Bước tới nội dung

Mao Tôn Cương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Mao Tông Cương (giản thể: 毛宗岗; phồn thể: 毛宗崗; bính âm: Máo Zōnggāng; 1632 1709; tự Tự Thủy 序始; hiệu Tử Am 子庵), và cha ông, Mao Luân (giản thể: 毛纶; phồn thể: 毛綸; bính âm: Máo Lún; tự Thanh Sơn 聲山) là những biên tập viên và nhà bình luận thời nhà Thanh, những nhân vật có nhiều ảnh hưởng đến quan niệm nghệ thuật truyền thống về văn học Trung Quốc.

Tầm ảnh hưởng

Cha con Mao Luân và Mao Tôn Cương được biết đến nhiều nhất với việc biên tập và bình luận về tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa. Họ thường được xếp chung với Trương Trúc Ba (張竹坡) và Kim Thánh Thán với tư cách là những nhà bình luận/biên tập viên có dufa (讀法, độc pháp, nghĩa đen là "cách đọc") đã diễn giải tiểu thuyết bằng vốn từ vựng và tiêu chuẩn phê bình mà cho đến lúc đó chỉ giới hạn ở thơ ca và hội họa. Sự đổi mới này đã nâng cao vị thế của tiểu thuyết đối với độc giả Trung Quốc và biến việc viết tiểu thuyết thành một hoạt động đáng kính trọng đối với những người có học thức. [1]

Bản Tam quốc diễn nghĩa được hiệu đính đáng kể nhất của cha con Mao Tôn Cương được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1679 (1680 theo lịch phương Tây), đã thành công đến mức đẩy các phiên bản trước đó ra khỏi thị trường và trong gần ba thế kỷ, đây là phiên bản duy nhất mà hầu hết độc giả Trung Quốc biết đến. Những lời bình luận của họ, hay dufa (cách đọc), đã giải thích các vấn đề đạo đức và lịch sử trong tiểu thuyết. dufa này không chỉ định hình phản ứng của độc giả mà còn giúp thiết lập tiểu thuyết như một thể loại được chấp nhận đối với những độc giả nghiêm túc chứ không phải là phù phiếm hay thậm chí là bất hợp pháp.[2]

Mặc dù ấn bản Tam quốc diễn nghĩa của hai cha con được xuất bản dưới tên Mao Tôn Cương, nhưng các học giả cho rằng Mao Luân là người chịu trách nhiệm chính. Người ta biết rất ít về Mao Luân, ngoài chi tiết ông bị mù trước tuổi trung niên và phải nhờ con trai mình để ghi chép. Mao Luân đã sống qua thời kỳ chinh phục thung lũng hạ lưu sông Dương Tử của người Mãn Châu vào những năm 1640 và đã phải chứng kiến bạn bè bị hành quyết vì trung thành với nhà Minh. Các học giả thường tranh luận liệu quan điểm của ông có phải là của một người trung thành với nhà Nam Minh hay không, và trong trường hợp đó, sự đồng cảm của ông có thể nằm ở nhóm trung thành trong Tam quốc diễn nghĩa. [3]

Biên tập Tam quốc diễn nghĩa

Vào thập niên 1660, dưới thời Khang Hi, Mao Luân và Mao Tông Cương đã biên tập và san định đáng kể các ấn bản Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa (三國志通俗演義 ) thời nhà Minh và đã sắp xếp nó thành 120 chương, viết tắt tên tựa thành Tam quốc chí diễn nghĩa (三國志演義).[3] Họ đã giảm số lượng ký tự từ 900.000 chữ xuống còn 750.000 chữ; cắt và bổ sung để cải thiện mạch truyện; giảm việc sử dụng thơ của bên thứ ba; thay thế thơ thông thường bằng những đoạn văn hay hơn; và loại bỏ hầu hết các đoạn ca ngợi các mưu sĩ và tướng lĩnh của phe Tào Tháo. Mao Luân không giải thích những thay đổi biên tập này cho độc giả của mình mà tuyên bố rằng "phiên bản thông tục" (suben 俗本, tục bản) trước đó đã làm sai lệch văn bản gốc. Mao tuyên bố đã tìm thấy một "phiên bản cổ" (guben 古本, cổ bản) thể hiện đúng ý muốn của tác giả.

Học giả Andrew West kết luận rằng "hầu như không có dòng nào không bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó bởi con dao mổ của Mao Luân." West tiếp tục, nhiều thay đổi văn bản này "có ý đồ thâm độc, vì chúng âm thầm định hình lại cách hiểu của người đọc về các nhân vật chính." Nghĩa là, có một câu hỏi đặt ra là liệu người đọc có nên coi Lưu Bị là hợp pháp vì ông là hậu duệ của nhà Hán, mặc dù địa vị của ông chỉ là quân chủ nước Thục, hay Tào Tháo, với địa vị Ngụy vương, đã chiếm đoạt hoàng quyền, vì là thế lực mạnh mẽ và có năng lực hơn. Mặc dù văn bản trước đó thừa nhận tính hợp pháp của nước Thục của Lưu Bị so với nước Ngụy của Tào Tháo, nhưng thái độ đối với Tào Tháo thường mâu thuẫn. Mặt khác, Mao Luân "rõ ràng ca ngợi Lưu Bị và lên án Tào Tháo."

“Thế lớn trong thiên hạ,phân lâu rồi lại hợp,hợp lâu rồi lại phân” từ lâu được hiểu là lời giới thiệu và triết lý của La Quán Trung, thực chất được cha con Mao Mao Luân thêm vào trong ấn bản sửa đổi đáng kể của họ vào năm 1679. Không có ấn bản nào trước đó chứa cụm từ này. Hơn nữa, các ấn bản trước đó dành nhiều thời gian hơn cho quá trình thống nhất đầy gian khổ và những cuộc đấu tranh của các anh hùng đã hy sinh vì nó.

Sau khi bản thảo Tam quốc chí diễn nghĩa của cha con Mao Tôn Cương được hoàn thành vào đầu những năm 1660, Mao Luân dự định giao bản thảo cho một người nào đó ở Nam Kinh để xuất bản, nhưng vào thời điểm đó, một trong những học trò của Mao Luân đã cố gắng giả mạo tác phẩm này là của mình. Việc xuất bản đã bị tạm dừng vì điều này, và ấn bản cha con họ Mao đầu tiên còn tồn tại của Tam quốc chí diễn nghĩa có lời tựa năm 1679, có lẽ phản ánh sự chậm trễ đã xảy ra.[4]

Biên tập Tỳ bà ký

Trong giai đoạn từ khi hoàn thành việc biên tập lại bộ Tam quốc chí diễn nghĩa cho đến khi xuất bản, Mao Luân và Mao Tôn Cương đã bình luận cho một tác phẩm khác, vở kịch Tỳ bà ký của tác gia Cao Minh (高明). Trong lời tựa của ấn bản Tỳ bà ký, Mao Luân giải thích rằng ông đã có ý tưởng bình luận về vở kịch này từ thời niên thiếu, nhưng mãi đến khi bị mù ông mới có thời gian rảnh rỗi để biến ý tưởng đó thành hiện thực.[5] Giống như những gì họ đã làm với Tam quốc chí diễn nghĩa, cha con họ Mao trình bày ấn bản Tỳ bà ký của họ như một văn bản cổ được phục hồi, chứ không phải là sự diễn giải của riêng họ. Về mặt này, họ phản ánh chặt chẽ phương pháp luận của Kim Thánh Thán, nhà bình luận Thủy hửTây sương ký cùng thời.[6] Tuy nhiên, không giống như bình luận mang tính lật đổ đạo đức của Kim Thánh Thán, cha con họ Mao có xu hướng khẳng định đạo đức thông thường.[7]

Những người ủng hộ cha con Mao giải thích Tỳ bà ký là phương tiện để Cao Minh chỉ trích một người quen. Cách giải thích này được ghi nhận là phổ biến vào thời đó, nhưng không dựa trên bằng chứng khách quan. Do đó, lời bình luận của Mao về Tỳ bà ký đã bị nhiều người đương thời như Lý Ngư và Trương Trúc Ba chỉ trích . [7]

Ghi chú

  1. Wang (1999).
  2. Li, Wai-yee (2001), "Full-Length Vernacular Fiction", trong Mair, Victor (biên tập), The Columbia History of Chinese Literature, NY: Columbia University Press, tr. 621–624
  3. 1 2 Roberts (1991), tr. 940.
  4. Rolston (1990), tr. 148-9.
  5. Rolston (1990), tr. 146.
  6. Rolston (1990), tr. 148.
  7. 1 2 Rolston (1990), tr. 147.

Tham khảo

  • Besio, Kimberly Ann & Constantine Tung (2007). Three Kingdoms and Chinese Culture. Albany: State University of New York Press. ISBN 978-0791470114.
  • Roberts, Moss (1991), "Afterword", trong Luo Guanzhong, attributed to (biên tập), Three Kingdoms, Berkeley: University of California Press
  • Luo, Guanzhong and translated from the Chinese with afterword and notes by Moss Roberts (1991). Three Kingdoms: A Historical Novel. Berkeley; Beijing: University of California Press; Foreign Languages Press. ISBN 0520068211.
  • Rolston, David L. (1990). How to read the Chinese novel. Princeton, N.J.: Princeton University Press. ISBN 0691067538.
  • Wang, Rumei 王汝梅 (1999). Jin Shengtan, Mao Zonggang, Zhang Zhupo 金圣叹·毛宗岗·张竹坡. Shenyang: Chunfeng wenyi chubanshe. ISBN 7531320290.
  • West, Andrew. The Textual History of Sanguo Yanyi The Mao Zonggang Recension, based on the author's "Quest for the Urtext: The Textual Archaeology of The Three Kingdoms" (PhD Dissertation, Princeton University, 1993), and his 三國演義版本考 Sanguo Yanyi Banben Kao [Study of the Editions of The Romance of the Three Kingdoms] (Shanghai: Shanghai Guji Chubanshe).