Lòng biết ơn


Lòng biết ơn (Gratitude) hay còn gọi là Sự cảm tạ (Thankfulness) hoặc Sự tri ân (Gratefulness) là thái độ trân trọng (hoặc sự cảm kích nồng nhiệt[1]) của người nhận đối với lòng tốt của người khác. Lòng tốt này có thể là những món quà[2], sự giúp đỡ, ân huệ, công lao, hoặc một hình thức hào phóng khác dành cho một người khác. Từ này trong tiếng Anh bắt nguồn từ từ tiếng Latinh là Gratus có nghĩa là "vui lòng" hoặc "biết ơn".[3] Khi thiếu vắng đi lòng biết ơn, tri ân hay cảm nhận về sự đáp lễ, cảm kích, cảm tạ, thì sẽ người ta gọi đó là sự vô ơn[4] (ingratitude) hoặc bội bạc (Ungratefulness).[5] Lòng biết ơn đã là một phần của nhiều giáo lý tôn giáo trên thế giới.[6] Lòng biết ơn cũng là một chủ đề thu hút sự quan tâm của các nhà triết học thời cổ đại, trung cổ và hiện đại.[7] Ngành tâm lý học cố gắng tìm hiểu trải nghiệm khoảnh khắc của lòng biết ơn, sự khác biệt cá nhân về mức độ thường xuyên cảm thấy biết ơn, mối quan hệ giữa hai yếu tố này và những lợi ích trị liệu của lòng biết ơn.[8] Lòng biết ơn là một chủ đề được quan tâm trong các chuyên ngành triết học như đạo đức học chuẩn mực (thể hiện lòng biết ơn chân thành, sâu sắc, vô hạn), đạo đức học ứng dụng, và triết học chính trị, cũng như trong lĩnh vực tâm lý học đạo đức.[7] A. D. M. Walker cho rằng, trái ngược với những quan điểm chỉ coi lòng biết ơn là một loại có qua có lại, lòng biết ơn là phù hợp ngay cả đối với một lòng tốt không có chủ ý, chẳng hạn như một lời nhận xét bâng quơ từ một người lạ. Walker quan sát thêm rằng Thomas Aquinas đã ca ngợi sự biết ơn đối với những gì mang lại lợi ích cho một người ngay cả khi điều đó được thực hiện từ sự khinh miệt, miễn cưỡng và hối tiếc.[9] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan tích cực giữa lòng biết ơn và sự an lạc ngày càng tăng, không chỉ đối với người bày tỏ lòng biết ơn mà còn đối với tất cả những người liên quan.[10][11][12]
Trong tôn giáo


Yếu tố tâm linh và lòng biết ơn không phụ thuộc vào nhau, nhưng các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng yếu tố tâm linh có thể gia tăng khả năng biết ơn của một người. Những người thường xuyên tham dự các buổi lễ tôn giáo hoặc tham gia vào các hoạt động tôn giáo có nhiều khả năng có ý thức biết ơn, đề tạ cao hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.[13][14] Lòng biết ơn được đánh giá cao trong các truyền thống Kitô giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo, Tôn giáo Bahá'í, và Ấn Độ giáo.[6] Việc thờ phượng với lòng biết ơn đối với Thiên Chúa,[15] hoặc một nhân vật tôn giáo tương tự (như đấng Ơn trên), là một chủ đề phổ biến trong các tôn giáo đó, và khái niệm lòng biết ơn thấm nhuần trong các văn bản tôn giáo, giáo lý và truyền thống. Đây là một trong những cảm xúc phổ biến nhất mà các tôn giáo hướng tới việc khơi gợi và duy trì ở các tín đồ và được coi là một tình cảm tôn giáo phổ quát.[16]
Martin Luther coi lòng biết ơn là "thái độ cơ bản của Kitô hữu" và ngày nay nó vẫn được coi là "trái tim của phúc âm".[16] Không chỉ đơn thuần là một cảm giác đa cảm, lòng biết ơn trong Kitô giáo là một đức tính định hình không chỉ cảm xúc và suy nghĩ, mà còn cả hành động và việc làm.[16] Allport (1950)[17] cho rằng những ý định tôn giáo trưởng thành xuất phát từ cảm giác biết ơn sâu sắc; Edwards (1746/1959)[18] khẳng định rằng "tình cảm" biết ơn là một trong những cách chính xác nhất để tìm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của một người. Trong một khảo sát chọn mẫu gồm các nữ tu và linh mục, trong số 50 cảm xúc thì tình yêu và lòng biết ơn là những cảm xúc được trải nghiệm nhiều nhất với Thiên Chúa.[19][6] Giáo hoàng Phanxicô đã lưu ý rằng một trong những bài học thường được học trong đời sống gia đình là học cách nói "cảm ơn" như "một biểu hiện của lòng biết ơn chân thành vì những gì chúng ta đã được ban tặng".[20] Trong các giáo hội Chính thống giáo, Công giáo, Lutheran và Anh giáo, nghi thức quan trọng nhất được gọi là Bí tích Thánh Thể (Eucharist); cái tên này bắt nguồn từ từ Eucharistic trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là tạ ơn.[21]
Trong Hồi giáo, kinh Kinh Qur'an đầy dẫy giáo điều về lòng biết ơn. Hồi giáo khuyến khích tín đồ biết ơn và bày tỏ lời tạ ơn đến Allah trong mọi hoàn cảnh. Người Hồi giáo thường bày tỏ lòng biết ơn của họ bằng cách sử dụng thuật ngữ "Alhamdulillah" (ngợi khen Thượng đế), thậm chí một số câu trong Kinh Qur'an còn chỉ ra rằng bổn phận chính là thể hiện lòng biết ơn, đơn cử như: "Rồi ta (Shaitan) sẽ xông vào chúng từ phía trước và phía sau, từ bên phải và bên trái của chúng. Và Ngài sẽ thấy hầu hết bọn chúng đều không biết ơn" (Kinh Qur'an 7:17). Trong câu này, Shaitan (chính là Satan) đang nói với Thánh Allah rằng Ngài sẽ không tìm thấy hầu hết con người biết ơn Ngài sau khi hắn (Shaitan) từ chối phủ phục trước Adam. Và thuật ngữ Kafir cũng có nghĩa là vô ơn (đối với Thánh Allah). Do đó, Ta (Allah) đã trừng phạt chúng vì sự vô ơn của chúng. Ta không ban ra hình phạt (như vậy) ngoại trừ đối với những kẻ vô ơn (Kinh Qur'an 34:17). Ta (Allah) đã chỉ cho chúng Con đường, dù chúng chọn biết ơn hay vô ơn (Kinh Qur'an 76:3). Giáo lý Hồi giáo nhấn mạnh rằng những người biết ơn sẽ được ban thưởng nhiều hơn. Một câu nói truyền thống của Hồi giáo là "Những người đầu tiên được triệu tập đến thiên đường là những người đã ngợi ca Thánh Allah trong mọi lúc mọi nơi".[22] Nhiều thực hành của Hồi giáo khuyến khích lòng biết ơn như kêu gọi cầu nguyện hàng ngày khuyến khích các tín đồ cầu nguyện năm lần một ngày để tạ ơn vì lòng tốt của Thánh Allah, và nhịn ăn trong tháng Ramadan để đưa tín đồ vào trạng thái biết ơn.[6]
Góc độ cá nhân
Điều quan trọng cần lưu ý là các yếu tố văn hóa và ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình các biểu hiện của lòng biết ơn trên toàn thế giới.[23][24][25] Nhiều nghiên cứu về lòng biết ơn tập trung vào sự khác biệt cá nhân trong lòng biết ơn và hậu quả của việc trở thành một người biết ơn nhiều hay ít.[22][26] Ba thang đo đã được phát triển để đo lường sự khác biệt cá nhân về lòng biết ơn, mỗi thang đo đánh giá các quan niệm có phần khác nhau.[27] Thang đo GQ6[28] đo lường sự khác biệt cá nhân về mức độ thường xuyên và cường độ cảm thấy biết ơn của con người. Thang đo Sự trân trọng (The Appreciation Scale)[29] đo lường tám khía cạnh khác nhau của lòng biết ơn: sự trân trọng mọi người, tài sản, khoảnh khắc hiện tại, các nghi lễ, cảm giác kinh ngạc, so sánh xã hội, những lo ngại hiện sinh và hành vi thể hiện lòng biết ơn. Thang đo GRAT[30] đánh giá lòng biết ơn đối với người khác, lòng biết ơn đối với thế giới nói chung và sự không oán giận đối với những gì bạn còn thiếu. Một nghiên cứu cho thấy tất cả các thang đo này đều đo lường cùng một cách tiếp cận cuộc sống; điều này cho thấy rằng sự khác biệt cá nhân về lòng biết ơn bao gồm tất cả các thành phần này.[27]
Sự an lạc


Lòng biết ơn không chỉ góp phần tạo ra những cảm xúc tích cực mà nó còn dẫn đến việc giảm bớt những cảm xúc tiêu cực.[32] Những người có lòng biết ơn cao hơn có mức độ tự thân an lạc cao hơn. Những người biết ơn hạnh phúc hơn, ít chán nản hơn, ít căng thẳng hơn,[33] và hài lòng hơn với cuộc sống cũng như các mối quan hệ xã hội của họ.[28][34][35] Lòng biết ơn có thể ngăn ngừa khỏi chứng trầm cảm bằng cách tăng cường việc mã hóa và ghi nhớ các trải nghiệm tích cực.[36] Những người biết ơn có xu hướng trải nghiệm sự phát triển cá nhân, tìm thấy mục đích, ý nghĩa cuộc sống trong cuộc sống và sẵn sàng chấp nhận bản thân. Họ có nhiều khả năng tìm kiếm sự hỗ trợ từ người khác cũng như diễn giải lại và phát triển từ các trải nghiệm, đồng thời họ dành nhiều thời gian hơn để lập kế hoạch giải quyết các vấn đề.[37][38] Những người ít biết ơn dựa vào các cơ chế đối phó tiêu cực, chẳng hạn như né tránh, tự đổ lỗi hoặc sử dụng chất kích thích.[38] Những người biết ơn cũng ngủ ngon hơn vì họ nghĩ nhiều điều tích cực hơn ngay trước khi đi ngủ.[39] Họ có xu hướng có các mối quan hệ tốt hơn, vì lòng biết ơn của một người có thể tác động tích cực đến sự hài lòng của đối tác trong mối quan hệ.[40] Những người biết ơn có nhiều khả năng có mức độ hạnh phúc cao hơn và mức độ căng thẳng cũng như trầm cảm thấp hơn.[22][41][10]
Mặc dù nhiều cảm xúc và đặc điểm tính cách rất quan trọng đối với sự an lạc và sức khỏe tâm thần, lòng biết ơn có thể đặc biệt quan trọng. Một nghiên cứu dọc cho thấy những người biết ơn nhiều hơn đã đối phó tốt hơn với quá trình chuyển đổi cuộc sống. Cụ thể, những người biết ơn nhiều hơn trước khi chuyển đổi ít bị căng thẳng hơn, ít chán nản hơn và hài lòng hơn với các mối quan hệ của họ sau ba tháng.[42] Hai nghiên cứu khác cho thấy lòng biết ơn có thể có mối quan hệ độc đáo với sự an lạc và có thể giải thích các khía cạnh của sự an lạc mà các đặc điểm tính cách khác không thể làm được. Cả hai nghiên cứu đều cho thấy lòng biết ơn có khả năng giải thích sự an lạc nhiều hơn Năm đặc điểm lớn và 30 trong số các đặc điểm tính cách được nghiên cứu phổ biến nhất.[34][37] Lòng biết ơn cũng có tác động tích cực đến sức khỏe thể chất.[43] Ví dụ, trong một nghiên cứu, thanh thiếu niên viết thư bày tỏ lòng biết ơn đối với người khác trong suốt một tháng có xu hướng ăn thực phẩm lành mạnh hơn.[43] Những người thể hiện lòng biết ơn cũng chứng tỏ sức khỏe tổng thể được cải thiện thông qua việc hoạt động thể chất nhiều hơn, ngủ ngon hơn, ít phải đi khám bệnh hơn và dinh dưỡng tốt hơn.[44] Thực hành lòng biết ơn có thể tương quan với những cải thiện nhỏ về sức khỏe tim mạch.[45]
Lòng vị tha
Lòng biết ơn khiến con người trở nên vị tha hơn. Một nghiên cứu cho thấy lòng biết ơn có tương quan với sự hào phóng về mặt kinh tế.[11] Nghiên cứu đã sử dụng một trò chơi kinh tế và cho thấy lòng biết ơn tăng lên làm trung gian trực tiếp cho việc trao tặng tiền tệ tăng lên, và những người biết ơn có nhiều khả năng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích cộng đồng. Một nghiên cứu khác cho thấy các mối tương quan tương tự giữa lòng biết ơn và sự đồng cảm, sự hào phóng và sự hữu ích đối với việc tạo ra sự có qua có lại trong xã hội, ngay cả với người lạ, điều mang lại lợi ích cho các cá nhân trong ngắn hạn và trung hạn.[14]
Tạo động lực
Lòng biết ơn có thể củng cố hành vi vì xã hội trong tương lai ở những ân nhân, người ơn. Một thí nghiệm cho thấy những khách hàng của một cửa hàng trang sức được gọi điện và cảm ơn đã cho thấy lượng mua hàng tăng 70% sau đó. Để so sánh, những khách hàng được gọi điện và thông báo về đợt giảm giá chỉ cho thấy mức tăng 30% khi mua hàng, trong khi những khách hàng không được gọi điện hoàn toàn không cho thấy sự gia tăng mua hàng nào.[46] Trong một nghiên cứu khác, những khách quen của một nhà hàng đã boa nhiều hơn khi những người phục vụ viết "Cảm ơn" (Thank you) trên hóa đơn của họ.[47] Cần phân biệt rõ ràng giữa lòng biết ơn và sự mang ơn. Mặc dù cả hai cảm xúc đều có thể xảy ra để đáp lại sự giúp đỡ hoặc ân huệ, nhưng sự mang ơn được cho là xảy ra khi một cá nhân nhận thức một cách chủ quan rằng họ có nghĩa vụ phải hoàn trả hoặc bù đắp cho sự trợ giúp đó.[48] Hai cảm xúc này sau đó dẫn đến những hành động khác nhau: Sự mang ơn có thể thúc đẩy người nhận tránh né người đã giúp đỡ họ, trong khi lòng biết ơn có thể thúc đẩy người nhận tìm đến ân nhân của họ và cải thiện mối quan hệ với họ.[49] Khác với lòng trắc ẩn hay nỗi buồn, lòng biết ơn làm giảm sự thèm thuốc lá, cho thấy vai trò tiềm năng trong việc giảm thiểu các hành vi rủi ro với sức khỏe cộng đồng.[50]
Danh ngôn
Lòng nhân từ thường xuyên làm vui lòng những kẻ biết ơn; tuy nhiên, đối với kẻ vô ơn, chỉ được một lần.
— Seneca[51]
Lòng biết ơn không chỉ là đức tính vĩ đại nhất, mà còn là khởi nguồn của tất cả các đức tính khác.
— Cicero
| “ | Sự biết ơn là một đức tính có lợi | ” |
| — Epicure[52] | ||
| “ | Khi bạn không có gì để đền đáp lại, thì việc đón nhận một cách nhiệt tình và đúng nghĩa cũng là một cách đền đáp thích hợp | ” |
| — Leigh Hunt[53] | ||
| “ | Không có ơn huệ trong một sự giúp đỡ có dụng ý | ” |
| — Seneca[54] | ||
Xem thêm
Chú thích
- ↑ Stewart McKay, William John (1922). "Lawson Tait, His Life and Work". A Contribution to the History of Abdominal Surgery and Gynaecology. Wood: 26.
- ↑ Barlow Felt, Joseph (1870). "New-England Historical and Genealogical Register and Antiquarian Journal". New-England Historical and Genealogical Register and Antiquarian Journal: 260.
- ↑ "Definition of Gratitude", Oxford Dictionary, Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2016
- ↑ Bate, John (1865). A Cyclopædia of Illustrations of Moral and Religious Truths. tr. 460.
- ↑ Webster, Noah (1854). An American Dictionary of the English Language. tr. 542.
- 1 2 3 4 Emmons, Robert A.; Crumpler, Cheryl A. (2000). "Gratitude as a Human Strength: Appraising the Evidence". Journal of Social and Clinical Psychology. 19 (1): 56–69. doi:10.1521/jscp.2000.19.1.56.
- 1 2 Manela, Tony (2019). Zalta, Edward N. (biên tập). "Gratitude". Stanford Encyclopedia of Philosophy. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2024.
- ↑
- Wood, A. M.; Maltby, J.; Stewart, N.; Linley, P. A.; Joseph, S. (2008). "A social-cognitive model of trait and state levels of gratitude" (PDF). Emotion. 8 (2): 281–290. doi:10.1037/1528-3542.8.2.281. PMID 18410201. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018.
- McCullough, Michael E.; Tsang, Jo-Ann; Emmons, Robert A. (2004). "Gratitude in Intermediate Affective Terrain: Links of Grateful Moods to Individual Differences and Daily Emotional Experience". Journal of Personality and Social Psychology. 86 (2). American Psychological Association (APA): 295–309. doi:10.1037/0022-3514.86.2.295. ISSN 1939-1315. PMID 14769085.
- ↑ Walker, A. D. M. (1981). "Gratefulness and Gratitude". Proceedings of the Aristotelian Society. 81. Oxford University Press: 43–44. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 McCullough, M. E.; Tsang, J.; Emmons, R.A. (2004). "Gratitude in Intermediate affective terrain: Links of grateful moods with individual differences and daily emotional experience". Journal of Personality and Social Psychology. 86 (2): 295–309. doi:10.1037/0022-3514.86.2.295. PMID 14769085.
- 1 2 Desteno, D.; Bartlett, M.Y.; Baumann, J.; Williams, L.A.; Dickens, L. (2010). "Gratitude as moral sentiment: Emotion-guided cooperation in economic exchange". Emotion. 10 (2): 289–93. doi:10.1037/a0017883. PMID 20364907.
- ↑ Hohmann, G.W. (1966). "Some Effects of Spinal Cord Lesions on Experienced Emotional Feelings". Psychophysiology. 3 (2): 143–156. doi:10.1111/j.1469-8986.1966.tb02690.x. PMID 5927829.
- ↑ McCullough, M.E.; Emmons, R.A.; Tsang, J. (2002). "The grateful disposition: A conceptual and empirical topography". Journal of Personality and Social Psychology. 83 (1): 112–127. doi:10.1037/0022-3514.82.1.112. PMID 11811629.
- 1 2 Emmons, Robert A.; McCullough, Michael E. "Highlights from the Research Project on Gratitude and Thankfulness". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2010.
- ↑ Calvin, John (1845) [1557]. "Commentary Upon Psalm VI". Commentary on the Book of Psalms. Quyển 1. Anderson, James biên dịch. Edinburgh: Calvin Translation Society. tr. 70.
- 1 2 3 Emmons, Robert A.; Kneezel, Teresa T. (2005). "Giving Gratitude: Spiritual and Religious Correlates of Gratitude". Journal of Psychology and Christianity. 24 (2): 140–48.
- ↑ Allport, Gordon Willard (1950). The Individual and His Religion: A Psychological Interpretation. Macmillan.
- ↑ Edwards, Jonathan (1959). A Treatise Concerning Religious Affections . Grand Rapids, MI: Baker Books. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2025.
- ↑ Samuels, P.A.; Lester, D. (1985). "A preliminary investigation of emotions experienced toward God by Catholic nuns and priests". Psychological Reports. 56 (3): 706. doi:10.2466/pr0.1985.56.3.706. S2CID 144205296.
- ↑ Pope Francis, Laudato si', paragraph 213, published 24 May 2015, accessed 14 May 2024
- ↑ Seiss, Joseph A. (1896). "The Liturgical Question". The Quarterly Review of the Evangelical Lutheran Church (bằng tiếng Anh). 26: 318.
- 1 2 3 Wood, Alex; Joseph, Stephen; Linley, Alex (tháng 1 năm 2007). "Gratitude — Parent of all virtues". The Psychologist. 20 (1): 18–21. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "How Cultural Differences Influence Gratitude Development". linnk.ai (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Altakhaineh, Abdel Rahman Mitib; Younes, Afakh Said; Allawama, Ashraf (ngày 31 tháng 12 năm 2024). "A corpus-driven study of gratitude in English acknowledgements by Arabic-speaking MA students: constructing L2 academic writer identity". Cogent Arts & Humanities (bằng tiếng Anh). 11 (1). doi:10.1080/23311983.2024.2346361. ISSN 2331-1983.
- ↑ Bale, Richard; Pazio Rossiter, Monika (ngày 3 tháng 7 năm 2023). "The role of cultural and linguistic factors in shaping feedback practices: the perspectives of international higher education teaching staff". Journal of Further and Higher Education (bằng tiếng Anh). 47 (6): 810–821. doi:10.1080/0309877X.2023.2188179. ISSN 0309-877X.
- ↑
- Emmons, Robert A.; McCullough, Michael E.; Tsang, Jo-Ann (2003). "The assessment of gratitude.". Trong Lopez, Shane J.; Snyder, C.R. (biên tập). Positive psychological assessment: A handbook of models and measures (bằng tiếng Anh). Washington: American Psychological Association. tr. 327–341. doi:10.1037/10612-021. ISBN 978-1-55798-988-8. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2023.
- Emmons, Robert A.; Froh, Jeffrey; Rose, Rachel (2019). "Gratitude.". Trong Gallagher, Matthew W.; Lopez, Shane J. (biên tập). Positive psychological assessment: A handbook of models and measures (2nd ed.) (bằng tiếng Anh). Washington: American Psychological Association. tr. 317–332. doi:10.1037/0000138-020. ISBN 978-1-4338-3107-2. S2CID 239359085. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2023.
- 1 2 Wood, Alex M.; Maltby, John; Stewart, Neil; Joseph, Stephen (2008). "Conceptualizing gratitude and appreciation as a unitary personality trait" (PDF). Personality and Individual Differences. 44 (3): 619–630. doi:10.1016/j.paid.2007.09.028. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011.
- 1 2 McCullough, M.E.; Emmons, R.A.; Tsang, J. (2002). "The grateful disposition: A conceptual and empirical topography". Journal of Personality and Social Psychology. 82 (1): 112–127. doi:10.1037/0022-3514.82.1.112. PMID 11811629.
- ↑ Adler, M.G.; Fagley, N.S. (2005). "Appreciation: Individual differences in finding value and meaning as a unique predictor of subjective well-being". Journal of Personality. 73 (1): 79–114. doi:10.1111/j.1467-6494.2004.00305.x. PMID 15660674. S2CID 41593682.
- ↑ Watkins, P.C.; Woodward, K.; Stone, T.; Kolts, R.L. (2003). "Gratitude and happiness: Development of a measure of gratitude, and relationships with subjective well-being". Social Behavior and Personality. 31 (5): 431–451. doi:10.2224/sbp.2003.31.5.431.
- ↑ 'Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ' - nỗi niềm người lính hậu chiến
- ↑ Sheldon, Kennon M.; Kashdan, Todd B.; Steger, Michael F. (ngày 31 tháng 1 năm 2011). Designing Positive Psychology: Taking Stock and Moving Forward. Oxford University Press. tr. 249. ISBN 978-0-19-045187-5.
- ↑ Cregg, D.R.; Cheavens, J.S. (2020). "Gratitude Interventions: Effective Self-help? A Meta-analysis of the Impact on Symptoms of Depression and Anxiety". Journal of Happiness Studies. 22: 413–445. doi:10.1007/s10902-020-00236-6. S2CID 214194583.
- 1 2 Wood, A.M.; Joseph, S.; Maltby, J. (2008). "Gratitude uniquely predicts satisfaction with life: Incremental validity above the domains and facets of the Five-Factor Model" (PDF). Personality and Individual Differences. 45: 49–54. doi:10.1016/j.paid.2008.02.019. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Kashdan, T.B.; Uswatte, G.; Julian, T. (2006). "Gratitude and hedonic and eudaimonic well-being in Vietnam War veterans". Behaviour Research and Therapy. 44 (2): 177–199. doi:10.1016/j.brat.2005.01.005. PMID 16389060.
- ↑ Watkins, P.C.; Woodward, K.; Stone, T.; Kolts, R.L. (2003). "Gratitude and Happiness: Development of a Measure of Gratitude, and Relationships with Subjective Well-Being". Social Behavior & Personality. 31 (5): 431. doi:10.2224/sbp.2003.31.5.431.
- 1 2 Wood, A.M.; Joseph, S.; Maltby, John (2009). "Gratitude predicts psychological well-being above the Big Five facets" (PDF). Personality and Individual Differences. 45: 655–660. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011.
- 1 2 Wood, A.M.; Joseph, S.; Linley, P.A. (2007). "Coping style as a psychological resource of grateful people" (PDF). Journal of Social and Clinical Psychology. 26 (9): 1108–1125. doi:10.1521/jscp.2007.26.9.1076. hdl:1893/12157. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Wood, A.M.; Joseph, S.; Lloyd, J.; Atkins, S. (2009). "Gratitude influences sleep through the mechanism of pre-sleep cognitions" (PDF). Journal of Psychosomatic Research. 66 (1): 43–48. doi:10.1016/j.jpsychores.2008.09.002. PMID 19073292. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011.
- ↑ Park, Yoobin; Impett, Emily A.; MacDonald, Geoff; Lemay, Edward P. Jr. (ngày 31 tháng 1 năm 2019). "Saying 'thank you': Partners' expressions of gratitude protect relationship satisfaction and commitment from the harmful effects of attachment insecurity". Journal of Personality and Social Psychology. 117 (4): 773–806. doi:10.1037/pspi0000178. PMID 30702317. S2CID 73413341.
- ↑ Wood, A. M.; Joseph, S.; Linley, P. A. (2007). "Gratitude: The parent of all virtues" (PDF). The Psychologist. 20: 18–21. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009.
- ↑ Wood, A.M.; Maltby, J.; Gillett, R.; Linley, P.A.; Joseph, S. (2008). "The role of gratitude in the development of social support, stress, and depression: Two longitudinal studies" (PDF). Journal of Research in Personality. 42 (4): 854–871. doi:10.1016/j.jrp.2007.11.003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009.
- 1 2 Fritz, Megan M.; Armenta, Christina N.; Walsh, Lisa C.; Lyubomirsky, Sonja (tháng 3 năm 2019). "Gratitude facilitates healthy eating behavior in adolescents and young adults". Journal of Experimental Social Psychology. 81: 4–14. doi:10.1016/j.jesp.2018.08.011. ISSN 0022-1031. S2CID 52241900.
- ↑ Croke, Lisa (ngày 29 tháng 10 năm 2019). "Cultivating gratitude can lead to mental, physical, and work-related benefits". AORN Journal. 110 (5): P5. doi:10.1002/aorn.12871. PMID 31660603. S2CID 204952967.
- ↑
- Redwine, Laura S.; Henry, Brook L.; Pung, Meredith A.; Wilson, Kathleen; Chinh, Kelly; Knight, Brian; Jain, Shamini; Rutledge, Thomas; Greenberg, Barry; Maisel, Alan; Mills, Paul J. (tháng 7 năm 2016). "Pilot Randomized Study of a Gratitude Journaling Intervention on Heart Rate Variability and Inflammatory Biomarkers in Patients With Stage B Heart Failure". Psychosomatic Medicine. 78 (6): 667–676. doi:10.1097/psy.0000000000000316. ISSN 1534-7796. PMC 4927423. PMID 27187845.
- Mills, Paul J.; Redwine, Laura; Wilson, Kathleen; Pung, Meredith A.; Chinh, Kelly; Greenberg, Barry H.; Lunde, Ottar; Maisel, Alan; Raisinghani, Ajit; Wood, Alex; Chopra, Deepak (tháng 3 năm 2015). "The role of gratitude in spiritual well-being in asymptomatic heart failure patients". Spirituality in Clinical Practice. 2 (1): 5–17. doi:10.1037/scp0000050. ISSN 2326-4519. PMC 4507265. PMID 26203459.
- Gallagher, Stephen; Solano, Alejandro Castro; Liporace, Mercedes Fernández (tháng 7 năm 2020). "State, but not trait gratitude is associated with cardiovascular responses to acute psychological stress". Physiology & Behavior. 221 112896. doi:10.1016/j.physbeh.2020.112896. hdl:10344/8896. ISSN 0031-9384. PMID 32251630. S2CID 214788940.
- ↑ Carey, J.R.; Clicque, S.H.; Leighton, B.A.; Milton, F. (1976). "A test of positive reinforcement of customers". Journal of Marketing. 40 (4): 98–100. doi:10.1177/002224297604000413. S2CID 167486513.
- ↑ Rind, B.; Bordia, P. (1995). "Effect of server's "Thank you" and personalization on restaurant tipping". Journal of Applied Social Psychology. 25 (9): 745–751. doi:10.1111/j.1559-1816.1995.tb01772.x.
- ↑ Greenberg, M.S. (1980). "A theory of indebtedness". Trong Gergen, K.J.; Greenberg, M.S.; Wills, R.H. (biên tập). Social exchange: Advances in theory and research. New York: Plenum.
- ↑
- Watkins, P.C.; Scheer, J.; Ovnicek, M.; Kolts, R. (2006). "The debt of gratitude: Dissociating gratitude and indebtedness". Cognition and Emotion. 20 (2): 217–241. doi:10.1080/02699930500172291. S2CID 145350764.
- Tsang, J.A. (2006).[cần chú thích đầy đủ]
- ↑ Wang, Ke; Rees, Vaughan W.; Dorison, Charles A.; Kawachi, Ichiro; Lerner, Jennifer S. (ngày 9 tháng 7 năm 2024). "The role of positive emotion in harmful health behavior: Implications for theory and public health campaigns". Proceedings of the National Academy of Sciences. 121 (28) e2320750121. Bibcode:2024PNAS..12120750W. doi:10.1073/pnas.2320750121. ISSN 0027-8424. PMC 11252813. PMID 38950367.
- ↑ Lucius Annaeus Seneca (Trẻ), De Beneficiis quyển III, phần XVII
- ↑ Elmer Wheeler, Bí quyết thành công trên đường đời, biên dịch: Vương Đăng, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Thanh Hóa, năm 2004, trang 142
- ↑ David Dunn, Sống vì mọi người, biên dịch: Nguyễn Kim Dân – NNT, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội, năm 2008, trang 108
- ↑ David Dunn, Sống vì mọi người, biên dịch: Nguyễn Kim Dân – NNT, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội, năm 2008, trang 29
Tham khảo
- DeSteno, David (2018). Emotional Success: The Power of Gratitude, Compassion, and Pride. Eamon Dolan/Houghton Mifflin Harcourt. ISBN 978-0-544-70310-0. Description & contents, summarizing scientific studies.
- Emmons, Robert A. (2016). The Little Book of Gratitude: Create a Life of Happiness and Well-Being By Giving Thanks. London: Gaia. ISBN 978-1-85675-365-4.
- Emmons, Robert A. (2013). Gratitude Works! A Twenty-One-Day Program for Creating Emotional Prosperity. San Francisco: John Wiley & Sons. ISBN 978-1-118-13129-9.
- Emmons, Robert A. (2007). Thanks! How the New Science of Gratitude Can Make You Happier. Boston, Mass.: Houghton Mifflin Harcourt. ISBN 978-0-618-62019-7.
- Emmons, R.A.; Hill, J. (2001). Words of gratitude for mind, body, and soul. Radnor, Penn.: Templeton Foundation Press.
- Emmons, Robert A. (1999). The Psychology of Ultimate Concerns: Motivation and spirituality in personality. New York: Guilford Press. ISBN 978-1-57230-456-7.
- Kenner, Ellen (2020). "How to Savor Gratitude and Disarm 'Gratitude Traps'". The Objective Standard. 15 (2). Glen Allen Press: 13–22.
- Nelson, Kristi (2020). Wake Up Grateful: The Transformative Practice of Taking Nothing for Granted. Storey Publishing, LLC. ISBN 978-1-63586-244-7.
Liên kết ngoài
- Tổng thống Ukraine bày tỏ biết ơn tân Thủ tướng Anh Starmer (Báo Tiền Phong)
- Tân Thủ tướng Anh cam kết ủng hộ Ukraine (Báo Dân Trí)
Bài viết này cần có thêm thể loại hoặc cần được xếp vào các thể loại cụ thể hơn. (tháng 2/2026) |