell University Press. tr. 34. ISBN 978-0-8014-6112-5.
- ↑ John Andrew Frey (1999). A Victor Hugo Encyclopedia. Greenwood. tr. 20. ISBN 978-0-3132-9896-7.
- ↑ Milza 2006, tr. 277.
- 1 2 Milza 2006, tr. 279.
- ↑ Speech of 9 October in Bordeaux, published in Le Moniteur. Cited in Milza 2006, tr. 283.
- ↑ Price 2001, p. 407.
- ↑ Dieter Nohlen & Philip Stöver (2010) Elections in Europe: A data handbook, pp. 673–683 ISBN 978-3-8329-5609-7
- ↑ Milza 2006, tr. 468.
- ↑ Milza 2006, tr. 467–469.
- ↑ Plessis 1988, tr. 60–61.
- ↑ Milza 2006, tr. 471–474.
- ↑ Milza 2006, tr. 475.
- ↑ Milza 2006, tr. 474.
- ↑ Milza 2006, tr. 486.
- ↑ De Moncan 2009, tr. 15.
- ↑ De Moncan 2009, tr. 21.
- ↑ Milza 2006.
- ↑ Ayers, Andrew (2004). The Architecture of Paris. Stuttgart; London: Edition Axel Menges. ISBN 978-3-9306-9896-7
- 1 2 Jarrassé 2007.
- ↑ Jarrassé 2007, tr. 134.
- ↑ Séguin 1990, tr. 199–204.
- ↑ Séguin 1990, tr. 204–210.
- ↑ Wolf 1963, tr. 253.
- 1 2 Spitzer 1962, tr. 308–329.
- ↑ Case 1954.
- ↑ Price 2001, p. 43.
- ↑ David Brown, "Palmerston and Anglo–French Relations, 1846–1865," Diplomacy & Statecraft (2006) 17 (4): 675–692.
- ↑ Parry, Jonathan Philip (2003). "The impact of Napoleon III on British politics, 1851–1880". Transactions of the Royal Historical Society. 6th Series. Quyển 11. Cambridge University Press. tr. 147–175. ISBN 978-0-5218-1560-4.
- ↑ Hicks, Peter (2016). "'Palmerston's Follies': a reply to the French 'threat'". Napoleon.org – The History Website of the Fondation Napoleon. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "Fort Clonque Alderney, Channel Islands". The Landmark Trust. 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2019.
- 1 2 Milza 2006, tr. 382–386.
- ↑ Milza 2006, tr. 388–389.
- ↑ Milza 2006, tr. 392–395.
- ↑ Markham 1975, tr. 199
- ↑ Taylor, Alan J. P. (1954). The Struggle for Mastery of Europe. Oxford: Oxford University. tr. 412. ISBN 978-0-1988-1270-8.
- ↑ Milza 2006, tr. 407–412.
- ↑ Milza 2006, tr. 357–362.
- ↑ cited in Milza 2006, tr. 414.
- ↑ Milza 2006, tr. 415–420.
- ↑ Giboureau, Martine. "Réception des ambassadeurs siamois par l'empereur Napoléon III au palais de fontainebleau". L'histoire par l'image (bằng tiếng French). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ "Réception des ambassadeurs siamois par l'empereur Napoléon III au palais de Fontainebleau le 27 juin 1861".
- ↑ Don H. Doyle (2014). The Cause of All Nations: An International History of the American Civil War. Basic Books. tr. 303. ISBN 978-0-4650-8092-2.
- ↑ Cunningham2001.
- ↑ Spillmann, Georges (1975). Napoléon III et le royaume arabe d'Algérie / par le général Georges Spillmann (bằng tiếng Anh). tr. 95, 101.
- ↑ "Protectorates and Spheres of Influence – Spheres of influence prior to World War II" American Foreign Relations.
- ↑ Cayuqueo, Pedro (2020). Historia secreta mapuche 2 (bằng tiếng Tây Ban Nha). Santiago de Chile: Catalonia. tr. 59. ISBN 978-9-5632-4783-1.
- 1 2 Bengoa, José (2000). Historia del pueblo mapuche: Siglos XIX y XX (bằng tiếng Tây Ban Nha) . LOM Ediciones. tr. 187, 227–230. ISBN 9-5628-2232-X.
- ↑ Girard 1986, tr. 200–201.
- ↑ "History of the Hotel du Palais, the former Villa Eugenie". Grand Hotels of the World.com
- ↑ Girard 1986, tr. 202–204.
- ↑ Published in Le Moniteur Universel on 24 April 1863. Cited in Maneglier 1990, tr. 173.
- ↑ Maneglier 1990.
- ↑ Maneglier 1990, tr. 173.
- ↑ Séguin 1990, tr. 314.
- ↑ Séguin 1990, tr. 313.
- ↑ Wechsler, Judith. “Daumier and Censorship, 1866–1872.” Yale French Studies, no. 122, 2012, pp. 53–78. JSTOR 23646026. Accessed 4 June 2024.
- ↑ Séguin 1990, tr. 314–317.
- ↑ René Viviani, Henri Robert and Albert Meurgé Cinquante-ans de féminisme: 1870–1920, Ligue française pour le droit des femmes, Paris, 1921
- 1 2 Milza 2006, tr. 592.
- ↑ Milza 2006, tr. 598.
- ↑ Séguin 1990, tr. 241–243.
- ↑ Séguin 1990, tr. 304.
- 1 2 Séguin 1990, tr. 306–307.
- 1 2 Séguin 1990, tr. 309.
- ↑ Séguin 1990, tr. 345–346.
- ↑ Séguin 1990, tr. 346–347.
- ↑ Plessis 1988.
- ↑ Milza 2006, tr. 568–569.
- ↑ Séguin 1990, tr. 370.
- ↑ Beale, Lauren. "Test The Waters At A 19th Century Chateau In The Spa Town Of Vichy, France". Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2023.
- ↑ Girard 1986, tr. 449.
- ↑ Séguin 1990, tr. 338.
- ↑ Girard 1986, tr. 450.
- ↑ "Napoleon III | Biography, Significance, Death, & Facts | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2023.
- ↑ Girard 1986, tr. 376–377.
- ↑ Milza 2006, tr. 649.
- 1 2 Girard 1986, tr. 380.
- ↑ Markham 1975, tr. 203
- ↑ Séguin 1990, tr. 387.
- ↑ Séguin 1990, tr. 389.
- ↑ Séguin 1990, tr. 392.
- ↑ Michael Howard (1981). The Franco-Prussian War: The German Invasion of France 1870–1871. Taylor & Francis. tr. 30, 38–39. ISBN 978-0-2039-9305-7.
- ↑ Morrow, James D. (1993). "Arms versus Allies: Trade-offs in the Search for Security". International Organization. 47 (2): 207–233. doi:10.1017/S0020818300027922. JSTOR 2706889. S2CID 154407327.
- ↑ Milza 2006, pp. 45–46 (2009 ed.).
- ↑ Milza 2006, pp. 46–47 (2009 ed.).
- ↑ Wawro 2005, pp. 238–239.
- ↑ Milza 2006, pp. 47–48 (2009 ed.).
- ↑ History of the XIX Century (1848–1871). In 5 volumes. Edited by Ernest Lavisse and Alfred Rambaud. 2nd ed., Vol. 5. Part 1. – M. p. 182
- ↑ Alison Kitson (2001). Germany 1858–1990: Hope, Terror and Revival. Oxford UP. tr. 1870. ISBN 978-0-1991-3417-5.
- ↑ Séguin 1990, tr. 394.
- ↑ Milza 2006, pp. 47–50 (2009 ed.).
- ↑ Milza 2006, p. 52 (2009 ed.).
- ↑ Milza 2006, pp. 55–56 (2009 ed.).
- ↑ Milza 2006, pp. 57–59 (2009 ed.).
- ↑ Girard 1986, tr. 473.
- ↑ Milza 2006, pp. 69–70 (2009 ed.).
- ↑ Milza 2006, p. 61 (2009 ed.).
- ↑ Milza 2006, pp. 80–81 (2009 ed.).
- ↑ Milza 2006, p. 81 (2009 ed.).
- 1 2 Milza 2006, p. 92 (2009 ed.).
- ↑ Girard 1986, tr. 480.
- ↑ Girard 1986, tr. 482.
- ↑ Strauss-Schom 2018, tr. 404–418.
- 1 2 Milza 2006, tr. 708.
- ↑ Milza 2006, tr. 709.
- ↑ Milza 2006, tr. 79.
- ↑ Milza 2006, tr. 710.
- ↑ Milza 2006, tr. 711.
- ↑ Milza 2006, tr. 711–712.
- 1 2 Girard 1986, tr. 488.
- ↑ Wawro 2005, pp. 244–245.
- ↑ Wawro 2005, tr. 245–246.
- ↑ Wetzel 2012, tr. 174–175.
- ↑ Wetzel 2012, tr. 177–179.
- ↑ "Camden Place". chislehurst.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2016.
- ↑ Girard 1986, tr. 497–498.
- ↑ "The Residents of Camden Place". Chislehurst Golf Club. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Girard 1986, tr. 500.
- ↑ "St. Michael's Abbey, Farnborough". napoleon.org.
- 1 2 3 Betty Kelen (1966). The Mistresses: Domestic Scandals of the 19th-Century Monarchs. New York: Random House. tr. 102.
- 1 2 3 John Bierman (1988). Napoleon III and His Carnival Empire. New York City: St. Martin's Press. ISBN 0-3120-1827-4.
- 1 2 Baguley 2000
- ↑ "Napoleon III – seine Nachkommen (Descendants)". Nachkomme, Descendant Napoleon III. ngày 13 tháng 8 năm 2008.
- ↑ "Napoléon III et les femmes – H. Fleischmann". Mediterranee-antique.fr. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Les enfants de Napoléon et Eléonore Vergeot" (bằng tiếng Pháp). Société d'Histoire du Vésinet. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2008.
- ↑ Markham 1975, tr. 201
- ↑ Wawro 2005, p. 8.
- ↑ "France – The Second Empire, 1852–70". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2021.
- ↑ Charles P. Kindleberger, Economic Growth in France and Britain 1851–1950 (1964) pp. 6, 42, 186–188
- ↑ Stephen E. Hanson (2010). Post-Imperial Democracies: Ideology and Party Formation in Third Republic France, Weimar Germany, and Post-Soviet Russia. Cambridge UP. tr. 90. ISBN 978-1-1394-9149-5.
- ↑ Roger Price, "Napoleon III and the French Second Empire: A Reassessment of a Controversial Period in French History." Historian (1996) #52 : 4–10.
- ↑ De Moncan, Patrice, "Les Jardins du Baron Haussmann" (2009), pp. 9–10
- ↑ Wolf 1963, tr. 275.
- ↑ "Maximilian von Mexiko". Internet Movie Database. ngày 20 tháng 3 năm 1970. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Aquellos años". Internet Movie Database. ngày 21 tháng 3 năm 1974. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Sisi". Internet Movie Database. ngày 16 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
- ↑ Forester, C. S. (ngày 8 tháng 5 năm 1966). "The Last Encounter". Sunday Mirror. tr. 8–10.
- ↑ "Napoléon's Titles". Heraldica.org. 26 August 2011. Retrieved 29 January 2013
- 1 2 Botta-Kouznetzoff, Nicolas; Chabanne, Laure; và đồng nghiệp (2010). Écrins impériaux, splendeurs diplomatiques du Second Empire. Société des amis du musée de la Légion d'honneur. ISBN 978-2-9016-4417-0.
- ↑ Staat Hannover (1865). Hof- und Staatshandbuch für das Königreich Hannover: 1865. Berenberg. tr. 73.
- ↑ Sovereign Ordonnance of 16 November 1869
Xem thêm
- Anceau, Eric (2008), Napoléon III, un Saint-Simon à cheval (bằng tiếng Pháp), Paris, Tallandier.
- Bierman, John (1989). Napoleon III and His Carnival Empire. London: John Murray. ISBN 978-0-7195-4638-9.
- Bury, J. P. T. (1964). Napoleon III and the Second Empire. Perennial Library. ASIN B0032OSXA0.
- Campbell, Stuart L. The Second Empire Revisited: A Study in French Historiography (1978)
- Carroll, Christina. "Defining 'Empire' under Napoleon III: Lucien-Anatole Prévost-Paradol and Paul Leroy-Beaulieu." Proceedings of the Western Society for French History Vol. 41 2013. online
- Choisel, Francis (2015), La Deuxième République et le Second Empire au jour le jour (bằng tiếng Pháp), chronologie érudite détaillée, Paris, CNRS Editions.
- Clark, Christopher (2023). Revolutionary Spring: Fighting for a New World 1848–1849. Penguin Random House.
- Corley, T. A. B. (1961). Democratic Despot: A Life of Napoleon III. Greenwood Press. ISBN 978-0-8371-7587-4.
- De la Rosa, Miquel. French Liberalism and Imperialism in the Age of Napoleon III: Empire at Home, Colonies Abroad (Springer Nature, 2022).
- de Riquet, Marie-Clotilde-Elisabeth Louise, The Last Love of an Emperor: reminiscences of the Comtesse Louise de Mercy-Argenteau, née Princesse de Caraman-Chimay, describing her association with the Emperor Napoleon III and the social and political part she played at the close of the Second Empire (Doubleday, Page & Co., 1926).
- Duff, David (1978). Eugénie and Napoleon III. Collins. ISBN 978-0-6880-3338-5.
- Echard, William E., ed. Historical Dictionary of the French Second Empire, 1852–1870 (Greenwood, 1985).
- Echard, William E. Napoleon III and the Concert of Europe (1983) online
- Evans, T. W., Memoirs of the Second French Empire, (New York, 1905)
- Golicz, Roman. “Napoleon III, Lord Palmerston and the Entente Cordiale.” History Today 50#12 (December 2000): 10–17, online.
- Gooch, Brison D., biên tập (1966). Napoleon III – Man of Destiny: Enlightened Statesman or Proto-Fascist?. Holt, Rinehart and Winston. ISBN 978-0-2320-7011-8.
- Gooch, Brison D. The reign of Napoleon III (1969). online
- Guedalla, Philip (1923). The Second Empire. ASIN B00085CK6Y.
- Guenot, Emmanuelle. "Napoleon III and France's colonial expansion: National grandeur, territorial conquests and colonial embellishment, 1852–70." in Crowns and colonies (Manchester University Press, 2016) pp. 211–226.
- Guerard, Albert (1947). Napoleon III A Great Life In Brief. Carroll & Graf Pub. ISBN 978-0-7867-0660-0.
- McAuliffe, Mary. Paris, City of Dreams: Napoleon III, Baron Haussmann, and the Creation of Paris (Rowman & Littlefield, 2020).
- McMillan, James F. (1991). Napoleon III. Profiles In Power. Routledge. ISBN 978-0-5824-9483-1.
- Newman, E. L. Historical Dictionary of France from the 1815 Restoration to the Second Empire (2 vol 1987).
- Osgood, Samuel M., ed. Napoleon III – Buffoon, Modern Dictator, or Sphinx? (Heath, 1963), excerpts from historians and from secondary sources.
- Pinkney, David H. (1955). "Napoleon III's Transformation of Paris: The Origins and Development of the Idea". Journal of Modern History. 27 (2): 125–134. doi:10.1086/237781. JSTOR 1874987. S2CID 144533244.
- Pinkney, David H. (1958). Napoleon III and the Rebuilding of Paris. Princeton University Press. ISBN 0-6910-0768-3.
- Price, Roger (1997). Napoleon III and the Second Empire. Routledge. ISBN 978-0-4151-5433-8.; brief scholarly biography.
- Price, Roger (2002). "Napoleon III: 'hero' or 'grotesque mediocrity'?". Trong Cowling, Mark; Martin, James (biên tập). Marx's 'Eighteenth Brumaire': (Post)Modern Interpretations. Pluto Press. tr. 145–162. ISBN 978-0-7453-1830-1.
- Ridley, Jasper (1980). Napoleon III and Eugenie. Viking. ISBN 978-0-6705-0428-2.
- Sainlaude, Stève. France and the American Civil War: A Diplomatic History (2018)
- Thompson, J. M. (1955). Louis Napoleon and the Second Empire. The Noonday Press.
- Schnerb, Robert. "Napoleon III and the Second French Empire." Journal of Modern History 8#3 (1936), pp. 338–55. online
- Tulard, Jean (dir.), (1995), Dictionnaire du Second Empire (bằng tiếng Pháp), Paris, Fayard, 1348 p. [thiếu ISBN]
- Wetzel, David (2001). A Duel of Giants: Bismarck, Napoleon III, and the Origins of the Franco-Prussian War. University of Wisconsin Press. ISBN 978-0-2991-7494-1.
- Williams, Roger Lawrence (1957). Gaslight and shadow: The World of Napoleon III 1851–1870. New York: Macmillan & Co Ltd. ASIN B001NHPZ72.
- Williams, Roger Lawrence. The Mortal Napoleon III (Princeton University Press, 2015.), medical emphasis online
- Zeldin, Theodore (1958a). The Political System of Napoleon III. New York: Macmillan.
- Zeldin, Theodore (1958b). "The Myth of Napoleon III". History Today. 8 (2): 103–109.
Liên kết ngoài
- Napoleon III (emperor of France) tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
- NAPÔLÊÔNG III tại Từ điển bách khoa Việt Nam
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
- Sinh năm 1808
- Mất năm 1873
- Vua Pháp
- Hoàng tử Pháp (Bonaparte)
- Hoàng tử Pháp
- Tổng thống Pháp
- Vương tộc Bonaparte
- Người Paris
- Napoléon Bonaparte
- Người Pháp gốc Ý
- Vua theo đạo Công giáo Rôma
- Tử vong bệnh truyền nhiễm ở Anh
- Napoléon III
- Người nhận Huân chương Đại bàng trắng (Nga)
- Tử vong vì nhiễm trùng huyết
- Hoàng đế Pháp
- Bắc Đẩu Bội tinh hạng nhất
- Người được nhận Huân chương lông cừu vàng Tây Ban Nha
- Vương tử
