Bước tới nội dung

Motobu Chōki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Motobu Chōki
Motobu Chōki
Ngày sinh

Nơi sinh
(1870-04-05)5 tháng 4, 1870
làng Akahira, Shuri, Vương quốc Ryūkyū
Ngày mất15 tháng 4, 1944(1944-04-15) (74 tuổi)
Shuri, Nhật Bản Nhật Bản
Võ thuậtShuri-te, Tomari-te, Motobu-ryū
ThầyMatsumura Sōkon, Sakuma Pechin, Itosu Ankō, Matsumora Kosaku
HạngSōke (Tông sư), sáng lập Motobu-ryū
Học trò nổi danhMotobu Chōsei (con trai), Tatsuo Yamada, Sannosuke Ueshima, Yasuhiro Konishi, Hironori Ōtsuka, Tatsuo Shimabuku, Shōshin Nagamine, Katsuya Miyahira
WebsiteMotobu-ryu

Motobu Chōki (Nhật: 本部 朝基 (Bản-Bộ Triều-Cơ)/ もとぶ ちょうき? ngày 5 tháng 5 năm 1870 – ngày 15 tháng 4 năm 1944) là một võ sư Karate (琉球唐手) người Okinawa.

Ông được tạp chí King số tháng 9 năm Đại Chính thứ 14 (1925) ca ngợi là: "Sinh ra trong danh gia vọng tộc Motobu của vùng Lưu Cầu, sở hữu kỹ thuật chiến đấu karate dũng mãnh trong thực chiến, tại quê nhà không ai là không biết đến vị đại cao thủ này".[1] Ngay từ độ tuổi 20, ông đã nổi danh với sức mạnh huyền thoại và được xưng tụng là "Võ sư Karate mạnh nhất" thời tiền chiến. Ông cũng là người sáng lập của hệ phái Nihon Denryū Heihō Motobu Kenpō, hay còn gọi là Motobu-ryu.[2]

Tiểu sử

Thời niên thiếu

Motobu Chōki sinh ngày 5 tháng 4 năm Minh Trị thứ 3 (1870) tại làng Akahira, Shuri (nay là thị trấn Shuri-Akahira, thành phố Naha, Okinawa). Ông là con trai thứ ba của Motobu Chōshin – Án tư, người đứng đầu gia tộc Motobu Udun (本部御殿).[2] Ấu danh của ông là "Majirā" (真三良), biệt danh thường gọi là "Khỉ chúa Motobu" (本部御殿の猿御前, サーラーウメー) hay "Khỉ Motobu" (本部の猿, サールー)[Ghi chú 1] do sự nhanh nhẹn phi thường của ông.[2]

"Ngự điện" (御殿, Udun) là từ dùng để chỉ dinh thự nơi hoàng tộc sinh sống, đồng thời cũng là tôn xưng dành cho hoàng tộc. Motobu Udun là một nhánh của hoàng gia Lưu Cầu, có thủy tổ là Motobu Chōhei (1655–1687), vương tử thứ sáu của vua Shō Shitsu (1629–1668). Với tư cách là phân gia của nhà vua, địa vị của gia tộc này tương đương với Miyake (Cung gia) tại Nhật Bản. Ngoài ra, Motobu Udun đời đời là lãnh chúa cai quản vùng Motobu Magiri (nay là thị trấn Motobu), là một trong những danh gia lớn nhất của Vương quốc Lưu Cầu.

Thời kỳ tại Okinawa

Motobu Chōki đang đi bài kata Naihanchi

Motobu Chōki yêu thích võ thuật từ nhỏ. Từ năm 12 tuổi (tuổi mụ, tức 11 tuổi dương), ông đã mời đại sư của dòng Shuri-te (首里手) là Itosu Ankō về làm gia sư dạy Karate (Đường Thủ), và cùng tập luyện với anh trai cả là Motobu Chōyū (本部 朝勇).[2] Thời gian ông theo học thầy Itosu được cho là khoảng 7, 8 năm. Khi trưởng thành, ông tiếp tục theo học các đại sư khác của dòng Shuri-te như Matsumura Sōkon và Sakuma Pechin (佐久間 親雲上). Ngoài ra, ông còn thọ giáo đại sư dòng Tomari-te (泊手) là Matsumora Kōsaku (松茂良 興作), đặc biệt được truyền dạy về kỹ thuật giao đấu (Kumite – 組手).

Chōki đam mê tập luyện Đường Thủ đến mức có câu cửa miệng "Võ là Ta, Ta là Võ". Ngoài các vị thầy kể trên, ông còn tìm đến hầu hết các võ nhân có tên tuổi để cầu giáo, trực tiếp tham gia thử sức và đắm mình vào việc nghiên cứu Đường Thủ.

Không thỏa mãn với việc chỉ tập luyện tại võ đường, Chōki thường tìm đến khu kỹ viện Tsuji-machi (辻町) thời bấy giờ để thực hiện vô số các trận Kakedameshi (Thử chiêu) và được cho là chưa từng nếm mùi thất bại. Trong giới võ sư karate lúc đó vốn chủ yếu tập trung vào đi quyền (Kata – 型), ông là một sự tồn tại khác biệt. Dù bị một số võ sư khác phê phán, nhưng đến năm 24, 25 tuổi, uy danh võ thuật của ông đã vang dội đến mức "ngay cả đứa trẻ lên 3 cũng biết".

Mặc dù có phong cách "tà đạo" như việc tham gia Kakedameshi, nhưng việc Chōki có thể theo học nhiều đại sư được cho là nhờ vào xuất thân cựu hoàng tộc của mình. Sau cuộc Phế phiên lập huyện, tại tỉnh Okinawa vẫn tồn tại sự đối đầu giữa Đảng Khai hóa (phe cải cách) và Đảng Ngoan cố (phe bảo thủ) xung quanh vấn đề độc lập hay quy thuộc. Một bộ phận tầng lớp cai trị cũ thậm chí còn lưu vong sang nhà Thanh để vận động chi viện cho độc lập. Do đó, Chính phủ Minh Trị đã thực hiện Chính sách bảo tồn cựu quán (旧慣温存策) để ưu đãi tầng lớp cai trị cũ. Nhờ vậy, không khí phong kiến vẫn còn tồn tại đến cuối thời Minh Trị. Chính bối cảnh thời đại này đã giúp Chōki có đặc quyền thụ giáo các đại sư.

Bên cạnh việc mài giũa kỹ thuật qua thực chiến, Chōki còn cùng người bạn thân đồng môn (dưới trướng Matsumura và Itosu) là Yabu Kentsu (屋部 憲通) tiến hành nghiên cứu Kumite trong nhiều năm.[3] Kinh nghiệm từ hàng trăm trận Kakedameshi cùng thành quả nghiên cứu với Yabu sau này đã kết tinh trong các tác phẩm của ông.

Thời kỳ tại Lục địa Nhật Bản

Motobu Chōki và Yamada Tatsuo thực hiện bài Motobu 12 Kumite (năm Đại Chính 15)

Khoảng năm Đại Chính (Taishō) thứ 10 (1921), do thất bại trong kinh doanh, Chōki rời quê hương lên Osaka làm việc. Tháng 11 năm Đại Chính 11 (1922), trong một lần đi chơi tại Kyoto, ông tình cờ chứng kiến một trận đấu biểu diễn giữa Quyền AnhJudo. Ông đã nhảy lên võ đài tham chiến và hạ gục võ sĩ Boxer người nước ngoài chỉ bằng một đòn đánh.[2] Lúc đó ông đã 52 tuổi.[2]

Sự kiện này sau đó được đăng tải trên tạp chí quốc dân King số tháng 9 năm 1925 (của Đại Nhật Bản Hùng Biện Hội Giảng Đàm Xã) – tạp chí đầu tiên trong lịch sử xuất bản Nhật Bản cán mốc 1 triệu bản in.[4] Nhờ đó, danh tiếng của Motobu Chōki và môn võ Đường Thủ xuất xứ từ Okinawa bỗng chốc nổi tiếng trên toàn quốc.

Năm Đại Chính 12 (1923), ông tổ chức các buổi biểu diễn Đường Thủ tại Trường Sư phạm Mikage (nay là Đại học Kobe) và Sở Cảnh sát Mikage, tỉnh Hyōgo. Cũng trong thời gian này, ông thành lập Hội Phổ cập Karate-jutsu tại thành phố Osaka. Yamada Tatsuo (người sáng lập Nihon Kenpo Karatedo) là một trong những người gia nhập hội. Năm Đại Chính 15 (1926), ông xuất bản cuốn sách đầu tiên trong lịch sử Karate viết về Kumite mang tên "Okinawa Kenpo Tode-jutsu Kumite-hen". Trong sách này, ông công bố 12 thế giao đấu quy ước, hay còn gọi là Motobu 12 Kumite (朝基十二本組手). Đây là bộ Kumite quy ước cổ nhất còn tồn tại, là tư liệu quý giá mà lịch sử Kumite của Karate không thể truy ngược xa hơn được nữa.

Năm Chiêu Hòa (Shōwa) thứ 2 (1927), Chōki chuyển đến Tokyo và bắt đầu giảng dạy karate.[2] Tại Tokyo, dưới sự chủ trì của Konishi Yasuhiro (người sau này lập phái Shinto Jinen-ryu) – vốn cũng là môn đệ của Funakoshi Gichin, Hội hậu thuẫn Motobu Chōki được thành lập. Ông đảm nhiệm vai trò Sư phạm (Shihan) đời đầu của Câu lạc bộ Karate Đại học Toyo và Bộ Đường sắt.[2] Năm Chiêu Hòa thứ 4 (1929), Otsuka Hironori (người sau này lập phái Wado-ryu), cũng là một môn đệ của Funakoshi, đã tìm đến bái sư Motobu. Otsuka sau này hồi tưởng: "Dù sao đi nữa, ấn tượng về ông Motobu là một người mạnh mẽ không thể bàn cãi".[5] Cũng trong thời gian này, ông mở võ đường Karate tên là "Daidō-kan" (hay Đại Đạo Quán) tại Koishikawa-Haramachi, Tokyo (nay là Hakusan, khu Bunkyo). Nagamine Shoshin (phái Matsubayashi-ryu) cũng đã đến đây để theo học ông.

Chụp cùng các đại gia Karate hoạt động tại lục địa. Motobu Chōki (giữa), Funakoshi Gichin (bên trái), Mabuni Kenwa (bên phải). Ngoài ra còn có Otsuka Hironori, Toyama Kanken (遠山 寛賢, phiên âm Hán-Việt: Viễn Sơn Khoan Hiền), v.v. Tại Tokyo, thập niên 1930.

Năm Chiêu Hòa thứ 7 (1932), Chōki xuất bản cuốn sách thứ hai tựa đề "Watashi no Tode-jutsu" (私の唐手術, phiên âm Hán-Việt: Đường thủ thuật của tôi).[2] Cuốn sách này được in với số lượng ít trước chiến tranh và thất lạc trong thời gian dài sau thế chiến, nhưng gần đây đã được tìm thấy và tái bản. Sách có đăng tải hình ảnh toàn bộ các cử động của bài quyền Naihanchi (ナイファンチ) – sở trường của ông – cùng phần phân thế (Bunkai), góp phần dẫn đến sự tái đánh giá tầm quan trọng của Naihanchi trong những năm gần đây.

Cũng trong giai đoạn này, tay đấm quyền anh huyền thoại, nhà vô địch hạng lông (Featherweight) phương Đông là Piston Horiguchi (ピストン堀口) đã đến thăm Đại Đạo Quán.[Ghi chú 2] Chōki nói với Horiguchi: "Cứ xông vào thoải mái", và rồi trong khi vẫn mặc bộ Dotera (áo kimono chần bông dày), ông hóa giải toàn bộ các cú đấm của Horiguchi, nhập nội và dừng nắm đấm ngay sát mi tâm của đối thủ. Horiguchi cúi đầu bái phục: "Không được rồi, hoàn toàn không đánh lại được, tôi xin thua" và giải thế thủ. Lúc đó Chōki đã ngoài 60 tuổi.

Vì Chōki quá chú trọng vào Naihanchi, ông từng bị gièm pha là chỉ biết mỗi bài quyền này. Tuy nhiên thực tế ông còn dạy cả Passai (パッサイ) và Seisan (セイサン). Ngoài ra, ông còn được thầy Itosu Ankō truyền dạy bài Channan (チャンナン) – nguyên mẫu của bài Pinan.[6] Ông cũng dạy bài quyền tên là Shirokuma (Bạch Hùng) – có thuyết cho rằng đây chính là Channan. Theo Otsuka Hironori,[7] bất kể hỏi về cách dùng hay phân thế của Kata nào, Motobu đều có thể trả lời ngay lập tức, chứng tỏ ông thực sự tinh thông hệ thống bài quyền một cách toàn diện.

Những năm cuối đời

Năm Chiêu Hòa thứ 12 (1937), Chōki tạm thời trở về quê hương để khảo sát về karate. Ông quay lại Tokyo sau đó, nhưng đến năm Chiêu Hòa 16 (1941), ông quyết định hồi hương để gửi nắm xương tàn nơi đất mẹ. Tháng 4 năm Chiêu Hòa 19 (1944), ông qua đời, hưởng thọ 75 tuổi (tuổi mụ).

Trái ngược với hình ảnh hung dữ được lan truyền từ các giai thoại thử chiêu, Motobu Chōki thực tế được cho là người có tính cách ôn hòa. Các đệ tử sau này hồi tưởng: "Thầy Motobu xuất thân là lãnh chúa Okinawa nên rất đĩnh đạc và độ lượng" (Otsuka Hironori), hay "Tôi chưa từng gặp một người thầy nào, ở bất cứ bộ môn nào, sở hữu sư đức cao vời như thầy, kể cả trước đó hay sau này" (Nakata Mizuhiko).

Các đệ tử khác của Motobu Chōki bao gồm: Marukawa Kenji, Nakata Mizuhiko, Takano Genjuro, Higashionna Hiroshi, Sodeyama Hosaku (Shinto Jinen-ryu), Ueshima Sannosuke (Kushin-ryu), Miyahira Katsuya (Kobayashi-ryu), Nakama Chozo (Kobayashi-ryu). Karate của Motobu Chōki hiện vẫn được kế thừa liên tục thông qua phái Motobu-ryu do con trai trưởng Motobu Chosei làm Tông gia (Soke), cũng như trong các lưu phái của những đệ tử có duyên với ông.

Motobu Chōki Ngữ Lục

Trích 12 câu trong tổng số 38 câu được ghi lại trong phần "Lời dạy của thầy Motobu Chōki" do Nakata Mizuhiko chấp bút năm 1978, nằm trong cuốn Ryūkyū kenpō karate-jutsu tatsujin Motobu Chōki seiden của Konuma Tamotsu.

  1. Vạn vật đều là tự nhiên, và là sự biến hóa.
  2. Thế thủ nằm ở trong tâm, không phải ở bên ngoài.
  3. "Meotode" (夫婦手, Phu Thụ Thủ – Tay vợ chồng) là nguyên tắc không thể thiếu của Karate. Trong cuộc sống hàng ngày – ví dụ như khi rót rượu, khi cầm chén, khi cầm đũa – người tu luyện quyền pháp phải luôn tuân thủ nguyên tắc này và biến "Meotode" thành bản năng của mình.
  4. Phải rèn luyện để chỉ cần nhìn thoáng qua là biết được lực đánh (Atemi – 当身) của kẻ đó mạnh yếu thế nào.
  5. Đối với kẻ có lực đánh yếu ớt, không cần thiết phải đỡ từng đòn. Nên tấn công dứt điểm ngay lập tức.
  6. Karate là Tiên thủ (Sente, 先手 – ra đòn trước/chủ động).
  7. Cách vận dụng hông và chân của bài Naihanchi là nền tảng của karate.
  8. Bài Naihanchi khi xoay sang trái hoặc phải sẽ tạo thành thế tấn thực chiến. Nếu suy nghĩ về việc xoay trái phải trong Naihanchi, sẽ hiểu được nhiều ý nghĩa hàm chứa trong từng động tác.
  9. Tay đỡ phải lập tức biến thành tay tấn công. Một tay đỡ, tay kia đánh không phải là võ thuật chân chính. Tiến xa hơn, đỡ và đánh phải diễn ra đồng thời, đó mới là võ thuật thực sự.
  10. Đối với karate chân chính, không thể có chuyện đấm liên hoàn (combo). Bởi vì nếu bị karate chân chính đỡ đòn, đối phương sẽ không còn cơ hội tung ra đòn tiếp theo.
  11. Thật thú vị là, dù ta chỉ ngồi yên nhưng khi đi quyền trong tâm tưởng, mồ hôi tự nhiên vẫn toát ra.
  12. Trong karate của ta không có các thế tấn như Neko-ashi (猫足), Tấn trước (Zenkutsu – 前屈), Tấn sau (Kokutsu – 後屈). Cái gọi là Neko-ashi là một dạng "phù túc" (chân nổi/không bám đất) tối kỵ trong võ thuật, nếu bị húc thân (Tai-atari – 体当たり) sẽ bị thổi bay ngay lập tức. Tấn trước, Tấn sau cũng là những thế đứng thiếu tự nhiên, cản trở sự linh hoạt của đôi chân. Thế tấn trong karate của ta, dù là khi đi quyền hay giao đấu, đều giống như Naihanchi: đầu gối hơi chùng xuống, di chuyển tự do. Khi công phòng thì siết gối hạ eo, nhưng không dồn trọng tâm quá nhiều về trước hay sau, mà luôn phân bổ đều lên hai chân.

Tác phẩm

  • Okinawa Kenpo karate-jutsu Kumite-hen (沖繩拳法 唐手術 組手編, Okinawa Quyền pháp Đường thủ thuật: phần về đối luyện), Hội Phổ cập Karate-jutsu, năm 1926.
  • Watashi no Karate-jutsu (私の唐手術, Karate của tôi), Hội Phổ cập Karate Tokyo, năm 1932.
  • Nihon Denryū Heiho Motobu Kenpo (日本伝流兵法本部拳法), NXB Sojinsha (Bản tái bản), năm Bình Thành 6 (1994).

Tài liệu tham khảo

Sách về Karate (唐手)

  • Iwai Kohaku (岩井 虎伯, phiên âm Hán-Việt: Nham Tỉnh Hổ Bá), Motobu Chōki to Ryukyu Karate (Motobu Chōki và Karate Lưu Cầu), NXB Airyu-do, 2000. ISBN 4750202479
  • Konuma Tamotsu, Ryukyu Kenpo Karatedo Tatsujin Motobu Chōki Seiden (Bản bổ sung), NXB Sojinsha, 2000. ISBN 4915906426
  • Nakasone Genwa biên soạn, Karate Kenkyu (Nghiên cứu Karate), NXB Kobukan, sơ bản ngày 5/12/Chiêu Hòa 9 . NXB Yoju Shorin (Bản tái bản) 2003. ISBN 4947667923
  • Karatedo (Không Thủ Đạo), NXB Sozo, năm Chiêu Hòa 52.
  • Miki Nisaburo, Takada Mizuho, Kenpo Gaisetsu, sơ bản ngày 10/1/Chiêu Hòa 5 . NXB Yoju Shorin. ISBN 4947667710

Tiểu thuyết

Các tác phẩm có Motobu Chōki là nhân vật chính:

Các tác phẩm có sự xuất hiện của Motobu Chōki:

  • Konno Bin, Gichin no Ken (義珍の拳, Nắm đấm của Gichin), NXB Shueisha, 2005. ISBN 4087747557

Chú thích

Ghi chú

  1. Cách gọi chơi chữ giữa "Sārū" (Khỉ - 猿) và "Sārā" (Tam Lương - 三良)
  2. Trong cuốn Motobu_Chōki Chính Truyện của Konuma Tamotsu (小沼 保) có ghi là hạng Gà (Bantamweight), nhưng thực tế Horiguchi thi đấu ở hạng Lông (Featherweight) và hạng Trung (Middleweight).

Nguồn dẫn

  1. Bài viết "Nhục đạn tương đả - Trận đại chiến Đường Thủ vs Quyền Anh", tạp chí King số tháng 9 năm Đại Chính 14, NXB Đại Nhật Bản Hùng Biện Giảng Đàm Xã (Kodansha).
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 本部 朝基 Motobu Chouki – 日本伝流兵法本部拳法. Trang thông tin tổng hợp Võ đạo - Võ thuật WEB Hiden (bằng tiếng Nhật). BAB Japan Co., Ltd. ngày 5 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2023.
  3. Trong bài phỏng vấn Yabu nằm trong cuốn Khái thuyết Quyền pháp của Miki Nisaburo và Takada Mizuho có đoạn: "Ông có mối thâm giao với thầy Motobu Chōki, cùng nhau nghiên cứu trong nhiều năm dài, nghe nói chủ yếu đặt trọng tâm vào thực chiến".
  4. 『雑誌『キング』』. Blog của Motobu-ryu (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2019.
  5. Tham khảo bài viết của Otsuka Hironori "Trước và sau Minh Chính Thục", trang 55 sách Không Thủ Đạo.
  6. Tham khảo trang 20 sách Nghiên cứu Karate.
  7. Tham khảo chuyên đề "Wado-ryu", tạp chí Nguyệt san Karatedo số tháng 9/2001.

Xem thêm

  • Karatedo
  • Shuri-te
  • Tomari-te
  • Danh sách võ sư Karate

Liên kết ngoài