Làng Hới
| Hới Hải Triều Hải Hồ Hải Thị | |
|---|---|
| — Làng — | |
Tọa độ: 20°38′46″B 106°8′36″Đ / 20,64611°B 106,14333°Đ (Đình làng Hới) | |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Tỉnh | Thái Bình |
| Huyện | Hưng Hà |
| Xã | Tân Lễ |
| Thôn | Hải Triều |
Làng Hới (tên chính thức Hải Triều, tên cũ Hải Hồ, Hải Thị, đôi khi được gọi là làng chiếu Tân Lễ) là một làng nghề dệt chiếu cói ở Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình, Việt Nam. Nhờ vị trí gần ngã ba sông, nhiều bãi bồi thuận lợi cho nguồn cói và đay, nghề dệt chiếu tại đây hình thành sớm, được cho là từ thời Nhà Tiền Lê–Nhà Lý, phát triển mạnh từ thời trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (1457–1531, Hậu Lê) và trở thành một trong những làng dệt chiếu có tên tuổi ở đồng bằng sông Hồng.[1] Làng Hới cũng gắn với câu vè dân gian “Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới” và là điểm đến trải nghiệm làng nghề của du khách khi đến Thái Bình.[2][3]
Lịch sử
Là một làng cổ hình thành ít nhất từ thời Nhà Tiền Lê, làng Hới trải qua nhiều giai đoạn hành chính:
- Từ thời Lê sơ, làng thuộc huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (sau đổi thành "Tiên Hưng" vì kỵ húy vua Lê Kính Tông).[4]
- Thời Nguyễn mạt–Pháp thuộc, làng thuộc xã Hải An, tổng Tang Giá (huyện cũ Quỳnh Côi).[5]
- Hiện nay, làng là một phần của thôn Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.[6]
Chữ Hới và Hải trong tiếng Hán cùng viết bằng chữ 海 khi ghi chép,[7] nên đa số tên gọi khác của làng Hới đều có chữ Hải: Hải Hồ, Hải Thị và hiện tại là Hải Triều.[8]
Làng Hới nằm gần ngã ba sông, nơi sông Hồng có chi lưu là sông Luộc. Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi gọi là sông Nông Kỳ, một trong ba kỳ quan của trấn Sơn Nam thời xưa.[4] Nhờ vị trí thuận lợi để trồng nguyên liệu và giao thương, người dân sớm học nghề dệt chiếu và hình thành làng nghề. Từ thế kỷ 15, nhờ trạng nguyên Phạm Đôn Lễ học hỏi nghề dệt chiếu từ Trung Quốc, nghề ở làng Hới phát triển mạnh, trở thành sản phẩm thủ công nổi tiếng của đồng bằng sông Hồng.[9]

Về sau, khu vực huyện Hưng Nhân xung quanh làng Hới trở thành vùng dệt chiếu đông đúc với tới 20 làng chuyên dệt. Sách Đại Nam nhất thống chí của nhà Nguyễn ghi: "Chiếu trơn xã Thanh Triều, Hải Triều (làng Hới) huyện Hưng Nhân sản xuất tốt hơn cả",[10] và thế kỷ 18, thương gia nhà Thanh (Trung Quốc) qua vùng chiếu làng Hới thu gom rất nhiều.[9] Đầu thế kỷ 19, qua tay thương gia người Hoa, chiếu cói làng Hới được đưa đi Hương Cảng (Hồng Kông) và một số nước châu Âu.[11]
Đến thời Pháp thuộc, nhiều người nước ngoài, đặc biệt là người Hoa, đến khu vực Tân Lễ đầu tư mở xưởng chiếu cùng người Việt; sản phẩm làm ra đưa về bán ở Trung Quốc.[10] Chiếu xuất đi Trung Quốc thời kỳ này là chiếu cuộn dài hẹp, có độ dài tới 35 m. Các xưởng do người Hoa quản lý thu hút 500–700 lao động, sản lượng dao động từ 5.000 cuộn đến 24.000 cuộn (tương đương 84.000 m).[11] Dù nhiều làng cùng làm chiếu, làng Hới vẫn có tiếng nhất trong khu vực sản xuất chiếu ở Thái Bình.[9]
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các xưởng dệt chiếu của người nước ngoài ngưng hoạt động, nghề dệt chiếu tại làng Hới vẫn phát triển do chiếu là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của người Việt giai đoạn này.[9] Làng Hới sau đó trải qua thời kỳ suy thoái ở thời bao cấp (1955–1985), khi thợ dệt chiếu Hới sản xuất theo mô hình hợp tác xã. Do chính sách sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch chú trọng số lượng, chất lượng chiếu Hới giai đoạn này giảm sút đáng kể.[12]

Từ 1986–1990, theo chính sách kinh tế Đổi Mới, nghề chiếu ở làng Hới được tái thiết, phát triển và mở rộng hơn trước.[9]
Đến năm 2010, tại làng Hới nói riêng và khu vực sản xuất chiếu lân cận nói chung, giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, cư dân làng Hới và toàn xã Tân Lễ chủ yếu sống nhờ nghề dệt chiếu. Thông thường, trong một năm, các nhà nghề tập trung sản xuất với cường độ cao khoảng 8 tháng, thời gian còn lại dành cho sản xuất nông nghiệp. Do đó, nhiều hộ vẫn nhận ruộng trồng lúa, nhưng phần lớn thuê lao động từ những người không theo nghề chiếu hoặc từ nơi khác.[9]
Năm 2011, toàn vùng huyện Hưng Hà (gồm làng Hới) sản xuất khoảng 5,4 triệu tấm chiếu, với khoảng 21 làng nghề dệt chiếu được chính quyền sở tại công nhận.[10] Riêng xã Tân Lễ, trong 3.500 hộ toàn xã có tới 80% hộ sở hữu xưởng sản xuất chiếu; 10/14 thôn là làng nghề dệt chiếu, tổng tiêu thụ mỗi năm 8.000 tấn cói.[13][14] Đến năm 2023, số hộ làm chiếu trong cả xã Tân Lễ là 29 hộ với 90 máy dệt chiếu cói, thu hút 420 lao động; 8 cơ sở dệt chiếu Nilon với 310 máy, tạo việc làm cho trên 1.000 người trong xã và từ địa phương khác.[15] Năm 2024, xã Tân Lễ ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế 9,5%; các con số về cơ sở dệt chiếu cói và nilon tiếp tục được duy trì như trên.[16]
Nghề dệt chiếu làng Hới
Nghề dệt chiếu làng Hới nổi tiếng, đi vào văn học dân gian với các câu vè:[17]
Chiếu Hới, vải Bơn, lụa Mẹo.
Ăn cơm Hom.Nằm giường Hòm.Đắp chiếu Hới.
Sơ lược phát triển

Với vị trí thuận lợi để trồng nguyên liệu và giao thương, người dân nơi đây sớm học nghề dệt chiếu và phát triển thành làng nghề truyền thống, theo truyền thuyết là từ thời Nhà Tiền Lê–Nhà Lý. Tuy nhiên ban đầu, làng chỉ dệt chiếu bằng phương pháp thủ công với bàn dệt đứng, không có ngựa đỡ sợi; cách dệt đơn giản nên sản phẩm chưa đẹp và bền.[9][18][19]
Bước ngoặt quan trọng đưa nghề dệt chiếu Hới lên tầm cao mới diễn ra vào thế kỷ 15 khi Phạm Đôn Lễ, người làng Hới, đỗ trạng nguyên năm 1481 thời vua Lê Thánh Tông, sau được cử đi sứ nhà Minh (Trung Quốc). Tại Ngọc Hà, châu Quế Lâm, Quảng Tây, ông tiếp thu kỹ thuật dệt chiếu nằm tiên tiến hơn.[20] Sau khi về nước, Phạm Đôn Lễ truyền dạy và cải tạo quy trình dệt chiếu cho dân làng Hới: từ kỹ thuật dệt đứng chuyển sang dệt nằm, có ngựa đỡ sợi.[21][22] Do công lao này, ông còn được gọi là Trạng Chiếu và được tôn thờ như tổ nghề trong làng; làng Hới cũng được xem là làng nghề chiếu duy nhất có tổ nghề ở Việt Nam.[19][22]
Từ đây, kỹ thuật dệt chiếu của người dân Hới có bước tiến lớn; sản phẩm đẹp và bền hơn, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng và ngày càng được ưa chuộng. Nghề dệt chiếu truyền thống của làng Hới nhờ đó phát triển mạnh, làm nên tên tuổi và trở thành một trong những mặt hàng thủ công được ưa dùng từ sinh hoạt đến cung đình, lễ hội trong cả nước.[9]
Hoạt động dệt chiếu
Cói và sợi đay là hai nguyên liệu chính để làm chiếu Hới. Đây là các loại cây dễ trồng ở vùng gần sông nước, nơi có nhiều phù sa bồi đắp. Làng Hới nằm giữa hai con sông lớn là sông Hồng và sông Luộc, có thổ nhưỡng thích hợp để trồng những cây này; vị trí đó cũng tạo thuận lợi trong giao thương mua bán nguyên liệu, phẩm màu dệt chiếu.[9] Nguồn cói trước kia chủ yếu trồng tại địa phương, mua từ Thanh Hóa hoặc các huyện trồng cói lân cận.[23] Hiện nay, do nhiều vùng trồng cói truyền thống không còn, nguyên liệu được thu gom từ những nơi xa hơn như miền Nam Việt Nam.[14]
Sau khi thu hoạch hoặc mua về, cói được đưa vào quy trình sản xuất chiếu. Để làm ra một chiếc chiếu hoàn chỉnh, cói phải qua nhiều bước: gặt, tùy loại chiếu mà nhuộm màu phù hợp (hoặc để cói trắng), sau đó phơi khô, làm sạch, tuyển lựa và se sợi trước khi dệt.[9][24] Kỹ thuật se sợi đay và cói của làng Hới được đánh giá cao, ít nơi khác theo kịp về chất lượng.[20]

Sau khi chuẩn bị xong nguyên liệu là công đoạn dệt chiếu. Công cụ thủ công để dệt chiếu là khung dệt gồm sáu phần liên kết với nhau qua những đường trân. Cọc nêm (trụ đứng, nọc) nối với đòn ngang để treo sợi dọc; đòn ém (đòn giàn, đòn ngang, suốt ngang) để kéo căng sợi dọc từ đòn bên này qua khung sang đòn bên kia; đòn kê (ngựa gỗ nằm đỡ sợi) dài bằng rộng chiếu, đặt cố định đỡ sợi dọc; khung dạo là bộ phận quan trọng nhất, làm từ gỗ dày 5–6 cm, dài bằng chiều rộng chiếu.[19] Khung này tạo mặt sợi dọc và chia đôi sợi khi khung ở tư thế sấp/ngửa để đưa sợi ngang vào và siết chặt; cây văng que (cây chuồi sợi, que chao) là thoi dài khoảng 2 mét, đầu nhọn để quấn sợi dùng luồn sợi dệt. Ngoài ra còn có xơ dầu làm từ sợi đay, dùng bôi dầu lên sợi cho trơn và không đứt khi dệt.[19]
Trước khi dệt, thợ phải rũ, đảo cói và mắc sợi đay lên khung tạo mặt. Khi dệt cần hai người (một xếp cói, một dệt), có thể thay đổi vị trí.[19] Hai người phối hợp nhịp nhàng: khi người dệt điều chỉnh cây về tư thế ngửa thì người xếp xếp phần gốc cọng, và ngược lại khi cây ở tư thế sấp thì xếp phần ngọn cọng. Cứ như vậy cho đến khi hoàn thành chiếc chiếu. Đó là quy trình cơ bản của chiếu trơn; với mỗi loại chiếu khác nhau, kỹ thuật dệt và chuẩn bị nguyên liệu có khác biệt.[19] Với dệt máy công nghiệp, có thể chỉ cần một người đứng máy, nhưng vẫn đủ các khâu và công cụ như dệt tay.
Chiếu cói sau khi dệt xong đúng kích thước sẽ được cắt bỏ sợi thừa, phơi nắng rồi buộc chặt (hoặc may viền) để tăng độ bền. Lúc này, chiếu có thể đưa ra thị trường hoặc mang đi vẽ/in màu để tăng tính thẩm mỹ.[24]
Chiếu Hới đa dạng về loại hình: chiếu cài hoa, chiếu trơn, chiếu sợi xe; trong đó có những loại riêng biệt như chiếu Gon, chiếu Nảy.[23][25] Ngoài ra, các nghệ nhân nhiều kinh nghiệm có thể dệt nhiều mẫu hoa văn như hoa, chữ thọ, chữ lồng và họa tiết phức tạp khác.[26][27]
Đặc điểm sản phẩm
Chiếu làng Hới khi mới mua có sợi mịn, trắng ngà, có mùi thơm tự nhiên của cói; kỹ thuật làm biên chiếu có nét riêng so với các làng khác. Ngoài để nằm, ngồi, chiếu còn có thể dùng để đắp giữ ấm.[2][28] Khi sử dụng lâu ngày, chiếu chuyển sang màu vàng, mềm mại, thoáng, dễ làm sạch, thoát nước và khô nhanh.[14] Năng suất hiện nay tăng mạnh nhờ cơ giới hóa: dệt tay truyền thống chỉ đạt khoảng 1–2 chiếu/ngày (2 thợ), trong khi dệt máy có thể đạt tới 20–40 chiếu/ngày tùy cơ sở.[14][24]
Bảo tồn và thách thức hiện nay
Cùng với phát triển kinh tế, làng Hới đang đối mặt các thách thức bảo tồn nghề thủ công truyền thống. Báo Lao Động năm 2023 ghi nhận ở làng chỉ còn vài người gắn với dệt tay truyền thống, đa số đã chuyển sang dệt máy và dệt nilon để đáp ứng thị trường.[29] Song song, địa phương và người dân chủ động đổi mới, áp dụng máy móc, đa dạng mẫu mã, kết nối tiêu thụ; báo Thái Bình cho biết chiếu Hới đã xuất bán trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài, là hướng làm giàu của nhiều hộ.[15]
Bên cạnh đó, quá trình tái chế sợi moi (nylon thừa) trong sản xuất chiếu nhựa từng gây ô nhiễm không khí cục bộ tại Tân Lễ; chính quyền đã kiểm tra, yêu cầu ký cam kết bảo vệ môi trường, tuy nhiên tình trạng phát sinh vẫn được người dân phản ánh theo từng thời điểm.[30] Ở chiều tích cực, địa phương định hướng gắn sản phẩm OCOP, phát triển du lịch trải nghiệm để nâng giá trị làng nghề.[16][31]
Hoạt động giao thương chiếu và lễ hội

Từ xưa, việc giao thương chiếu của làng Hới chủ yếu qua các chợ gần làng. Tại đây, chiếu được thu gom rồi tiêu thụ khắp cả nước. Tương truyền chiếu làng Hới từng là vật phẩm tiến vua.[32]
Việc mua chiếu Hới ở chợ đã trở thành một nét văn hóa dân gian địa phương. Tiêu biểu là hội chiếu làng Hới diễn ra định lệ từ ngày mồng 6 (được cho là ngày mất của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ) đến mùng 9 tháng giêng âm lịch; làng tổ chức lễ tế Tổ nghề và thi dệt chiếu giữa các giáp trong sân đình, coi như điềm may đầu năm và là thước đo danh tiếng nghề.[11][33][34] Đầu xuân, du khách thường mua chiếu như một phong tục cầu may; làng tổ chức phiên chợ chiếu xuân sau Tết Nguyên Đán.[11]
Nhân vật nổi tiếng
- Nguyễn Thị Lộ (1400 (?)–1442), nữ quan triều Hậu Lê, vợ lẽ Nguyễn Trãi, liên quan đến vụ án Lệ Chi viên.[35]
- Phạm Đôn Lễ (1457–1531), trạng nguyên đỗ đầu tam khoa triều Lê Thánh Tông, làm quan đến chức thượng thư; có công giúp dân làng phát triển nghề dệt chiếu. Danh hiệu trong dân gian hay gọi Tam Nguyên Đôn Lễ hay Trạng Chiếu.[1]
- Đặng Ất (1494–?), đỗ tiến sĩ năm Quang Thiệu thứ 3 (vua Lê Chiêu Tông, 1518), làm đến chức Giám sát Ngự sử. Sau khi nhà Mạc cướp ngôi Lê sơ, ông không phục tân triều nên bị vua Mạc Thái Tổ giết.[36][37]
Di sản
Thống kê đầu thập niên 1930, làng có hai đình, một miếu và một chùa.[5]
- Đình thần làng thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng[5] và phối thờ Phúc Thần–Tổ nghề chiếu là ông Phạm Đôn Lễ.[38]
- Miếu thờ bà Nguyễn Thị Lộ, đối diện với đình làng.[35]
- Chùa Hới.[39]
Chú thích
- 1 2 Nhóm PV VOV (ngày 17 tháng 11 năm 2021). "Nét độc đáo riêng của chiếu cói làng Hới, Thái Bình". Báo Điện tử VOV. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 Nhóm PV VOV2 (ngày 13 tháng 4 năm 2018). ""Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới"". Báo Điện tử VOV. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ Nguyễn Hồng Sơn (ngày 7 tháng 2 năm 2025). "Về Thái Bình thăm làng Hới, khám phá nghề dệt chiếu trăm năm". Báo Quảng Ninh. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 Quang Viện (ngày 30 tháng 5 năm 2022). "Cổ nhân cổ nghệ". Báo Thái Bình điện tử. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 3 Ngô Vi Liễn (1999). Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc kỳ: tuyển tập các công trình địa chí Việt Nam. Tuyển tập các công trình địa chí Việt Nam. Nhà xuất bản Văn Hóa–Thông Tin. tr. 932–933.
- ↑ Hội đồng Nhân dân Tỉnh Thái Bình. "Nghị quyết 53/NQ-HĐND năm 2019 về sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố; giải thể thôn; đổi tên tổ dân phố tại xã, phường, thị trấn thuộc huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Thái Bình" (PDF). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Ngô Vui (ngày 30 tháng 9 năm 2016). "Tản mạn chuyện chữ nghĩa". Hội đồng Họ Ngô Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2024.
- ↑ Nguyễn Thanh (2014). Nghề và làng nghề thủ công ở Thái Bình. Nhà xuất bản Văn Hóa–Thông Tin. tr. 207. ISBN 978-604-50-1517-9.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Nguyễn Thanh (ngày 9 tháng 11 năm 2023). "Hải Triều, chiếu Hới tiến vua". Sở Văn hóa–Thông tin–Du lịch Thái Bình. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 3 Nguyễn Quang Ân (2010). Từ điển Thái Bình (ấn bản thứ 2020). Nhà xuất bản Văn Hóa–Thông Tin. tr. 440–441.
- 1 2 3 4 Quang Viện (ngày 3 tháng 3 năm 2023). "Chiếu trải sân rồng". Báo Thái Bình điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2024.
- ↑ Nguyễn Thanh (2014). Nghề và làng nghề thủ công ở Thái Bình. Nhà xuất bản Văn Hóa–Thông Tin. tr. 213. ISBN 978-604-50-1517-9.
- ↑ Vương Tâm (ngày 29 tháng 12 năm 2020). "Chiếu Gon làng Hới". Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 3 4 Tuệ Bình (ngày 29 tháng 11 năm 2016). "Nghề chiếu làng Hới Thái Bình". Tạp chí Quê Hương. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 Thanh Thủy; Thanh Tùng; Phạm Thủy (ngày 11 tháng 4 năm 2023). "Chiếu làng Hới trong thời đại". Báo Thái Bình điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 Hà Lê (ngày 25 tháng 4 năm 2025). "Tinh hoa làng nghề thời hiện đại". Báo Thái Bình điện tử. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Nguyễn Thanh (2014). Nghề và làng nghề thủ công ở Thái Bình. Nhà xuất bản Văn Hóa–Thông Tin. tr. 40. ISBN 978-604-50-1517-9.
- ↑ Mai Thư (ngày 6 tháng 7 năm 2021). "Giữ nghề dệt chiếu cho làng". Sở Văn hóa–Thông tin–Du lịch Thái Bình. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 3 4 5 6 Nguyễn Thị Vân Huệ (ngày 9 tháng 6 năm 2021). "Nghề dệt chiếu thủ công truyền thống". Bảo tàng Phụ Nữ Nam Bộ. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 GS. Hoàng Văn Châu; ThS. Phạm Thị Hồng Yến; ThS. Lê Thị Thu Hà (2007). Làng nghề du lịch Việt Nam: sách chuyên khảo. Nhà xuất bản Thống Kê. tr. 95–96.
- ↑ Trần Mạnh Thường (2005). Nguyễn Minh Tiến (biên tập). Việt Nam văn hóa và du lịch. Nhà xuất bản Thông Tấn. tr. 209.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|agency=(trợ giúp) - 1 2 Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2005). Làng nghề-phố nghề xưa và nay. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. tr. 75. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2024.
- 1 2 Tất Đạt (ngày 27 tháng 5 năm 2013). "Chiếu Nẩy làng Hới một thời vang bóng". Báo Thái Bình điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- 1 2 3 Lương Hà (ngày 16 tháng 2 năm 2023). "Công phu quy trình dệt chiếu của làng nghề chiếu Hới Thái Bình". Báo Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Phạm Minh Đức (2006). Những làng văn hóa văn nghệ dân gian đặc sắc ở Thái Bình. Nhà xuất bản Văn Hóa–Thông Tin. tr. 38.
- ↑ Nhóm Phóng viên Báo điện tử Công lý (ngày 6 tháng 10 năm 2021). "Nghề dệt chiếu làng Hới". Báo điện tử Công lý. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Làng nghề dệt chiếu Hới: Nơi dệt nên những chiếc chiếu lâu đời nhất Việt Nam". Tạp chí Làng nghề Việt Nam. ngày 15 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Vương Tâm (ngày 7 tháng 8 năm 2021). "Về làng Hới". Báo Đại Đoàn Kết. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Thái Bình: Hai người phụ nữ cuối cùng gắn bó với nghề dệt chiếu thủ công". Báo Lao Động. ngày 24 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Trường Hùng (ngày 8 tháng 6 năm 2020). "Chưa có giải pháp triệt để khắc phục ô nhiễm ở làng nghề dệt chiếu Hới". Báo Phụ Nữ Việt Nam. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Hưng Hà: Sắc Xuân từ những sản phẩm OCOP". UBND huyện Hưng Hà. ngày 1 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Nguyễn Thanh (2014). Nghề và làng nghề thủ công ở Thái Bình. Nhà xuất bản Văn Hóa–Thông Tin. tr. 208. ISBN 978-604-50-1517-9.
- ↑ "Hải Triều, chiếu Hới tiến vua". UBND huyện Hưng Hà. ngày 3 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Hải Triều, chiếu Hới tiến vua". Báo Thái Bình điện tử. ngày 29 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 Khúc Hà Linh (ngày 16 tháng 3 năm 2016). "Đền thờ bà Nguyễn Thị Lộ ở đâu?". Báo Hải Dương. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Phan Huy Chú (1992). Lịch triều hiến chương loại chí. Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. tr. 415.
- ↑ Phạm Minh Đức; Bùi Duy Lan (2003). Đất Và Người Thái Bình. Sở Văn hóa–Thông tin Thái Bình. Trung tâm Unesco thông tin tư liệu lịch sử–văn hóa Việt Nam. tr. 465.
- ↑ Tiến Mạnh (ngày 31 tháng 1 năm 2021). "Viếng lăng mộ ông tổ nghề dệt chiếu Việt Nam". Báo Hải Dương. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- ↑ Minh An (ngày 16 tháng 12 năm 2019). "Thái Bình: Tưởng niệm, cầu siêu HT.Thích Thanh Quảng". Báo Giác Ngộ. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2023.
- Thái Bình
- Làng cổ Việt Nam
- Làng nghề Việt Nam
- Địa danh cổ Việt Nam
- Đồ thủ công mỹ nghệ