Lưu Tế Quân
| Lưu Tế Quân 劉細君 | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 130 TCN | ||||
| Mất | 101 TCN | ||||
| Phối ngẫu | Liệp Kiêu Mỹ (猎骄靡)Quân Tu Mỹ (军须靡) | ||||
| Hậu duệ | một con gái | ||||
| |||||
| Thân phụ | Giang Đô vương Lưu Kiến (刘建) | ||||
Giang Đô Công chúa Lưu Tế Quân (chữ Hán: 江都公主劉細君, 130 TCN - 101 TCN) là một hòa thân công chúa nhà Hán, là vợ của Ô Tôn Hoàng đế Côn Mạc Liệp Kiêu Mỹ (昆莫獵驕靡) nên còn được gọi là Ô Tôn Công chúa (烏孫公主). Ngoài ra, bà còn là nữ thi nhân đầu tiên được ghi chép và là công chúa đầu tiên trong lịch sử được ghi lại tên tuổi.
Cuộc đời
Lưu Tế Quân sinh vào năm Nguyên Quang thứ hai (130 TCN), là con gái thứ hai của Giang Đô vương Lưu Kiến (刘建, ? - 121 TCN) - con trai Giang Đô vương Lưu Phi (刘建), cháu nội của Hán Cảnh Đế Lưu Khải. Lưu Kiến sau khi kế thừa tước vị nổi tiếng dâm ô, không chỉ tư thông với thiếp thất của cha là Náo cơ (淖姬) và còn có hành vi dâm loạn với em gái mình là Lưu Trưng Thần (劉徵臣). Năm Nguyên Thú thứ hai (121 TCN), Lưu Kiến tiến hành tạo phản, trước khi hành động thì âm mưu bại lộ nên sợ tội mà tự sát. [1] Vương phi Mỗ thị (không rõ họ tên), mẹ của Tế Quân cũng bị xử chém đầu bởi Hán Vũ Đế vì tội đồng lõa. Gia quyến của bà đều bị liên lụy, trừ Tế Quân do năm ấy tuổi vẫn còn nhỏ nên được tha cho. [2] Cùng năm đó, vị Đại hãn của Hung Nô là Hồn Tà vương (渾邪王) đầu hàng nhà Hán, Hành lang Hà Tây chính thức thuộc về trung nguyên, thậm chí sau đó còn chiếm được Lop Nur, khi thiền vu Hung Nô là Y Trĩ Tà đầu hàng Hoắc Khứ Bệnh.
Từ sau khi thu phục, nhà Hán liên tục đưa các sứ thần đến phía Tây, điển hình như việc Trương Khiên hai lần đi sứ đến Ô Tôn vào năm Nguyên Đỉnh nguyên niên (116 TCN). Ô Tôn quốc cũng cử người đến Trường An và vô cùng ngưỡng mộ sự trù phú và phát triển của trung nguyên nên đã ra sức trợ giúp nhà Hán trong các chiến dịch quân sự. Năm 108 TCN, nhà Hán bắt sống được vua Lâu Lan, đánh bại quân lính từ thành Xa Sư (车师, nay gần Tân Cương). Hãn quốc Hung Nô cảm thấy bị nhà Hán đe dọa nên dùng vũ lực đe dọa Ô Tôn, buộc vua Ô Tôn chủ trương tìm kiếm một hôn nhân chính trị với nhà Hán để ngăn chặn sự xâm lược của Hung Nô.
Năm Nguyên Phong thứ sáu (105 TCN), vua Hán khi đó là Hán Vũ Đế quyết định gả Tông nữ Lưu Tế Quân cho Hoàng đế Ô Tôn với của hồi môn hào phóng bao gồm nhiều xe ngựa, vật dụng hoàng gia cùng hàng trăm quan chức, cung nữ và người hầu và thợ thủ công. Lưu Tế Quân trở thành hòa thân công chúa đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc - một chính sách được kéo dài cho đến khi chế độ phong kiến sụp đổ. Với độ tuổi lớn khi đi hòa thân (25 tuổi), rất có khả năng bà đã từng kết hôn, sau đó tái giá với Ô Tốn Hoàng đế.
Trước khi hòa thân, Hán Vũ Đế tấn phong bà làm Giang Đô Công chúa (江都公主), sau khi đến Ô Tôn quốc khi bà được Côn Mạc Liệp Kiêu Mỹ phong làm Hữu phu nhân (右夫人), địa vị cao nhất trong số các người vợ của vua khi đó. Cùng lúc này, Đại hãn Hung Nô cùng gả một nữ tử trong tộc cho ông, được phong làm Tả phu nhân (左夫人), địa vị Tế Quân khi đó ở thứ hai (do quan niệm "bên trái cao hơn bên phải"). Sau khi hòa thân, nhà Hán phái sứ thần sang thăm hỏi thường xuyên với tần suất hai năm một lần. [3] Lưu Tế Quân chỉ sống với Côn Mạc Liệp Kiêu Mỹ được hai năm và không có con với ông.
Chỉ hai năm sau đó, vào năm Thái Sơ thứ hai (103 TCN), Côn Mạc Liệp Kiêu Mỹ qua đời, Hữu phu nhân Lưu Tế Quân trở thành góa phụ. Theo tục lệ, bà trở thành vợ của Hoàng đế kế nhiệm, chính là cháu nội của Liệp Kiêu Mỹ, Quân Tu Mỹ (军须靡). Theo sử sách ghi lại, Công chúa được ghi nhận là vô cùng thống khổ, liên tục phản đối và cầu xin Hán Vũ Đế cho phép mình quay trở về cố hương. Hán Vũ Đế vì mục đích liên minh với Ô Tôn để chống Hung Nô nên không chấp nhận, bất đắc dĩ bà phải tái giá với Quân Tu Mỹ. Trong cuộc hôn nhân thứ hai này, bà sinh được một con gái tên Thiếu Phu (少夫).
Năm Thái Sơ thứ tư (101 TCN), Lưu Tế Quân trong nỗi buồn thảm mà qua đời. Hán Vũ Đế tiếp tục đưa một tông nữ khác là Lưu Giải Ưu (劉解憂) gả cho Quân Tu Mỹ, tiếp tục mối quan hệ này thêm hơn năm mươi năm nữa.
Tác phẩm
Giang Đô Công chúa, vì không biết nói tiếng Ô Tôn cũng như việc khó thích nghi được với cuộc sống xa lạ nơi thảo nguyên, trong nỗi nhớ mong quê hương đã viết nên 《Bi sầu ca》(悲愁歌), còn được gọi là 《Tế Quân Công chúa ca》hay 《Hoàng hộc ca》:[4]
- 吾家嫁我兮天一方,
- 遠托異國兮烏孫王。
- 穹廬為室兮旃為牆,
- 以肉為食兮酪為漿。
- 居常土思兮心內傷,
- 願為黃鵠兮歸故鄉。
Phiên âm:
"Ngô gia gả ngã hề thiên nhất phương,
Viễn thác dị quốc hề Ô Tôn vương.
Khung lư vi thất hề chiên vi tường,
Dĩ nhục vi thực hề lạc vi tương.
Cư thường thổ tư hề tâm nội thương,
Nguyễn vị hoàng hộc hề quy cố hương."
Bản dịch:
"Nhà ta gả ta đến một phương trời,
Gửi thân nơi xứ lạ [ôi] cho vua Ô Tôn.
Lều vòm (yurt) làm nhà [ôi] nỉ (dạ) làm tường,
Lấy thịt làm thức ăn [ôi] lấy sữa (lạc) làm đồ uống.
Càng ở (thường) càng nhớ quê hương [ôi] lòng đau xót,
Ước nguyện làm con hạc vàng [ôi] bay về cố hương."
《Bi sầu ca》được giới nghiên cứu văn học và sử học Trung Quốc đánh giá rất cao, không chỉ về giá trị nghệ thuật mà còn về giá trị lịch sử và nhân văn. Học giả thời Thanh là Thẩm Đức Tiềm cho rằng đây là một trong những bài thơ sớm nhất trong lịch sử mang thể ngũ ngôn mặc dù vẫn còn mang đậm phong cách Sở Từ. Chính sử Hán thư ghi lại rằng, sau khi Hán Vũ Đế đọc được bài thơ này đã rất thương cảm, nên mặc dù không đồng ý đưa bà về Trường An nhưng thường xuyên gửi tặng gấm vóc, thực phẩm từ quê nhà sang để an ủi bà. Bài thơ này trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm văn học nói về hòa thân, điển hình khi Lý Bạch khi viết về một ví dụ tiêu biểu khác là Vương Chiêu Quân.
Đánh giá
- Lưu Khắc Trang (劉克莊) thời nhà Tống:
玉座吞聲別,氈車觸目悲。
如何漢公主,去作虜閼氏。
Bản dịch:
"Ngai vàng nuốt lệ chia phôi,
Xe chiên (nỉ) trông thấy não nề ruột gan.
Cớ sao công chúa nhà Hán,
Làm vợ "Yên Chi" lũ giặc tàn?"
- Lưu Trọng Duẫn (劉仲尹) thời nhà Kim:
痩損昭陽鏡裏春,漢家公主奉烏孫。
淚痕滴盡穹廬月,誰道神香解返䰟。
Bản dịch:
"(Nhan sắc) gầy mòn, phai tổn vẻ xuân trong gương (ở cung) Chiêu Dương, (Bởi) Công chúa nhà Hán phải đi phụng sự (vua) Ô Tôn.
Vết lệ khóc cạn dưới ánh trăng (nơi) lều vòm, Ai bảo rằng "thần hương" (loại hương thần diệu) có thể gọi được hồn về?"
- Vương Thế Trinh (王世貞) thời nhà Minh:
妾人自慚兮,諸侯女。
謬托嘉名兮,漢翁主。
寵我餌我兮,作遠婚。
匈奴賤種兮,號烏孫。
昆彌老兮,非我偶。
少王壯兮,實餘後。
念欲一死兮,為國憂。
失身苟活兮,貽國羞。
丞相何人兮,爵通侯。
Bản dịch:
"Thiếp vốn tự thẹn, con Chư hầu,
Tên đẹp "Ông chủ", mượn mà thôi.
Vỗ về ban thưởng, gả đi xa,
Ô Tôn! Tiện chủng Hung Nô hôi!
Côn Mạc già rồi, đâu phải cặp?
Vua trẻ khỏe ghê, lại nối ngôi.
Nghĩ muốn chết đi, lo cho nước,
Thất thân sống tạm, nước xấu rồi.
Thừa tướng là ai, tên quan ấy?
Phong tước "Thông hầu" hưởng lộc thôi!"
- Khuất Đại Quân (屈大均) thời nhà Minh:
騊駼為食酪為漿,公主悲愁思故鄉。
黃鵠歸飛不可得,歲時一會烏孫王。
Bản dịch:
"Thịt ngựa cam đành, sữa uống thay,
Công chúa buồn rầu nhớ quê mây.
Hạc vàng mơ ước bay về khó,
Một năm gặp mặt vua Ô Tôn dăm bận này."
Xem thêm
Tham khảo
- ↑ Hán thư, tập 6.
- ↑ 劉細君的曾祖父是漢景帝劉啟,祖父是江都易王劉非。
- ↑ 《漢書·西域傳》:匈奴聞其與漢通,怒欲擊之。又漢使烏孫,乃出其南,抵大宛、月氏,相屬不絕。烏孫於是恐,使使獻馬,願得尚漢公主,為昆弟。天子問群臣,議許,曰:「必先內聘,然後遣女。」烏孫以馬千匹聘。漢元封中,遣江都王建女細君為公主,以妻焉。賜乘輿服御物,為備官屬宦官侍御數百人,贈送甚盛。烏孫昆莫以為右夫人。匈奴亦遣女妻昆莫,昆莫以為左夫人。
- ↑ 《漢書·西域傳》:公主悲愁,自為作歌曰:「吾家嫁我兮天一方,遠托異國兮烏孫王。穹廬為室兮旃為牆,以肉為食兮酪為漿。居常土思兮心內傷,願為黃鵠兮歸故鄉。」天子聞而憐之,間歲遣使者持帷帳錦繡給遺焉。
- Công chúa
- Công chúa nhà Hán
- Hòa thân